tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29373115
29.11.2018
Vũ Bằng
Nói có sách (6)


PHỔ BIẾN KHÁC PHỔ CẬP


Chữ “phổ” trong cả hai từ “phổ biến” và “phổ cập” đều có nghĩa là “rải khắp”.


Song “phổ biến” có nghĩa “mở rộng chung cho tất cả mọi nơi, làm cho ở tất cả mọi nơi đều có một hiệu lực hay một tác động như nhau”. Còn “phổ cập” có nghĩa “tới khắp mọi nơi, không thiếu sót chỗ nào”.


Thí dụ ta nói: “Từ bi, bác ái là chân lý phổ biến của triết lý đạo Phật” hay nói: “Ăn ngủ và bài tiết là yêu cầu sinh lý tất yếu phổ biến của muôn loài”. Hoặc về từ “phổ cập”, nói: “Yêu cầu phổ cập của nền giáo dục Việt Nam phải tới trình độ phổ thông trung học”, hay nói: “Công tác văn nghệ phải đạt được hai mục đích phổ cập và nâng cao”.


Trong câu thí dụ cuối cùng này, ta cần chú ý một chút. Tại sao không nói: “Công tác văn nghệ phải đạt được hai mục đích phổ biến và nâng cao” lại nói “phổ cập”? Nếu dùng “phổ biến”, cũng có nghĩa lắm chứ! Cũng có nghĩa khi nó chỉ muốn nói “công tác văn nghệ phải trải rộng ra tất cả mọi nơi, thí dụ trong bộ môn điện ảnh chẳng hạn, phải làm sao cho tất cả mọi người được xem tất cả các loại phim hay hiểu được vị trí của điện ảnh với dân sinh.


Song nó không đạt được ý “công tác văn nghệ phải đạt tới mức độ phù hợp với sự hiểu biết của tất cả mọi người (hay làm cho tất cả mọi người phải hiểu biết tới mức độ đó). Đó là một tiêu chuẩn, sau nâng cao lên. Ấy mới chính là phương châm của công tác văn nghệ.


Đó là những nội dung ý nghĩa mà khi đọc ta phải nên thận trọng. Hiểu sai để có ý thức sai, tức là bắt đầu có một nửa hành động sai rồi đó.


Yêu cầu của “phổ biến” là mở rộng ra cho mọi người biết, hy vọng ở họ có một phản ứng hiệu lực như nhau, song còn kết quả nhận thức của họ thế nào để họ hành động ra sao là vấn đề tùy thuộc nơi trình độ họ.


Cho nên thông thường ta nói: “Xin bạn làm ơn phổ biến giúp tôi tài liệu này”, chớ không bao giờ nói “Xin bạn làm ơn phổ cập giúp tôi…”. Vì “phổ cập” đòi hỏi một công phu và muốn thực hiện nó phải có những phương tiện.


“Phổ biến” cũng còn có khía cạnh “được mọi người công nhận” nữa. Như câu thí dụ đầu tiên “Từ bi bác ái là chân lý phổ biến của triết lý đạo Phật” còn có nghĩa “chân lý được mọi người công nhận”.


Vì thế cũng có cụm từ “phổ biến tính” tức tính chất chung mà tất cả mọi sự vật đều có, đều được chấp nhận.


Thí dụ: “Mâu thuẫn nội tại là tính phổ biến của vạn vật” (tức là tất cả mọi vật trên thế gian này đều có mâu thuẫn bên trong; chính nhờ có mâu thuẫn đó nên mới có sinh, thành, trụ, diệt).


Và cũng có cụm từ “phổ biến luận” để chỉ học thuyết cho rằng cái đặc biệt, cái cá thể không quan hệ bằng cái phổ biến, cái tập thể (univer-salisme).


Về ấn loát, ngoài các bản in trên giấy tốt hoặc có thêm màu sắc, còn có rất nhiều các bản in thường rẻ tiền để tiện phổ biến trong dân chúng, người ta gọi là “phổ biến bản”, với ý nghĩ mong được dân chúng lưu tâm nghiên cứu, mà ở Trung Hoa gọi là “dân chúng bản”.


CHỦ NGHĨA PHONG ĐẦU HAY SƠN ĐẦU?


Đọc truyện Tàu, thời đại phong kiến, ta thường thấy nói đến “Phong đầu chủ nghĩa” hay “Sơn đầu chủ nghĩa”.


Vậy Phong đầu (hay Sơn đầu) chủ nghĩa là gì?


Cũng như chữ “Sơn”, chữ “Phong” cũng có nghĩa là ngọn núi. Không phải “Phong” là “Phong hầu kiến ấp” (gọi tắt là phong kiến) như nhiều người tưởng lầm đâu.


“Phong đầu” hay “Sơn đầu chủ nghĩa” là chủ nghĩa của những kẻ cát cứ, xưng hùng xưng bá địa phương (kiểu Từ Hải đời nhà Minh, các liệt quốc thời Đông Châu hay thời đại Mười hai sứ quân ở nước ta trước đời Đinh Bộ Lĩnh. Đất đai của các lãnh chúa thường được giới hạn bởi các rặng núi, hay chính các lãnh chúa cũng hay đặt đại bản doanh tại các nơi rừng núi hiểm trở (nên mới gọi là “sơn đầu”).


Trước khi thành lập Hợp Chủng Quốc Mỹ, kiều dân nhiều nước Âu châu tụ họp thành từng vùng, hình thành các tổ chức tự trị, không ai chịu sự chỉ huy của ai, trạng thái đó cũng là trạng thái của “chủ nghĩa sơn đầu”. Mặc dù các vùng đó không có đường ranh giới nào do núi phân định.


Ngày nay, đối với những người có xu hướng biệt phái, muốn tách mình ra khỏi sự ràng buộc nào hoặc người có óc địa phương (sự kỳ thị) cũng gọi là những người có chứng bệnh “Sơn đầu chủ nghĩa”.


Xin các bạn chú ý: “Sơn đầu” là đầu núi, chớ không phải “sơn đầu” là đem sơn cái đầu đi như những người Mán Sơn Đầu miền Thượng Du nước ta.


SƠN ĐỊA CHIẾN KHÁC DU KÍCH CHIẾN RA SAO?


Vì có từ “sơn đầu” vừa nói trên, nên mới có từ “sơn cước” là chân núi (cước là chân). Miền sơn cước là miền rừng núi. Gần đây, ta lại nghe thấy nói nhiều đến một từ khác cũng bắt đầu bằng chữ sơn: Sơn địa chiến.


“Sơn địa chiến” là chiến trận miền sơn cước. Có người định nghĩa “sơn địa chiến” là một cách đánh trận miền rừng núi. Không phải.


Để cho thật rõ nghĩa, ta nên biết thêm một chút về tính chất của “sơn địa chiến”.


Sơn địa chiến cần đến kỹ thuật và phương tiện tác chiến khác hẳn với kỹ thuật miền châu thổ. Những khó khăn trong công cuộc chiến đấu miền sơn cước như sau:


a) Núi rừng hiểm trở nên trận địa phải chia cắt ra thành nhiều mảnh.


b) Giao thông liên lạc khó, vấn đề tiếp vận, trong nhiều trường hợp, là vấn đề then chốt của thắng lợi, cần thiết hơn cả kỹ thuật chiến đấu giỏi.


c) Không sử dụng được các loại xe tự động mạnh (xe tăng, thiết giáp), nhiều khi võ khí lớn chở bằng xe hay máy bay cũng thành vô tác dụng.


d) Cuối cùng, trở ngại lớn nhất cho việc hành quân là vấn đề trở ngại về khí hậu và địa hình.


Tiềm lực chiến đấu chính yếu của “sơn địa chiến” là địa phương quân đã từng quen thuộc với khí hậu và tinh thông đường sá. Họ được võ trang bằng các loại võ khí riêng, nhẹ như sơn pháo hay lựu đạn pháo v.v… Các loại cung, tên, cạm bẫy rất thích hợp với lối đánh kỳ tập làm cho đối phương vô cùng lúng túng, tiến thoái lưỡng nan, xông vào không rút ra được nữa.


Chiến thuật cơ bản của “sơn địa chiến” là du kích chiến. Nó đòi hỏi một lối đánh riêng, với một kỹ thuật riêng mà về quân sự được gọi là “sơn địa chiến cơ bản kỹ thuật”.


Như vậy, nếu định nghĩa “sơn địa chiến” là một cuộc đánh trận địa miền rừng núi là hoàn toàn chưa chính xác.


KHUYẾT ĐIỂM, NHƯỢC ĐIỂM, YẾU ĐIỂM


“Khuyết điểm” nghĩa đen là điểm thiếu sót, khiếm khuyết. Dùng vào trong công việc phê bình, khuyết điểm chỉ một hành động vì chủ quan thiếu thận trọng mà sơ suất, thiếu sót.


Thí dụ: Trong cuộc đá banh vừa rồi, đội banh của ta phân công không sát với khả năng của cầu thủ, đó là một khuyết điểm lớn nhất.


Việc phân công cho sát với khả năng của cầu thủ là một việc có thể làm được, vậy mà không làm, tức là một khuyết điểm.


Nhược điểm khác với khuyết điểm. “Nhược” là yếu “điểm” là điểm, nhược điểm là điểm yếu, kém, vì khả năng không có hay vì thói quen lâu đời không sửa được tạo ra.


Thí dụ: Tôi đọc sách rất chậm vì mắt kém, đó là một nhược điểm của tôi.


Mắt kém là vấn đề ngoài ý muốn chủ quan nên sự đọc chậm của tôi không phải là một khuyết điểm, vì tôi muốn cố gắng hơn cũng không được.


Không nên nói: “Nóng nảy là nhược điểm của tôi”; nó khác với khi nói: “Nóng nảy là một khuyết điểm của tôi”. Câu thứ nhất có nghĩa: Tôi bị tật nóng nảy lâu đời rồi. Lúc nóng biết ngay, thấy ngay, nhưng hơi chậm mất rồi vì thế luôn luôn có hối hận. Nó vượt ra ngoài ý muốn chế ngự chủ quan của tôi.


Câu thứ hai có nghĩa: Tôi ít khi nóng nảy hay có nóng nảy thì cũng kiềm chế được dễ dàng; không hiểu sao lần này tôi lại mắc sai lầm như vậy.


Sự phân biệt “nhược điểm” và “khuyết điểm” rất dễ dàng, vậy mà vẫn có nhiều người dùng nó rất bừa bãi, lắm lúc có cảm tưởng như muốn dùng khuyết thì khuyết, nhược thì nhược, cốt sao cho khỏi điệp ngữ trong câu văn là được.


“Yếu điểm” không phải điểm yếu kém tương tự như nhược điểm. “Yếu điểm” là điểm quan trọng, điểm trọng yếu.


Thí dụ: “X. là một yếu điểm quân sự”, có nghĩa X là một vị trí quân sự quan trọng, giữ được nó là bảo vệ được sự dòm ngó từ nhiều nơi, khống chế được đối phương, chớ không phải X là nơi lực lượng quân sự yếu.


“Nhược điểm” và “yếu điểm” có hai nghĩa tương phản nhau. Chữ “yếu” trong yếu điểm cũng cùng một nghĩa như chữ “yếu” trong yếu nhân, yếu lược, yếu nghĩa…


Riêng về mặt quân sự, nơi trọng yếu còn được gọi bằng từ “yếu tắc”. “Yếu tắc” là nơi hiểm, ách tắc; người ta thường dùng để chỉ chung những chỗ hiểm yếu có đồn canh, pháo đài, có sự đề phòng canh gác nghiêm mật, không cho quân đội, tàu bè và võ khí vượt qua.


Những khu quân sự cấm chụp hình, phóng họa (pictures no allowed) được gọi là “yếu tắc địa đới”. Cơ quan chỉ huy về các công tác cảnh bị ấy, hay các cơ quan chỉ huy phụ trách về việc báo động, bắn hỏa châu v.v… được gọi là “yếu tắc tư lệnh bộ”. Yếu tắc tư lệnh bộ thường được đặt bên cạnh các đơn vị biên phòng hoặc phụ trách bảo vệ miền Duyên hải.


Trong một cuộc chiến tranh, có những căn cứ quan trọng (thường gọi là các trục giao thông hay những địa điểm khống chế cao (point dominé) mà cả hai bên đều phải giành phần chiếm giữ cho mình để uy hiếp và hạn chế sự hoạt động của đối phương. Tiến hành một cuộc hành quân để thực hiện nhiệm vụ quân sự đó, ta gọi là “yếu tắc chiến”.


Trên đỉnh đồi Him Lam, mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ là “yếu tắc chiến”.


YẾU TỐ, NHÂN TỐ, NGUYÊN TỐ


“Yếu tố” là nguyên chất tất yếu để cấu thành vật thể. Nếu không có yếu tố thì không hình thành được (élément, facteur).


Thí dụ: Nước, đất, lửa, không khí là những yếu tố cấu tạo trái đất. Hay: Nếu anh không cho tôi phương tiện, tôi sẽ không có đầy đủ yếu tố để làm việc. Hoặc: Về phương diện chính trị, nắm vững quần chúng là yếu tố căn bản để thành công.


“Nhân tố” là chất mầm của một sự vật hoặc một hiện tượng nó chứa đựng nguyên nhân của sự việc sẽ tới.


Thí dụ: “Do sự phát triển của hội họa, ngày nay đã thấy xuất hiện nhiều nhân tố mới của chủ nghĩa siêu thực. Hoặc: Sự đàn áp đẫm máu các phong trào cách mạng và đồng bào là một trong những nhân tố sụp đổ hoàn toàn của chế độ Ngô Đình Diệm. “Nhân” đây là cái nhân, nguyên nhân. Nhiều người lại lầm nhân là người! Thực vậy có nhiều người hiểu lầm chữ “nhân tố” cho nhân tố là người, nguyên nhân về người (trong khi yếu tố nói về vật!) nên người ta đã nghe thấy có ông diễn thuyết hét lên: “Do nhân tố mỗi ngày mỗi đông, Nhật đã phải làm cuộc chiến tranh Đại Đông Á!” Nói như vậy là sai, không đúng.


Do nghĩa rộng của hai từ “yếu tố” và “nhân tố”, nhiều lúc ta có thể dùng lộn mà người nghe vẫn hiểu.


Thí dụ: Khi nói: “Thất bại là yếu tố của thành công”, thay vì ta nói cho rõ hơn: “Càng thất bại ta càng có nhiều yếu tố để thành công” hoặc muốn nói ngắn hơn: “Trong thất bại, đã có những nhân tố để thành công sau này”.


“Nguyên tố” ít dùng hơn hai từ trên. Nguyên tố là những vật thể không thể dùng hóa học mà phân chất ra được “corps simple”. Vàng, bạc là nguyên tố. Trước đây, khoa học đã tìm thấy 92 nguyên tố đơn trong sự cấu tạo vũ trụ(1).


Nói theo nghĩa rộng về mặt kinh tế, người ta cũng nói hay viết: “Tư bản, lao động và máy móc là ba nguyên tố của mọi sản xuất”.


Cũng có người lầm cho “nguyên tố” là yếu tố nguyên lai, đơn giản theo chiết tự và sử dụng như “nhân tố”. Điều đó không đúng.


DÙI ĐỤC CHẤM MẮM CÁY?


“Cáy” là một giống “ba khía” ở nước mặn, người miền Bắc bắt về, rửa sạch, đâm ra rồi ngâm với muối. Nước cáy ngâm muối lâu ngày tiết ra một thứ nước chấm như nước mắm, song về phẩm thì thua nước mắm cá nhiều. Nước cáy thường chỉ là một món đồ ăn cho người ít tiền, bình dân.


“Dùi đục” là một thứ chày bằng cây dùng để đóng vào cán đục để đục đẽo.


Người miền quê nói “dùi đục chấm nước cáy” để chỉ một việc gì quê mùa không biết hay không quan tâm đến sự đổi mới của xã hội, chỉ quan tâm với lối sống chất phác của mình.


Thí dụ: Các bà chê nhau: “Mẹ đó thì biết cóc gì, đồ dùi đục chấm mắm cáy ấy mà!”.


Ngạn ngữ “dùi đục chấm mắm cáy” rất được phổ biến ở miền Bắc song cũng không phải “dùi đục chấm mắm cáy” đâu, mà chính là “bồ dục chấm mắm cáy”.


Bồ dục (trái cật, trái thận) là một món ăn ngon quý lại đem chấm với nước mắm cáy mới thực biểu hiện sự quê mùa, vớ vẩn!


KINH LUÂN VÀ THAO LƯỢC KHÁC NHAU RA SAO?


Để ca tụng người tài ba, lỗi lạc, ta hay dùng tới hai chữ “kinh luân” và “thao lược”.


Thoạt đầu, người ta chỉ dùng “kinh luân” để chỉ tài ba tổ chức xếp đặt guồng máy nhà nước của các quan văn, và “thao lược” để chỉ tài điều binh khiển tướng của quan võ. Ngày nay, hình như việc phân chia ấy không còn rõ ràng gì nữa, mà những người tài giỏi nói chung đều được ca tụng là thao lược, kinh luân cả.


“Kinh luân” nghĩa đen là công việc kéo tơ. Lựa chọn để sắp xếp tơ thành từng loại là “kinh”. So từng loại tơ mà hợp lại là “luân”. Tóm lại “kinh luân” là công việc sắp xếp tơ. Công việc này coi vậy mà rất tỉ mỉ, khó khăn, phải quen tay lắm mới làm nổi không rối, không đứt. Vì tính chất của công việc như thế nên “kinh luân” mới có nghĩa bóng chỉ tài năng sắp xếp như trên.


“Thao lược” tức là “lục thao tam lược”.


Lục Thao là tên một binh thư, nguyên của Lã Vọng tức Thái Công đời nhà Châu soạn. Sách gồm 5 cuốn, nói về 6 thao là: Văn thao, Võ thao, Long thao, Hổ thao, Bác thao và Khuyển thao, tất cả đều là những chiến lược chiến thuật của binh sĩ.


Tam Lược cũng là tên một binh thư, gồm có ba cuốn, đề cập tới ba vấn đề: Tấn lược, Thoái lược và Huấn lược, nguyên tác của Hoàng Thạch Công, tức ông già trên cầu sông Dĩ. Trương Lương, đời Đông Hán, là người đầu tiên được trao tặng quyển binh thư này.


Tất cả những người có tài tùy cơ ứng biến, mưu chước hơn người đều được kể là thao lược.


DÂM Ô CÔNG KHAI VÀ XÂM PHẠM TIẾT HẠNH
KHÁC BIỆT NHAU RA SAO?


Về mặt pháp luật, nhiều ký giả thường hay lầm hai tội “dâm ô công khai” và “xâm phạm tiết hạnh”. Một số người khác lại cho là hai tội này giống nhau.


Tội “công khai dâm ô”, tiếng Pháp gọi là outrage public à la pudeur.


Tội “xâm phạm tiết hạnh”, tiếng Pháp gọi là attentat à la pudeur.


Hai tội phạm này khác hẳn nhau.


“Công khai dâm ô”, theo ông Duy Ninh lý giải là khi nào làm một việc tục tĩu một cách công khai. Tòa án Sơ thẩm Tiểu hình thường xử phạt những kẻ làm những việc tục tĩu ngoài đường hay trong các công viên. Cũng sẽ bị kết vào tội phạm này, những kẻ nào dùng các nơi công cộng để làm phòng ngủ, thí dụ dùng rạp chiếu bóng để “lấy” nhau chẳng hạn.


Tội “xâm phạm tiết hạnh” nặng hơn và được pháp luật định là một trọng tội và như vậy, tội này sẽ thuộc phạm vi xét xử của tòa Đại hình. Xâm phạm tiết hạnh là khi nào mình làm một việc tục tĩu với một người khác có hay không có sự bạo hành.


Theo điều 300 của Bộ hình luật Canh cải thì xưa tội công khai dâm ô sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm và một món tiền vạ từ 16 đến 200 quan. Hiện nay những tội trạng trên được căn cứ vào “Bộ Luật Hình Sự” để thực hiện xét xử.


Theo đấy thì chỉ cấu thành tội phạm dâm ô khi nào có tính cách công khai. Sự công khai được quan niệm dưới hai hình thức.


a) Làm việc tục tĩu ở một nơi công cộng.


b) Làm việc tục tĩu ở một nơi tư riêng song người ngoài có thể thấy dễ dàng hoặc vì vị trí nơi đó hoặc vì không đề phòng, giấu giếm.


Những nơi được xem là công cộng: Đường sá, công viên, một nơi có thể công cộng vài giờ trong một ngày như trà thất, tửu quán, rạp hát…


Về những sự dâm ô trong xe cộ thì án lệ đã phân biệt:


- Nếu là xe ô tô buýt thì hẳn là nơi công cộng rồi. Còn nếu là xe ô tô nhà thì là xe riêng mặc dù đang chạy nơi công lộ.


Nếu những người trong xe làm việc tục tĩu nhưng đã có ý che khuất không cho ai thấy thì tính cách công cộng không có. Trái lại, nếu không có đề phòng để kẻ khác nhòm vào thấy được thì là phạm tội công khai dâm ô. Nói chung đều là hành vi xấu, cần lên án.


Xâm phạm tiết hạnh được phân ra làm hai trường hợp:


a) Xâm phạm tiết hạnh không bạo hành (attentat à la pudeure sans violence).


b) Xâm phạm tiết hạnh với sự bạo hành (attentat à la pudeur avec violence). Ấy là trọng tội mà người ta thường gọi hiếp dâm hay cưỡng dâm (viol).


Tình tiết cấu thành tội hiếp dâm, gồm:


1) Kẻ gây ra việc phạm dâm phải là người đàn ông.


2) Nạn nhân phải là một người sống.


3) Không có sự ưng thuận của nạn nhân.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Nay đã lên tới trên một trăm nguyên tố.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
Sông Ba, Cầu Đà Rằng & Cầu Dinh - Giấc mơ 300 năm - Phạm Ngọc Hiền 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (11) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (10) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (9) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (8) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (7) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (6) - Huỳnh Quang 29.08.2019
xem thêm »