tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27808636
28.11.2018
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (8): Một chuyện của lòng & Bức thư của người lấy vợ


Một chuyện của lòng


Kính tặng vong hồn từ mẫu


Bây giờ, cái dinh thự ấy vắng chủ nhân lại càng thêm rộng rãi, càng thêm u tịch.


Tôi một mình đi dạo quanh khu vườn thoảng mùi hương của những thứ hoa kỳ lạ, dưới bóng mát của những cây đại hoa trắng nở đầy cành.


Những khu vườn đẹp ấy đã quen thuộc với tôi từ một tháng nay, không cho tôi thêm một cảm giác gì mới nữa. Đã bao nhiêu chiều, nắng hè vừa nhạt, tôi cùng ông ngoại tôi đi lững thững trên những con đường sỏi rải đầy xác hoa. Tôi tò mò hỏi ông tôi tên từng thứ hoa, thứ cỏ, và lúc mỏi chân, chúng tôi ngồi nghỉ bên hòn núi giả, ông tôi chậm rãi kể cho tôi nghe những trang lịch sử về Tây Sơn đánh đuổi Gia Long..., về việc vua Thành Thái, Duy Tân bị đi đầy...


Giọng ông tôi yếu dần vì xúc động, run run như chứa chất bao nhiêu niềm thống cảm, bi hoài. Những lúc này, ông tôi cau mày, người ngước mắt nhìn về phía đông nam, ở đấy, một làn mây xám lờ đờ trôi trên đỉnh Ngự Bình Sơn.


Vị lão thần nửa đời phò triều Nguyễn, một kẻ bầy tôi trung thực đã được nhìn cuộc suy vi của nước nhà, trước mặt tôi lúc này là hiện hình một dĩ vãng đau thương.


Bây giờ, người đã về trí sĩ, một mình ở một tòa dinh thự kiến trúc theo lối cổ, chỉ có một bõ già sớm tối chực hầu.


Bà ngoại tôi tạ thế từ hồi mẹ tôi ngoài hai mươi tuổi theo chồng ra Bắc.


Ở Bắc Hà, tôi vừa lên bảy tuổi thì mẹ tôi từ giã cõi trần. Tôi nhớ hình như mẹ tôi chết trong khi lâm sản, chết một cách rất nhanh chóng, thảm thương. Tôi nói là “hình như” vì tôi không muốn hỏi cha tôi về những câu chuyện cũ. Thuở còn thơ ấu, cha tôi quanh năm mắc sang Lào, sang Miên theo đuổi về doanh nghiệp, phải gửi tôi ở các quán trọ, hàng cơm. Thuở lớn lên, tôi ham việc học hành, không mấy khi ngồi đối diện cha tôi. Và tuy cha tôi đã tổ chức một gia đình, song than ôi, trong gia đình ấy, tôi thấy tôi là người sống gửi, vì dì ghẻ tôi đối với tôi quá thờ ơ, lãnh đạm, mà cha tôi cũng chẳng quan tâm, săn sóc gì tôi.


Tuy mẹ tôi chết rồi mà ở trong Kinh ông ngoại tôi vẫn thường gửi thư ra Bắc, và cha tôi cũng năng gửi thư vào vấn an người. Nhưng về sau, cha tôi thưa gửi, vì vậy sự liên lạc của cha tôi cùng người cũng nhạt dần.


Tới khi khôn lớn, thỉnh thoảng tôi có viết thư hỏi thăm ông tôi, nhưng tôi chỉ lén viết không cho cha tôi biết. Tôi dời đất Huế từ ngày thơ nhỏ đến ngày nay đã ngót hai mươi năm. Hai mươi năm để hình ảnh nơi quê hương yêu quý, nơi chôn rau cắt rốn của mình chết trong ký ức, bây giờ tôi mới có dịp, lần thứ nhất, trở lại kinh đô Huế, trở lại tìm người đã sinh ra người mẹ hiền bạc mệnh của tôi.


Huế! Ta đã khóc những tiếng khóc đầu tiên ở cái đất vương giả này đây!


Huế! Ta đã được người mẹ trẻ của ta trong những buổi mai gió sông Hương thổi tạt vào khu vườn hoa rộng rãi này dắt ta đi chập chững từng bước một, những bước đầu tiên của đôi chân đang bụ sữa... Ta đã được mẹ ta, ẵm ta ngồi dưới gốc cây đại đầy hoa trắng, vui vẻ ca những bài ca êm ái nhất ở khu vườn ngào ngạt hương thơm mà ta đang đứng bây giờ.


Chiều nay, ông ngoại tôi đi dự tiệc trong dinh cụ Tham Trí. Đứng ngoài vườn chán, tôi lững thững lên nhà. Tôi vào gian phòng mà ông tôi đã sai bõ già dọn dẹp, lau chùi bàn ghế sẵn sau khi nhận được điện tín của tôi, và nay người dành cho tôi chiếm một mình.


Gian phòng rất xinh, tường quét vôi xanh nhạt. Những đồ lối cổ bầy đơn giản và gọn ghẽ. Tôi thích nhất cái giường, cái giường cổ đường triện thiếp vàng chạy xung quanh, trên trải chiếu trúc, nằm mát rượi. Và tôi ưa cả cái gương Tàu hình bầu dục từ bao nhiêu năm mà vẫn không mờ.


Tôi nhớ người bõ già, hôm tôi mới đến, đặt chiếc va li của tôi xuống, rồi điệu bộ lễ phép, lão nói với tôi: Đây là căn phòng bí mật, cửa quanh năm khóa kĩ. Tôi hầu cụ lớn đã mười năm. Nay mới được cụ giao cho chiếc chìa khóa gỉ này.


Câu nói của bõ già làm rộn trí tôi, gợi cho tôi biết bao nghi ngờ, thắc mắc.


Nhiều đêm, trằn trọc không ngủ được, tôi bâng khuâng tự hỏi rằng: cái giường này xưa đã có ai nằm? Cái gương này xưa đã có ai soi?


Cả cái phòng này nữa, sao lại bỏ hoang đến nỗi dù đã lau chùi, quét rửa kĩ rồi mà vẫn còn mùi rêu mốc tanh hôi, ẩm ướt? Hay là, ở đây, đã có người nào tự tử, hoặc đã xảy ra một vụ ám sát ghê gớm... hoặc là có ma quỷ thường tác quái?


Nhưng những dấu hỏi hoài nghi ấy không đủ làm tôi sợ, vì chưa có một chứng cớ nào cho tôi tin là có ma quỷ ở trần gian. Tôi chỉ vẩn vơ nghĩ về cái giường cổ và cái gương Tàu, vì không hiểu sao, hình như tôi có sẵn một linh cảm kỳ quặc đối với hai thứ đó.


Một tối, nhân lúc ông tôi ngồi uống nước ngoài vườn, tôi ở trên giường vùng ngồi dậy. Tôi nhảy xuống đất, rón rén đến cái tủ kê ở góc tường, chăm chú nhìn từng ngăn kéo. Tôi rút mấy ngăn trên, chẳng có vật gì, còn một ngăn cuối, tôi mở nốt, nhưng ngăn này có khóa. Tôi lại giường nằm. Song cái ngăn kéo khóa kĩ kia khiến tôi nghi ngờ dữ quá, rồi bộ óc quen bày đặt chuyện của tôi tạo ngay thành một vụ giết người mà ông tôi là... thủ phạm, và trong ngăn tủ kín đáo kia hẳn giấu giếm một lá thư, một con dao máu lâu ngày đã đen sì lại. Vụ án mạng đó có lẽ vì chính trị, vì tình, hay là vì việc chiếm đoạt gia tài...


Sao lại không thể như thế được, khi mà người ta có một quyền hành lớn trong tay, có một địa vị oai nghi, lẫm liệt ở trong triều.


Rồi tự nhiên tôi tưởng tượng thấy hiện lên một oan hồn đang đập cửa đòi vào... tôi mơ hồ nghe thấy tiếng khóc than ri rỉ trong cái ngăn kéo bí mật kia... Người tôi rờn rợn. Tôi lại nhảy đến trước tủ, và lần này thì quyết định, tôi nhặt một đoạn sắt ở góc tường, dùng hết sức nậy khóa ra. Khi đã thành công, tôi run tay từ từ lôi ngăn kéo. Trong đó, có vài lá thư giấy đã vàng và chữ rất nhòa không đọc được. Dưới những lá thư, có một cái hộp mây đựng tấm gương con, chiếc lược ngà, chiếc rẽ đường ngôi bằng lông dím, mấy hộp phấn sáp, lọ dầu thơm bôi tóc và kim chỉ.


Bên trong cùng, có một cái hộp sơn đen. Mở ra, tôi thấy những cánh hoa khô phủ lên một tấm ảnh người gái Huế. Ngay phút đầu, tâm thần tôi đã rung động vì nhan sắc người trong ảnh. Thiếu nữ đẹp vô ngần. Vẻ đẹp cao quý ấy, ta chỉ có thể thấy ở những nàng công chúa, ở những công nương khuê các giá ngàn vàng.


Càng ngắm bức ảnh, lòng tôi càng như vương vấn một thứ tình say sưa kỳ lạ, một thứ hoài cảm mênh mang...


Tôi không biết người đẹp ấy là ai đối với ông tôi... Có thể là một người con? Một người cháu? Hay một người hầu thiếp? Ồ, nếu nàng là người hầu thiếp, nếu cái mặt hoa ấy, cái mình ngà ngọc ấy, cả cái nhan sắc thần tiên ấy là vật sở hữu của một ông già tóc bạc lưng còng, lần từng bước gậy, sống thoi thóp cạnh cửa mồ, thì than ôi, thật là đau đớn cho nàng, đau đớn cả... cho tôi! Hình như tôi ghen với ông tôi, tôi muốn thấy người đẹp ấy ngay tức khắc. Tôi đoán ông tôi tạm giấu người ấy đi một chỗ trong khi có tôi ở trong dinh, vì người e có điều bất tiện, rồi chờ tôi ra Bắc, nàng mới được về để giữ việc đấm bóp cho người.


Nhưng sau, tôi lại vơ vẩn nghĩ rằng nàng đã chết rồi, vì những cánh hoa khô ai rải lên tấm ảnh có lẽ ngụ một ý nghĩa là: lấy hoa liệm xác người khi sống vốn yêu hoa.


Tôi đang tần ngần nhìn tấm ảnh thì chợt có tiếng ho của ông tôi ngoài hành lang. Sợ người bắt gặp tôi đang phạm một tội tò mò, cái tội tôi tự biết là rất xấu mà lần đầu tiên tôi phạm, nên tôi vội vàng bỏ tấm ảnh vào ô kéo, xếp giấy má lên trên như cũ.


Sau đấy, tôi bâng khuâng hoài về tấm ảnh người con gái đẹp, cái tình bâng khuâng ấy gần như thứ tình yêu. Một lần, tôi lấy tấm ảnh đó ra xem lại, lần này không nhớ là lần thứ mấy, rồi tẩn mẩn bóc một miếng giấy mỏng dán phía sau, tôi đọc thấy hai chữ Bạch Vân, nét rất mờ.


Đó là tên người trong ảnh, chắc hẳn rồi. Cái tên ấy bắt đầu in sâu vào trí não tôi, và khiến tôi thầm nhắc nhủ đến luôn.


Một buổi chiều nắng tắt đã lâu, tôi theo ông tôi ra vườn sửa cây cảnh. Như mọi lần, chúng tôi lại ngồi trên tấm ghế đá bên hòn non bộ. Tôi ngoảnh về phía đông nam, ngắm một dải mây trắng trôi lững thững trên đỉnh núi Ngự Bình, và tôi nói với ông tôi như một đứa trẻ hiền lành, ngoan ngoãn:


- Ông ơi, mây trắng bay trên núi Ngự Bình đẹp quá!


- Ừ, sao cháu?


- Bẩm ông, ở Hà Nội, cháu có một người bạn gái nhờ cháu đặt cho một cái biệt hiệu, giá lấy cảnh kia mà nghĩ ra một cái tên thì có lẽ cũng hay hay... Tỷ dụ như Bạch Vân chẳng hạn... có được không ông?


- Sao không được... À, xưa kia...


Nhưng ông tôi ngừng ngay lại, đôi mắt lờ đờ tựa hồ vừa thoáng qua một cái bóng dĩ vãng thảm sầu. Người đặt bàn tay run rẩy lên vai tôi, nhìn chằm chặp vào mắt tôi, ngắm nghía tôi một cách lạ lùng, tỉ mỉ như ông thầy coi tướng số. Rồi khi không, tôi nhận thấy mấy giọt lệ bám long lanh trong cặp kính, người bảo tôi:


- Cháu ôi, khi xưa..., cũng vào một buổi chiều, nhân buồn lòng về triều chính, ông ngồi ở cái ghế này uống rượu giải sầu, chợt thấy một đám mây trắng bay trên núi, và chính giữa lúc ấy thì ở trong phòng bà ngoại cháu vừa sinh hạ ra mẹ cháu, nên ông mượn cảnh nọ mà đặt tên cho mẹ cháu là Bạch Vân. Bây giờ, mẹ cháu chết rồi, mà đám mây trắng kia lại kéo qua đỉnh núi Ngự Bình để cháu vô tình nhắc đến khiến ông đau đớn biết bao nhiêu!


Cả tâm hồn tôi tê tái, trái tim tôi như tan vỡ!


Thế ra bức ảnh người thiếu nữ đẹp như nàng công chúa ấy lại chính là mẹ tôi?


Tôi, thằng con khốn nạn này, đã thầm yêu mẹ, đã bày ra trong tưởng tượng biết bao ngờ vực, đã ghen ngấm ngầm với người ông ngoại từ ngót một tháng nay?


Thực là một huyễn mộng bất ngờ tan ra như bọt nước. Một tiếng sét, một làn chớp xé mây mù để cho tôi thoáng nhìn thấy mảnh trời trong xanh.


Hỡi người mẹ hiền bạc mệnh của tôi, người đã bỏ lầu hoa chốn Đô thành để đi chôn cả nhan sắc trong gian truân đau khổ với chồng, với con, người đã chôn cả tấm hình hài ngàn vàng trong kiếp giang hồ, chết âm thầm ở nơi đất lạ, quê người!


Tôi ngả đầu vào vai ông tôi mà khóc tựa như đứa trẻ thơ. Rồi ông tôi khẽ nói bên tai tôi, giọng hiền từ như một ông Tiên, ông Bụt ở trên trời xuống dỗ dành một kẻ đau thương, mà tôi thường được nghe trong những truyện cổ tích.


- Cháu ạ, khi xưa có lẽ vì mối lương duyên trời định mà ông gả con gái cho cha cháu. Khi ấy cha cháu ở ngoài Bắc đổi vào đây làm “xếp” ga. Ông thương cha cháu về đức tốt, nết hiền, con gái ông cũng ưng cha cháu vì nói năng hoạt bát, tài hoa. Thấy hai trẻ yêu nhau, ông cho phép cha cháu ra vào dinh tự nhiên. Rồi ít lâu, ông cho cha cháu vào hẳn trong dinh gửi rể, thiệt tình ông quý như con đẻ dứt lòng.


Được vài năm, nhà nước đổi cha cháu ra làm ngoài Bắc, mẹ cháu phải dời ông để theo chồng. Tin mẹ cháu bỏ mệnh nơi đất Bắc chẳng mấy chốc đến tai ông. Bà ngoại cháu thụ bệnh và chết cũng vì tin thê thảm đó.


Căn phòng kia từ khi mẹ cháu chết đi, ông truyền khóa kín và đến mãi bây giờ ông mới cho mở để dành chỗ cháu nằm; khi trước chính đấy là chỗ cha mẹ cháu động phòng hợp cẩn. Cái giường cháu đang nằm, cái gương cháu đang soi đều là những đồ vật có in bóng của cha mẹ cháu tự ngày xưa.


Ông tôi trầm ngâm một lúc rồi tiếp lời:


- À, trong một ngăn kéo tủ góc phòng, ông còn cất tấm ảnh mẹ cháu chụp một ngày trước hôm làm lễ cưới. Tấm ảnh ấy ông chắc đã mờ rồi, vì đã mười mấy năm nay ông không muốn mở cửa gian phòng đó để nhìn những kỉ niệm thương tâm. Đây, chìa khóa ngăn kéo tủ ấy đây, ông cho phép cháu vào mà hôn mẹ.


Tôi chạy vụt vào phòng như một thằng điên. Tôi trịnh trọng lấy tấm ảnh ra ôm chầm vào ngực mà ôm ấp; đưa lên mặt mà hôn hít, mà ngắm nghía. Tôi nhìn ảnh, rồi nhìn bóng tôi ở trong gương xem có nét gì giống mẹ không. Tôi ôm lấy tấm gương hôn chùn chụt, tưởng tượng rằng trong đó vẫn còn ghi lại cái bóng mẹ tôi những lúc xưa đứng xõa tóc chải đầu. Tôi nhảy lên giường, vuốt ve từng chiếc gọng màn, hôn đôi gối, hôn cái nệm - tưởng tượng rằng chăn màn ấy, gối nệm ấy còn ấp ủ mùi hương của da thịt người mẹ đẹp của tôi.


Mê man và vui sướng như được thấy mẹ hiền sống lại, tôi nâng niu tấm ảnh trên tay, ngắm mãi không mỏi mắt. Bây giờ tôi mới được trông mặt mẹ, vì tự thủa lấy chồng, mẹ tôi không hề chụp một tấm ảnh nào.


Đêm ấy, tôi ấp ảnh mẹ tôi vào ngực, ngủ ngon lành trên nệm như đứa trẻ nhỏ ngủ ngon lành trong một cái nôi.


Tôi mơ màng thấy tôi bé lại, có một bàn tay trắng muốt vỗ về tôi... Bên tai tôi, văng vẳng tiếng ai ca khúc Nam bình ru cho tôi ngủ, giọng ca lẫn với giọng đàn mê li...


Nhưng ác làm sao gà bên tường hoa bỗng đâu lên tiếng gáy, tôi bừng mở mắt, nhìn qua cửa sổ: một chiếc bồng đang kẽo kẹt lướt ngoài sông Hương. Tiếng ca với cả tiếng đàn của người kĩ nữ vô danh vọng đưa đến tai tôi càng mê li, càng não nuột..., than ôi, ta tiếc sao đó chẳng là một giấc mơ vĩnh viễn để ta được ngủ hoài dưới bàn tay mẹ ta ve vuốt, để ta được tưởng rằng tiếng hát kia là tiếng mẹ hiền ta ru...


Phấn hương, Nxb Tân Dân, H., 1939


 


Bức thư của người lấy vợ


 


Anh Lê,


Thế là xong, tất cả xong rồi anh ạ! Cái việc tôi thắc mắc, lưỡng lự, sợ hãi nữa, chiều hôm qua tôi đã dám làm.


Bây giờ mọi sự đắn đo sôi cháy trong lòng tôi, thôi thì đành coi là những đám mây đen tan vội trước một cơn mưa hung hãn. Tôi không còn dám nghĩ lại những điều tôi đã nghĩ. Cuộc sống từ nay như một chiếc quan tài, hay là một nghiệp chướng không bao giờ xê dịch.


Khác mọi khi, tôi viết cho anh lần này trên mấy tờ giấy rất trắng có kẻ ô vuông và bằng một thứ chữ đứng đắn, lề lối của bàn tay viên thư ký già. Anh thấy chưa, những chữ O tròn trĩnh, những chữ hoa chân chỉnh như cái thứ chiêu cô bách thọ đồ.


Cái bàn giấy mới của tôi kê gần chiếc giường có chăn gối mới. Mùi nước hoa ở gối màn thơm đến nhức đầu lên được. Nước hoa của vợ tôi. Đã ngót một tháng nay, từ đêm động phòng đến giờ, lúc nào rảnh rỗi, người đàn bà cũng kéo lại tấm khăn giải giường cho thẳng, xếp đôi gối cho ngay ngắn và luôn luôn… vẩy nước hoa. Làm như nước hoa là một thứ bùa ân ái mà tất cả những đôi vợ chồng mới mẻ không dùng không được.


Thế nhưng nước hoa không phải cái tôi cần nói với anh ở thư này. Tôi nói với anh về cái việc tôi thắc mắc, lưỡng lự, sợ hãi mà tôi đã dám làm, ấy là việc tôi đã ký thác tên tuổi tôi, cả cuộc đời tôi, cả sinh mệnh tôi vào tờ hợp đồng giá thú.


Thế là xong! Không ngờ gì nữa rằng từ nay trong đời tôi sẽ không còn có những ngày mà thất tinh được nuông chiều bằng khoái lạc và độc dược, chẳng một ai ngăn cấm hết.


Tôi đã ký một chữ để rút ngắn và thu tròn lại cả một kiếp nhân sinh cạnh một kẻ phụ nhân. Để làm gì? Để rồi đa mang cảnh con sài mẹ ốm, kiềm chế nhau vì ghen tuông, vì bất đồng tình cảm như tất cả những cặp phu thê trên trái đất.


Vậy mà buổi chiều hôm đó tôi đã hạ tay, ký nhận cái định mệnh do luật pháp gán cho mình.


Từ nay, ô hô!Luật pháp, lễ nghi, nghĩa vụ liên kết với nhau mà câu thúc thân thể tôi, giám sát cuộc sống của tôi, gông cổ xích chân tôi.


Các anh đừng có chứa chấp tôi trong nhà các anh vài ba tháng. Kẻ phụ nhân rất có quyền lực kia sẽ được luật pháp bênh vực mà nặc tôi về cái tội tự do và vô cớ bỏ gia đình. Tôi sẽ phải nhịn nhục trước mọi sự bất hòa, vì nếu tôi có nặng tay một chút, ắt luật pháp sẽ vì cái thân bồ liễu đó mà cho tôi biết thế nào là sự tôn trọng nữ quyền.


Chúng tôi đã đem nhau ra tòa Đốc Lý, trước ba cuộc bách niên giai lão. Trước khi ra đi, vợ tôi có cái vui mừng gần nghĩa với vẻ hý hửng của một gái sắp được người ta đem đi tìm chân hạnh phúc mà bất cứ cô gái nào cũng phải hận lòng chờ đón.


Vợ tôi trang điểm rất lâu, mặc lại chiếc áo mà nàng đã mặc để quỳ bên tôi ngày cưới, trước cái án thư có con gà sống đầy mình kết tơ hồng đứng ngạo nghễ trên lưng con rùa làm bằng đu đủ.


Chiếc áo màu rượu vang thêu kim tuyến lừng danh. Vợ tôi bôi nước hoa vào vạt áo, đứng mãi trước gương mà ngắm. Tôi thì đủng đỉnh, không muốn thay đến cả chiếc sơ mi chứ đừng nói đến sự khó nhọc đi tìm chiếc ca vát cho trịnh trọng, cho ra vẻ anh chồng mới. “Nàng” nguýt tôi, cau có cự mặt tôi về cái lười không húi đầu cạo râu cho trẻ ra một chút. - Người với ngợm thế kia, chẳng sợ cái Yến nó chê cho. Còn anh Thông nữa, hôm nay anh ấy về chỉ cốt xét xem học vấn và đức hạnh của cậu đấy!


“Cái Yến nó chê - thì sự đó tôi cũng nên lưu tâm một chút. Cô em vợ xinh đẹp quá, lúc nào cũng tít mắt cười. Còn gã anh vợ kia thì can hệ quái gì? Thực là một khối thịt xương thừa thãi trong loài người. Ấy là một kẻ đàn ông mặt mũi tròn phính, một thứ mặt của mọi kẻ con nhà giàu chứa đựng quá nhiều sâm nhung, cao hổ cốt, cao bú dù, giò lụa, gạo tám thơm, cao đơn hoàn tán… Cái mặt chuyên hưởng thụ, ngây thơ đến nỗi ta không biết là ngu dại hay lành hiền, và ta cũng lại không biết đó là con cầu tự hay cái thai tiên thiên bất túc được bọc mỡ vì tẩm bổ. Cái mặt vô nghĩa lý khiến ta nghĩ ngay rằng nếu sinh vào cửa nhà bần tiện thì chỉ đến cung đi nhặt lá; nếu sinh vào nơi quyền quý thì cũng chỉ có thể bé thì làm một gã học trò lười nhác ở trường, hạch sách đầy tớ ở nhà; lên lớp, đỗ đạt nhờ luồn cúi; cũng vậy, cho đến khi đi làm rồi cưới vợ đẹp đẻ con ngoan, cứ tẩm bổ mãi cho trọn cái lý tưởng làm giá áo túi cơm.


Nếu tôi đã phải cực lòng mang những ý không đẹp đối với người anh ruột vợ tôi, ấy chỉ vì tôi đã phẫn uất bị vợ tôi đem ông anh danh giá đó ra mà miệt thị tôi là một thằng vô nghề nghiệp.


Tức thì tôi lườm lại vợ tôi, và tôi tỏ sự phẫn uất kia bằng cách nằm lăn ngay ra giường.


Bà mẹ tôi ở dưới hàng đang cân măng miến cho khách bỗng the thé gọi chúng tôi xuống để ra tòa Đốc Lý.


Lệnh kia có đủ sức dựng lưng tôi dậy. Bà mẹ tôi không phải là một bà mẹ như các ông viết tiểu thuyết vẫn lấy làm tiêu biểu cho đức hiền hậu, nhẫn nại, chịu đau, chịu khổ vì chồng vì con. Bà mẹ tôi, hỡi ơi, khi giận dữ thì là một bó đuốc hun cháy hết mọi đồ đạc và mọi kẻ thân yếu ở trong nhà. Cha tôi là một ông ký giả mất việc từ cái hồi mẹ tôi tay trắng cố làm nên giàu có như ngày nay. Cho nên, ông bất lực như một bệnh nhân hấp hối.


- Thằng cả đâu? Gớm, tôi xin ông ngắm nghía vừa vừa chứ! Rồi thì mai kia chỉ lo không được ngắm mãi thôi con ạ.


Giọng bà rít và kéo dài ra nghe mà rợn tóc, mặc dầu tôi đã quen nghe cái giọng ấy rồi. Tôi biết câu đay nghiến ấy chính là gửi gián tiếp cho vợ tôi, vì con dâu mới, bà còn nể; và bà to sự nể ấy bằng cách lấy tôi làm bia đỡ đạn.


Mặt vợ tôi chắc là xám lại dưới lần phấn khá dày. Cô ả đứng thừ ra, rồi gieo mình xuống giường khóc rưng rức. Tôi không dỗ, tôi không vuốt ve trong lúc vợ tôi khóc để chờ ở người chồng mới bàn tay âu yếm, che chở, và thương sót. Thật là bất nhẫn, nhưng làm thế nào! Giữa khi tôi đang ngao ngán nghĩ rằng nếu cần phải vuốt ve thì rồi ngày nào cũng phải vuốt ve một trăm lần là vì bà mẹ tôi, than ôi! Tôi biết, tôi biết một cách chua cay rằng mẹ tôi sẽ làm cho vợ tôi khóc đến hết cả cuộc đời.


Thành ra cơn phẫn uất ban nãy do vợ tôi gây ra, bây giờ cộng với nỗi oán hờn này, khiến tôi vụt biến ra một thằng điên dại. Tôi vỗ mạnh vào vai vợ tôi mà bảo:


- Im ngay đi, con nỡm! sốt ruột!


Vợ tôi ngẩng phắt lên. Cái mặt tròn trĩnh sao tôi thấy nó giống mặt lão anh vợ thế, lại thêm nước mắt nước mũi làm hoen nhòe son phấn, để trơ ra nước da thô xám. “Nàng” rít giọng, chao ôi, cái giọng rít ấy, sao tôi cũng lại thấy nó giống mẹ tôi đến thế? - nàng rít giọng mà bảo tôi rằng:


- À cậu đánh tôi đấy ư? Cậu mắng tôi đấy ư? Cậu tử tế nhỉ! Mới có ngót một tháng trời mà tôi đã hiểu cậu quá mất rồi, thực là đáng tiếc…


Đáng tiếc! Thế là vợ tôi đã hối hận vì lấy tôi? Lòng tự ái ở một kẻ làm chồng, dẫu là một thằng chồng xử với vợ không lấy gì làm lịch sự, không lấy gì làm nịnh đầm như tôi lúc ấy, tuy nhiên, lòng tự ái vẫn vụt báo cho máu ghen của tôi biết rằng: “Dễ thường nó hối hận vì nó chợt nhớ đến lời thề nguyện với gã cố nhân nào đó. Mày bị mọc sừng rồi, Túc ạ!”.


Tôi uất người lên. Tôi phải làm gì cho hả giận. Nói to thì tôi không dám vì cái sàn gác nhà tôi đã cổ, khe ván hở hếch ra, mẹ tôi có thể nhìn lên và nghe từng câu nói. Mắt đỏ sòng sọc, tôi nhìn quanh. Chiếc gương con hình quả tim của vợ tôi trên mặt bàn, tức thì tôi vơ lấy, bẻ đôi ra. Vợ tôi thấy thế, khóc nức nở.


Tôi đã nghiến răng “bẻ gẫy chữ đồng” rồi vậy. Tình nghĩa tao khang trong cái buổi đầu mà chén thề chưa ráo, trời xuân còn tha thướt bóng nhạn, bóng mây; gối phụng chăn loan còn thơm nức mùi nước hoa nội hóa; vậy mà giữa cái ngày tốt đẹp sắp khoác tay nhau đi ký kết cái giao kèo phối hợp trăm năm tơ tóc thì tôi đã như một kẻ vũ phu đang tâm đập vỡ gương nguyền, nàng thì đã… hối hận vì lấy phải anh chồng không biết quỳ xuống mà vuốt ve khi người đàn bà khóc.


- Cậu gớm thật! Cậu là đồ khốn nạn!


Thôi thôi, ái ân mà đã đến nước này thì thật là mất hết cái nghĩa muôn năm của nó. Tôi nhợt nhạt cả người, rời rã cả tay chân, ngồi không vững, đứng mất thăng bằng, tôi muốn chùm chăn mà trốn.


Nhưng lần này thì bà mẹ tôi ở dưới hàng hét lên như còi báo động.


Tôi vội chạy xuống thang. Ông bố tôi đã mặc chiếc áo the cũ đang ngồi nhấc bát điếu lên để tìm cái bã thuốc lào mà làm sái nữa.


Ông rủ rỉ - bao giờ cũng rủ rỉ - bảo tôi:


- Con bảo cái trưởng xuống rồi mà đi, kẻo để mẹ mày kêu mãi.


Tôi lại phải leo lên cái thang ốm lần nữa, làm lành với vợ tôi bằng cách xoa vai nó, xoa má nó rồi cười một cách trơ trẽn, vô ý thức như một gã quan viên ở nhà hát vậy.


Vợ tôi lau nước mắt, xoa lại phấn sáp, theo tôi xuống. Cố nhiên là mẹ tôi lườm một cái và lại lấy tôi làm bia để bắn thêm vài viên đạn nữa.


Chúng tôi đến tòa Đốc Lý, ở đấy, chiếc xe hòm lịch sự của người anh vợ tôi đã đến rồi. Bố mẹ vợ tôi, bố mẹ tôi, hai người làm chứng, một đoàn kéo nhau lên gác, vào một phòng rộng rãi bày la liệt chậu cây.


Chúng tôi ngồi xếp hàng dài trước một bàn giấy lớn đối diện với một ông viên chức người Nam. Trước mặt ông có một giải băng lụa ba màu, mấy quyển sổ lớn. Cạnh ông một viên thư ký gầy đứng giúp việc.


- Ông bà Trần Văn Ất có bằng lòng gả con gái là cô Trần Minh Nguyệt cho ông Lâm Văn Túc không?


Bố mẹ vợ tôi đồng thanh đáp:


- Bẩm quan, chúng tôi vui lòng ạ.


- Ông bà Lâm Văn Giáp có bằng lòng lấy con gái ông Trần Văn Ất là cô Trần Minh Nguyệt cho con trai là Lâm Văn Túc không?


Bố mẹ tôi đồng thanh đáp:


- Chúng tôi bằng lòng lắm ạ.


- Ông Lâm Văn Túc có ưng thuận lấy cô Trần Minh Nguyệt không?


Bây giờ đến lượt tôi trả lời một câu để định đoạt cả một kiếp. Bao nhiêu vui buồn, sướng khổ thu ngắn lại trong có một tích tắc đồng hồ. Anh bạn xa của tôi ơi, anh hãy tưởng tượng rằng nếu tôi lắc đầu một cái thì thế giới trong đó những kẻ thân yêu của tôi kia đang ngoi ngóp sống sẽ rú lên một tiếng mà nổ vỡ như một trái bom. Nhất là bà mẹ gớm ghiếc của tôi. Bà sẽ bóp cổ tôi mà đánh xé, mà chửi rủa ngay lúc đó, dù đang ở trong một bầu không khí trang nghiêm như bầu không khí một phòng án đại hình.


Tôi ngồi thừ ra, nhìn vào pho tượng ở trên cao. Pho tượng Quốc trưởng nhìn tôi bằng đôi mắt hiền từ vô hạn. Tôi cúi xuống. Tôi cúi xuống như một kẻ tín đồ xưng tội…


Bỗng tôi thấy đau nhói ở bên xương sườn. Những móng tay bà mẹ tôi vừa cấu thịt tôi để giục tôi đáp câu hỏi trên kia. Tôi giật bắn mình, mồ hôi toát ra. Mắt tôi chạm ngay phải đôi mắt dữ dội của bà. Lập tức như tiếng còi của đứa trẻ, tôi đáp một câu gọn lỏn:


- Có!


- Cô Trần Minh Nguyệt có ưng thuận lấy ông Lâm Văn Túc không?


Vợ tôi cúi thấp đầu và hạ thấp, giọng run như khóc mà đáp:


- Có ạ!


Ông “Nguyệt lão trần ai” vừa làm cái việc xe duyên thắm cho chúng tôi, tươi cười đẩy ghế nhỏm nửa mình lên, nói mấy câu, như đã nói trước bao nhiêu cặp “uyên ương” khác:


- Tôi xin mừng các cụ (ngoảnh về chúng tôi) và xin chúc ông bà bách niên giai lão.


Bố mẹ đẻ tôi, bố mẹ vợ tôi, chúng tôi, đứng cả lên kính cẩn cúi đầu cảm tạ lời chúc tụng ấy.


Việc ký kết xong rồi. Giải tán. Tiếng ghế bị xô đẩy trên nền sàn gỗ đánh si trơn như mỡ.


Chúng tôi xuống cầu thang. Ra đường, trí não tôi bị căng ra đến thành quằn quại, tê dại, đau xót.


Bố mẹ vợ tôi, anh vợ tôi đã lên xe ô tô đi rồi. Mẹ tôi cũng đã ngự lên xe nhà lối cổ sơn đồi mồi, cao lênh khênh. Ông bố tôi cũng được mẹ tôi gọi cho một cái xe tay để theo ngay bà về mà ngồi canh giữ cái kho măng, miến.


Vợ chồng chúng tôi đi bộ. Buổi chiều đẹp như buổi chiều nay mà đôi vợ chồng mới cưới khoác tay nhau đi quanh vườn hoa “Bôn Be”, thăm Gô đa, lượn bờ Hồ Gươm thì cuộc sống thật là đầy đủ hết những nghĩa lý mà trái tim nào mọi rợ đến đâu cũng biết ước ao thèm muốn.


Chiều nay, biết bao nhiêu là người đẹp. Chúng tôi ngắm người ta. Người ta ngắm chúng tôi. Từ nãy tôi không nói câu gì cả. Tôi đang khổ sở. Tôi đang nghĩ đến cái giây phút tôi đã thò tay ký tên tôi - mà sao tôi lại ký rất chân phương vào quyển sổ giá thú. Tôi nghĩ cả đến lúc vợ tôi tay run bật lên cầm quản bút, đặt cái tên nàng xuống cạnh tên tôi - không biết có phải là điềm gì lạ không mà hai cái nét nguệch dính vào nhau như sợi xích.


Đi qua nhà Thủy Tạ, tôi lững thững bước vào. Tôi gọi lấy một cốc cà phê, không cần hỏi ý kiến đàn bà, và truyền lấy cho tôi một cooktail.


Vợ tôi ngồi ủ rũ. Không ai nói với ai. Mãi sau vợ tôi gợi chuyện:


- Uống ít chứ, say về mẹ mắng cho chẳng bõ!


Tôi trợn mắt nhìn vợ tôi. Thế ra tôi không còn có quyền gì cả. Mẹ tôi, bây giờ đến vợ tôi, lúc nào cũng chỉ có thể nói với tôi bằng cái giọng đe dọa ấy.


Tôi liền nốc cạn một hơi, rồi gọi luôn cốc nữa để lại uống một hơi liền. Đang đói, rượu ngấm rất nhanh trong tạng phủ. Vợ tôi chưa biết tôi say, nói về chuyện dự định chơi họ, buôn món hàng này có lời, tích trữ món hàng kia có lãi.


Tôi biết, tôi biết người con gái xuất thân ở một căn nhà cổ nhất và giàu có tiếng ở cái thành phố này chỉ có thể nói cho tôi nghe về những chuyện tiền nong, những chuyện thêm cân bớt lạng mà thôi. Người con gái đẻ ra đã tập lẫy, tập ngồi, tập đi trên đống tiền đống bạc, thì tình cảm làm gì còn có nữa! Tất cả sự đời kế tiếp nhau từ ngày nhỏ đến lúc lớn đi lấy chồng, người con gái ấy đã quen đánh giá bằng tiền. Người chồng, đứa con, và tất cả cuộc đời, trong khi đó, chỉ còn là một vật bị vê nhỏ lại để nhét qua cái lỗ đồng xu.


Tôi nghĩ miên man như vậy, bạn tôi ơi, tôi nghĩ như vậy trong một cơn say thấm thía.


Tôi nhìn vợ tôi, tôi thấy nàng không đẹp như ban sáng, như hôm qua, như hôm cưới nữa. Mắt tôi mờ đi, không biết vì men hay vì nước mắt. Vợ tôi thấy tôi không nghe chuyện thì im bặt, tay đưa lên mân mê chiếc kiềng vàng. Tôi ngẩn ngơ, rồi ngây dại, tôi dúng ngón tay vào cặn cà phê viết xuống mặt bàn như vẽ bùa. Vợ tôi cười gượng gạo:


- Vẽ gì thế?


Tôi đáp, không ngẩng đầu lên, giọng lạnh lẽo như gió đang thổi trên nước hồ xanh ngắt.


- Ký lại cái tên xem thế nào! Hờ, thế nào mà mình đã ký một cái tên! Lạ nhỉ!


Có lẽ vợ tôi đã nhận thấy môi tôi cắn lại, mắt tôi hỏa bốc, nên tức thì đứng phắt lên, dằn dỗi:


- Cậu cứ ngồi đấy mà say. Tôi về, không mẹ chửi. Mẹ chửi thì một mình tôi khổ, chứ cậu cần gì?


Nói rồi, vợ tôi ra đường gọi xe.


Tôi không nhúc nhích, lắng nghe cái say chạy trong mạch máu, như là thường khi tôi thầm đếm trong gương những sợi tóc sâu dần, ngày này tiếp ngày khác qua đi trên căn gác hẹp đầy mạng nhện.


Mạng nhện ám ảnh như những con chữ ký, như những sợi xích sắt không bao giờ đứt được. Anh bạn ơi, tôi sợ nhất những đường tơ nhện, tuy không có cái khí lạnh như hơi thép, nhưng cũng đủ vương gai góc những đoạn đường, có phải vậy không anh?


Lâm Văn Túc
Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 473/1943


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đến già mới chợt tỉnh (3) - Tống Văn Công 22.06.2019
Đến già mới chợt tỉnh (2) - Tống Văn Công 22.06.2019
Đến già mới chợt tỉnh (Trích: 1) - Tống Văn Công 22.06.2019
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
xem thêm »