tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29373479
26.11.2018
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (6)


Lucie


Tôi mừng rỡ khi thấy Lucie trong vườn. Tôi vừa dựng xe đạp ngoài bờ rào chưa kịp gọi thì Nana, đứa con  gái lên sáu tuổi của Lucie, thấy tôi vội reo lên. Tôi nhấc bổng Nana hôn vào má và vào tóc. Như mọi khi, Nana thọc tay vào túi áo tôi tìm kẹo. Nhưng lần này không có kẹo, mặt đứa bé xinh đẹp ngộ nghĩnh ấy xịu ngay đi.


Lucie đứng dậy mắng yêu con, rồi giơ tay cho tôi bắt.


Nhìn bàn tay người đàn bà thân yêu, tôi rầu mặt lại. Lucie chưa rụt tay về, nhìn vào mắt tôi:


- Sao Hoài có vẻ buồn?


Tôi không dám hỏi. Tôi ngạc nhiên vì nhẫn cưới của chồng Lucie tặng Lucie năm xưa sao bữa nay không còn ở ngón tay Lucie nữa?


Không cần hỏi, tôi cũng đoán có lẽ Lucie đã bán mất rồi.


- Hoài, sao cứ buồn thế để tôi phải buồn lây…


- Không, có gì buồn đâu! Chỉ vì thấy tay Lucie nóng, tôi tưởng Lucie lại ốm.


Nàng cười phá lên:


- Ồ, Hoài làm như mình là thày thuốc ấy. - Và giọng nàng hạ thấp:


- Hoài ơi, sự thực thì lúc nào tôi chả ốm. Ốm cả tinh thần nữa kia.


Nàng và tôi cùng lặng im. Nana chạy tung tung đùa với cái bóng in dài trên mặt cỏ dưới nắng thu, đến đưa tôi giữ hộ con bướm, rồi lại chạy đi.


Lucie sửng sốt vỗ vai tôi bảo:


- Chết chửa! Đứng mãi đây à! Mà Hoài cũng chưa vào xem nhà mới của tôi. Hãy thăm vườn đã.


Chúng tôi đi bên những luống hoa huệ, hoa yên chi, những cây huyết dụ, những khóm phù dung…


Tôi buồn tay ngắt một bông, rồi ngắt bông nữa, xé cánh vất đi. Lucie trách:


- Đừng phí phạm thế. Đây là hoa của người nghèo. Họ thuê đất chủ nhà để trồng hoa đem ra chợ bán. Lucie bây giờ cũng là một người nghèo, nghèo hơn họ, cho nên Lucie phải thương người cùng cảnh. Đây này, vào mà coi, trong nhà lọ hoa vẫn bỏ không, tuy trước nhà có một vườn hoa tươi tốt.


Đây là một căn nhà gỗ hình như dựng đã khá lâu năm. Những đồ đạc sang trọng của Lucie, bây giờ chỉ còn sót lại cái giường, bộ bàn ăn, cái tủ áo nhỏ với một cây đàn guitare.


Cây đàn này, Lucie trân trọng giữ gìn, nó là vật kỉ niệm của người chồng hiện giờ ở Pháp, không bao giờ trở lại Đông Dương nữa. Nhưng có thể chăng, một ngày kia, Lucie sẽ phải bán nốt cho người, vì sinh kế? Tôi đau đớn nhìn cây đàn treo dưới bức ảnh René. Người đàn ông ấy ở xa Lucie quá. “Xa” n ghĩa là “chết” hẳn ròi. Còn mong gì người ấy trở về đây. Một lá thư cũng chẳng hòng nhận được nữa là!


Ngày René ra đi là một ngày thu. René hẹn trở lại Đông Dương ba năm sau, vậy mà năm hẹn quá bao nhiêu tháng ngày rồi! - Lucie đã mỏi tay bóc lịch và mỗi ngày, nàng bỏ một tờ lịch vào chiếc hộp sơn để thỉnh thoảng đem ra ngồi đếm rồi ôm Nana mà khóc.


Lucie đẩy tách cà phê đến trước mặt tôi, lơ đãng hỏi:


- Thế nào, Hoài?...


Lần nào gặp, Lucie cũng hỏi câu ấy bằng một giọng chán chường tuyệt vọng, vì nàng biết trước rằng để trả lời câu ấy, tôi đành chỉ lắc đầu. Lucie nhờ tôi đến nhà mấy người Pháp bạn René, hỏi thăm tin tức chồng nàng.Sở dĩ nàng không dám giao du với những người bạn chồng sang trọng ấy như xưa là vì hiện giờ Lucie đã vận y phục An Nam và ở một cái nhà tồi; Lucie tránh mặt, sợ người ta khinh bỉ.


“Thế nào, Hoài?...” Lucie không bao giờ dám nói: “René hẳn đã có một người vợ ở Paris đẹp lắm, giàu lắm, có phải người ta đã nói với Hoài như thế rồi phải không? Hoài giấu tôi làm gì nữa!”


Ờ, sao Lucie chẳng hỏi tôi như thế, vì đó là tin có thực hoặc có thể đúng cơ mà! Tội nghiệp, chỉ vì Lucie còn nhớ, còn yêu chồng quá, nàng sợ “sự thực” làm tan mất sự chờ mong mà nàng cần bám vào nó để sống, để tin rằng mình vẫn còn chồng.


- Tôi cho Hoài xem cái này nhé, có thể đoán trước là cái gì không?


Tôi chịu. Lucie đặt trước mặt tôi quyển Album.


Nàng ngồi cạnh tôi, giở từng tờ. Đây là mấy tấm ảnh Lucie chụp với René trong những cuộc đi du lịch hầu khắp Đông Dương. Hồi ấy Lucie đẹp hơn bây giờ nhiều, ăn mặc như tất cả những người đàn bà Pháp giàu sang.


Tôi buồn rầu ngước mắt nhìn Lucie. Nàng đặt tay lên vai tôi, và má nàng áp má tôi nói khẽ:


- Hoài thương tôi lắm à? Cảm ơn. Nhưng tôi cũng không cần tiếc thời sung sướng ấy. Tôi chỉ tiếc có René. À, quyển nhật kí của tôi Hoài đọc xong rồi chứ, và nghĩ thế nào?


- Tôi thấy Lucie yêu René lắm.


Lucie thở dài:


- Có lẽ tôi không thể yêu ai hơn người ấy được đâu, Hoài ạ.


Lòng tôi bỗng bị một cái gì bóp chặt, như là một sự hờn ghen. Tôi cúi xuống để Lucie khỏi đọc thấy cảm giác của tôi.


Tôi gấp quyển Album lại, kính cẩm đặt lên tay nàng.


Lucie vô tình không biết lòng tôi, nàng đỡ lấy bỏ vào tủ, rồi quay lại mỉm cười:


- Còn việc học đàn nữa chứ? Trong tuần lễ này, Hoài tấn tới khá nhiều.


Tôi đỡ cây đàn xuống, gảy một bản mà Lucie dạy buổi đầu.


Bản đàn buồn quá. Tôi trút cả lòng dau, tình đau vào mấy đường tơ. Lucie nhìn tôi, mắt hoe hoe đỏ.


Lucie! Em khóc thương tôi, hay là khóc thương kẻ phương trời nào?


Nhưng dù sao lòng tôi cũng hả hê vì tôi đã làm cho người đàn bà xinh đẹp tuyệt vời kia phải khóc.


***


Ra đường, tôi hối hận ngay. Sao Lucie đang sầu khổ lại nỡ khiến nàng sầu khổ nữa, để làm gì?


Tôi đạp xe thẳng lên phía Hồ Tây. Gió chiều hơi lạnh. Một mảnh buồm trắng đứng yên trên mặt nước, xa hơn nữa, trên đường Cổ Ngư, những chòm cây quyện hơi sương mờ như những nét mực nhòa, thấp thoáng bóng vài con ngựa trắng.


Tôi ngồi xuống mặt cỏ, nghĩ về Lucie. Tôi ước ao lúc này Lucie đi bách bộ qua đây như mọi buổi chiều để tôi được ngỏ lòng, tôi khóc như một đứa trẻ còn thơ. Lucie sẽ vỗ về tôi, làm như lúc Nana khóc.


Trời tối dần. Tôi nhảy lên xe đạp, lại qua nhà Lucie. Dừng xe ở ngoài giậu, nhìn vào thấy Lucie đang dạy con học trên thềm. Dưới ánh sáng cây đèn dầu nhỏ, trong cái khung cảnh quá nghèo nàn, Lucie đẹp não nùng như một thiếu phụ ở nhà tu kín. Những ý nghĩ dại dột bị chìm ngay, nhường chỗ cho sự kính trọng, sự thân yêu như buổi đầu tôi sẵn có đối với người đàn bà hơn tuổi ấy, - tôi vội vàng lên xe, đạp miết vào bóng tối.


Một tuần lễ, tôi chưa dám đến nhà Lucie. Bởi tôi hổ thẹn vì những cuồng vọng ở trong lòng. Nhất định tôi phải chờ cho nó mất hẳn đi, tôi phải chờ cho lòng tôi bình tĩnh, tâm tôi trong sáng. Ngày nào cũng dậy sớm, tôi cầm quyển kinh đến nhà thờ.


Các bạn học cùng trọ tưởng tôi sẽ thành một kẻ tử vì đạo, vì trong những ngày ấy, tôi sốt dữ lắm.


Một hôm, đi học về, một bạn đưa tôi một phong thư.


Thư của Lucie! Nàng bảo tôi năng đến, kẻo bỏ dở việc học đàn; kẻo Nana nhớ, nhắc luôn.


Chỉ có vài dòng. Tôi thèm đọc nhiều kia, nhất là chữ của Lucie. Nhưng thế cũng đủ rồi, hơn không. Nana nhớ tôi ư? Sao không là Lucie, cho tôi nhảy lên vì mừng.


Hôm sau, tôi mới vào đến vườn, Nana đã reo lên, chạy ra hỏi kẹo. Lucie thì ngồi dưới gốc lựu sưởi nắng hanh đọc sách, quay lưng ra, không nhúc nhích.


Tôi tê tái muốn trở về, nhưng không hiểu sao chân tôi vẫn tiến lên. Khi cái bóng tôi in trên mặt cỏ trước mặt Lucie, nàng mới bỏ sách xuống đưa tay cho tôi bắt. Tôi nhận thấy những ngón tay nàng bóp chặt lấy tay tôi, chặt hơn mọi bận. Tôi còn nhận thấy mắt nàng sáng hơn thường, nhìn tôi ngụ bao lời trách móc.


- Hoài chăm học quá, quên cả đàn, quên cả em bé Nana.


Nana cũng bắt chước mẹ nũng nịu nhắc theo câu ấy, rồi chạy ra vườn.


Tôi muốn thú ngay với Lucie rằng trong tuần lễ đó, tôi không học được một chữ nào chỉ vì tôi khổ về Lucie, rằng tôi sợ hãi mối tình ở lòng tôi đối với Lucie, và tôi đã kêu cầu đấng Chúa Trời như một người trọng tội. Vậy mà Lucie có biết cho đâu!


Nhưng khốn nạn! Tôi không có can đảm ấy. Tôi chỉ trân trân nhìn Lucie, rồi cúi đầu lặng im.


Lucie bày mấy quả cam ra bàn, ngồi cạnh tôi, cầm dao cắt. Vô ý, lưỡi dao sắc chạm phải ngón tay. Lucie rú lên, nhăn mặt lại. Tôi vội cầm ngón tay nàng, đưa vào miệng hút cho sạch máu. Lucie ngạc nhiên. Tôi xé một miếng mùi soa lụa trên túi áo tôi buộc vào chỗ đau của Lucie và nói:


- Làm như thế thì máu mới cầm lại được. Nếu không nó còn chảy mãi.


Lucie rầu mặt nhìn ngón tay đau, rồi nhìn tôi bảo:


- Hoài nhổ máu ra, ngậm mãi trong miệng thế à?


Tôi lấy thuốc lá hút, trả lời:


- Tôi đã nuốt máu của Lucie vào bụng rồi. Những giọt máu ấy sẽ vào tim tôi, trộn với máu tôi. Bây giờ Lucie có bắt tôi nhổ ra cũng không được đâu Lucie ạ!


Nàng kéo tôi đến sát ngực ngàng, rồi gục vào vai tôi mà khóc.


Tôi sung sướng lặng yên nghe những tiếng nức nở từ một trái tim đã bắt đầu đập vì mối tình tôi; tôi lặng yên nghe những giọt lệ trong cặp mắt đen kia đã bắt đầu cho bóng tôi in vào đấy, nằm ở đấy.


Tôi vuốt tóc Lucie, vỗ về:


- Đừng khóc nữa… Đừng khóc nữa…


Và tôi đặt môi lên tóc nàng, nói rất khẽ, rất dịu như tiếng nhủ thầm say sưa:


- Hoài cảm ơn Lucie đã thấu lòng Hoài…


Lucie ngẩng đầu lên:


- Hoài ạ, Hoài đã khiến Lucie sực nhớ đến René yêu quý của Lucie…, vì cũng đã có một lần, chồng Lucie cũng hút máu ở tay Lucie như Hoài vừa làm lúc nãy…, và cũng nói như Hoài rằng: “Máu ấy sẽ trộn vào tim René mãi mãi”, - vậy mà tình của chúng tôi, Hoài biết đấy, nay còn có nghĩa lí gì đâu!


Người tôi chết lặng đi. Tôi bị bẽ bàng. Tôi hờn giận Lucie hơn là thương hại.


Nana ở ngoài vườn chạy vào trèo lên ghế, gài lên ve áo tôi bông hồng. Tôi cúi hôn trán Nana rồi cáo từ Lucie.


***


Hôm nay tiết trời lạnh quá, lạnh thế này mà mẹ con Lucie ở một căn nhà trống trải ngay hồ thì chịu làm sao!


Tôi tung chăn ngồi dậy nhìn ra vườn, rồi mặc áo quần định đến với Lucie.


Vừa xuống hết cầu thang thì người phu trạm đến đưa tôi một phong thư. Tôi mừng cuống quýt vì biết ngay đó là thư của bà nội tôi ở Huế. Trong đó có một tấm mandat và một bức thư đầy những lời khuyên răn toi về việc học. Không có một lời trách móc của người. Tôi cứ yên trí thế nào cũng bị người thống mạ, vì người phí tổn về tôi nhiều quá: tôi gửi thư luôn luôn để tống tiền, mà kì thi Tú tài vừa rồi, tôi lại rớt, rớt những hai lần.


Tôi chạy thẳng ra nhà bưu điện, rồi vào Gô Đa mua làm quà tặng Lucie vài đồ mĩ phẩm, mua cho Nana chục cuốn len, mấy thứ đồ chơi. Lần này, mới tới cửa, tôi đã lớn tiếng gọi:


- Nana!


Cô bé xinh xắn chạy đến tôi, nhẹ như con bướm. Nana đỡ gói nặng trên tay tôi, hí hửng vào nhà, gọi mẹ.


Lucie nằm trên giường. Tôi đứng sững ngoài thềm. Nàng vẫy tôi.


Tay tôi bị cóng lạnh, không dám bắt tay Lucie, nhưng nàng cầm tay tôi kéo ngồi bên gối.


Mắt Lucie thâm quầng và không còn sáng nữa. Môi khô và hơi thở phào phào. Nàng ốm từ tối qua.


Tôi đứng lên chạy ra vườn xách xe đạp phóng nhanh đi tìm một bác sĩ.


Một giờ sau, bác sĩ đến xem bệnh, tiêm cho nàng. Tôi trả tiền bác sĩ, rồi mang đơn đến nhà bào chế.


Đem thuốc về, dọc đường bị mưa ướt hết, người tôi run như chiếc lá. Lucie cảm động, khóc và vuốt tay tôi:


- Hoài thương tôi lắm, không bao giờ tôi quên được lòng tốt của Hoài… nhưng số tiền ấy có lẽ cần cho việc học của Hoài…


Không muốn Lucie áy náy về việc tiền, tôi gạt đi, kề cốc thuốc vào miệng Lucie.


Suốt ba ngày tôi nghỉ học, ở liền ngay nhà Lucie để trông nom Nana trong khi người mẹ ốm. Tối, tôi bắc chiếc ghế vải ra ngoài thềm nằm ngủ, đắp bằng chiếc pardessus.


Lucie đau đớn thấy tôi bị lạnh, nhưng cả nhà chỉ có một chiếc chăn…, mà đắp chung thì không tiện, cho nên suốt đêm tôi co quắp không sao nhắm mắt, - thỉnh thoảng Lucie gọi tôi xem đã ngủ chưa. Tôi nén lòng vờ ngáy, thực ra khi ấy tôi đang hoang mang nghĩ đến Lucie, và lắng nghe tiếng gió lạnh reo vun vút cùng tiếng sóng đêm vỗ mạnh ngoài hồ.


***


Bệnh Lucie đã đỡ. Nàng gượng ngồi đan áo cho Nana kẻo trời mỗi ngày mỗi rét mà Nana không còn áo gì mặc thêm cho ấm.


Nàng đối với tôi ân cần hơn trước, và giục tôi về đi học.


Nhưng món tiền bà tôi gửi, tôi đã tiêu hết vào việc mua đồ tặng và thuốc thang cho Lucie, lấy đâu để trả tiền trọ và học phí.


Tôi đành cáo ốm xin nghỉ học hết tháng ấy. Không có một trinh trong túi, một hôm, tôi liều gói chiếc pardessus, một bộ đồ nỉ đến nhà Vạn Bảo cầm.


Không nhằm ngày nghỉ, tôi không dám đến Lucie, sợ nàng biết tôi nghỉ học. Hàng ngày, tôi vào thư viện đọc sách, ngồi cho hết giờ lại về gác trọ. Có hôm, buồn quá, tôi vào vườn Bách Thảo, ngồi tẩn mẩn nhổ râu bằng hai đồng trinh. Những ngày ấy, ở công viên này không có ai, trừ người gác. Mỗi lần nghe tiếng vượn kêu, tôi buồn có thể khóc lên. Trời rét quá, áo pardessus cầm cố mất rồi, vận bộ đồ mỏng mảnh nên mặt tôi xanh xám. Thế rồi một buổi tối về quán trọ, tôi thấy ngực đau rức và ho. Lucie ơi, em có biết rằng tôi khổ vì em lắm đó không? Không! Không bao giờ em biết được tôi lang thang vất vưởng hàng ngày như thế trong khi em ngồi đan áo ấm cho con, lòng mong mỏi một người đàn ông khác ở dưới trời sương tuyết, xa cách em muôn ngàn dặm trùng dương, - xa xôi quá, vậy mà em vẫn nhớ, vẫn mong - còn tôi, ở gần em, em có nghĩ đến bao giờ!


Chờ mãi mới tới ngày chủ nhật. Tôi mượn tạm bạn một bộ đồ rét, hăm hở đến Lucie. Hôm nay trời hửng nắng. Khu vườn hoa trước nhà Lucie như rắc phấn vàng. Hình như đã đoán thể nào tôi cũng đến, Lucie đứng đợi sẵn ngoài thềm.


Thấy tôi, Lucie vui vẻ ra cửa đón. Mới vào nhà, tôi đã thấy trên bàn ăn bày sẵn vài món điểm tâm. Nana rối rít khoe áo len mới, rồi ngoan ngoãn ngồi cạnh tôi.


Sau bữa lót lòng vui vẻ, Lucie mở tủ lấy ra chiếc foulard quàng vào cổ tôi:


- Len Hoài mua, đan áo cho Nana không hết, vậy tôi đan cái này tặng lại Hoài.


Cái khăn len ấm quá! Có lẽ suốt mùa đông, tôi không cần chuộc lại những áo quần ở nhà Vạn Bảo. Chỉ một chiếc khăn len này, chiếc khăn len do bàn tay ngọc ngà của Lucie đan cũng đủ sưởi ấm trái tim tôi.


Hôm nay, Lucie dạy tôi một bản đàn mới nữa. Lucie bảo rằng: “Bản đàn này, ngày xưa René đã gẩy tôi nghe trên một boong tàu chạy giữa trùng dương trong thời trăng mật. Đêm ấy, trời đầy ánh sao, biển đầy ánh trăng…”


Lucie nức nở, cây đàn rơi xuống mặt thềm. Tôi vội cầm lên: hai đường gỗ nứt chạy ngang cung. Lucie bưng mặt khóc.


Tôi đau đớn hơn Lucie nhiều, nhưng than ôi, tôi chỉ đành khóc ở lòng tôi thôi.


Túng tiền quá, tôi đã xoay xỏa như một người nghiện ngập đê hèn. Thật vậy, tối hôm nay vét va li không còn gì để sáng mai đem lên nhà Vạn Bảo, tôi phải lục tủ sách lấy mấy quyển đem đến một hiệu mua sách cũ ở Bờ Hồ bán. Bán xong, tôi đi lang thang qua các phố, vừa ốm xác thịt vừa đau cả linh hồn. Qua một tiệm khiêu vũ, tiếng âm nhạc đưa ra khiến lòng tôi rạo rực và tôi nghĩ ngay đến một chỗ ngồi ấm cúng ở góc phòng, trước mặt một cốc rượu mạnh sẽ làm cho da thịt cóng lạnh của tôi được nóng lên.


Phòng khiêu vũ nhuộm màu hồng, một vũ nữ quen nhìn tôi nháy mắt. Tôi đứng dậy, ả giơ tay để tôi ôm. Ả nhai kẹo luôn mồm, cười rú như yêu tinh. Tôi khó chịu mong cho hết bài nhạc ấy.


Chợt có một bóng người in ngoài gương kính. Cánh cửa mở ra, người ấy hiện rõ ràng.


- Lucie!


Tôi bỏ vũ nữ bước ra quên xin lỗi.


Lucie nhìn tôi với vẻ căm hờn, rồi xăm xăm tiến ra ngoài cửa. Tôi vội gọi bồi trả tiền rượu, đoạn chạy theo sau:


- Lucie! Tại sao lại đến chỗ này đang khi trời mưa gió?


Nàng tưởng tôi ngờ vực nàng đi chơi, nên nàng đứng lại quắc mắt nhìn tôi:


- Tôi đi tìm Hoài! Tôi không bằng lòng cho Hoài trác táng! Hoài sẽ ốm, tôi sẽ đau khổ vì Hoài… Hoài có biết tôi bỏ con ở nhà để đến nhà trọ tìm Hoài, rồi lại dầm mưa đi gần khắp tỉnh, ướt cả áo thế này đây!


Tôi nắm chặt tay Lucie, mắt sáng lên. A! Tôi đã được Lucie yêu, bởi nàng đã ghen. Bảo rằng không, thì công đâu Lucie đi tìm tôi như thế. Mới có ba ngày, sợ phải trông thấy hai vết nứt của cây đàn, tôi không tới Lucie. Mới có ba ngày, Lucie đã nhớ tôi đến thế kia ư?


Tôi van lơn xin lỗi Lucie, thiết tha an ủi Lucie. Chúng tôi khoác tay nhau đi dưới trời mưa lạnh. Giọt mưa trên cành cây rơi xuống, tôi ngửa mặt mà đón lấy. Tôi bước nhè nhẹ, không dám nói to, sợ nỗi vui ở lòng tôi sẽ vì một tiếng động nhỏ mà bay mất.


Men rượu lúc này đã đủ làm người tôi nóng rực, lại thêm hơi ấm ở mình Lucie.


Đến cửa, Lucie bảo tôi trở về nhà trọ. Tôi muốn nài Lucie cho tôi được phép vào nằm co quắp trên chiếc ghế vải ngoài thềm lạnh như hôm nàng ốm, nhưng nàng buồn bã ôm lấy tôi, ngửa môi cho tôi hôn, rồi đẩy tôi ra, vội gài cửa lại.


***


Noel.


Ngày hôm ấy, tôi đi bán mấy quyển sách nữa, lấy tiền mua đồ chơi, bánh kẹo và một chai rượu, rồi đến với Lucie.


Nana vui thích, bá cổ tôi hôn từ ngoài cửa.


Muốn Nana mừng, tôi chặt một cây nhỏ, trồng vào cái chậu đất đặt giữa nhà. Tôi lấy giấy trang kim dán vào các cành, các lá, làm đèn xếp treo tứ phía, và buộc kẹo bánh và những con búp bê vào nữa. Đó là cây Noel.


Nana hí hởn chạy nhảy chung quanh cây, reo hát. Tôi mang đàn ra đánh một bài vui, cùng hát với Nana.


Lucie thắp nến trước tượng Đức Bà. Rồi nàng mở rượu, kề cốc tận môi tôi.


Đến đêm, chờ Nana ngủ say, chúng tôi ra đường, đi bộ đến nhà thờ Cửa Bắc.


Tôi chìa cánh tay cho nàng khoác. Hai chiếc bóng âm thầm đi dưới trời sương.


Buổi lễ tan, tôi đưa Lucie trở lại nhà. Đứng sau cánh cửa, Lucie giơ tay cho tôi bắt.


Tại sao thế nhỉ!


Tôi không thể hiểu lòng Lucie.


Tôi quay đi, nhưng đứng nấp vào xó tối. Chờ khi đèn trong nhà nàng đã tắt, tôi trở lại, nhẩy qua bức rào găng thấp, vào vườn.


Tôi trốn sau một bụi cây. Tim tôi đập thình thình, nhưng vẫn lắng tai nghe ngóng. Tiến lên, tôi không có can đảm, mà lui ra thì hình như chân tôi bị chôn xuống đất rồi.


Bỗng có tiếng người, rất khẽ:


- Hoài!


Tiếng của Lucie. Tôi đứng phắt ngay lên. Nàng đứng đầu thềm, vẫy tôi tiến lại gần:


- Biết trước mà! Thế nào lần này Hoài cũng nấp ở đây. Khổ chưa! Tôi muốn nén lòng tôi, tôi muốn cố lãnh đạm với Hoài mà không được! Hoài cứ nhất định ép tôi phạm lỗi với chồng, với con. Lạy Chúa, Chúa rửa tội cho con! Lại đây, Hoài! Lại đây, Hoài!


***


Hoài thân ái của tôi,


Thế là hết rồi, Hoài ạ. Sao Hoài cứ đòi hỏi ở người đàn bà đau khổ này nhiều quá thế. Sao chúng ta không cầm lòng để làm đôi bạn trọn đời thương nhau?


Tôi cũng không dám trách Hoài, vì Hoài đang độ có một trái tim đầy yêu thương, ham muốn, Hoài có đủ ngông cuồng để làm hại bất cứ một người đàn bà yếu đuối nào mà Hoài bắt gặp ở chợ đời…


Tôi cũng không hối hận vì đã để Hoài chinh phuc. Xin Thượng Đế tha thứ cho tôi và người đàn ông ở cõi trời xa kia tha thứ cho tôi, bởi vì bao giờ tôi cũng chỉ là một kẻ đàn bà!


Xin vĩnh biệt Hoài sau khi viết bức thư này. Tôi đã vào nhà tu, Nana thì đã được bà Sơ nuôi dưỡng.


Hoài đừng nghĩ gì về tôi nữa, Hoài nên gắng công mà học, như thế tức là Hoài vẫn yêu tôi.


Tôi tin rằng sau này Nana và Hoài sẽ còn gặp nhau. Ngày ấy, tôi tin chắc Hoài sẽ chưa già.


Hôn Hoài và vĩnh quyết


LUCIE


 


 Phấn hương, Nxb Tân Dân, H., 1939.


 


Ông Chọc tiết


Này! Các cụ, các ông, các bà Hà Nội! Có còn nhớ anh Chọc tiết tức là “Ông Hà Nội” chém mười ba cái đầu Yên Bái đó không?


Nói trắng ngay rằng hắn đã làm đồ tể ở cái thời “Hà Nội băm sáu phố phường” còn là bãi chiến của những thứ hào kiệt kiểu Lương Sơn Bạc như Hàn Bái, Tư Dậu, rồi thì Phúc Đen, Năm Hà Đông. Thuở ấy, Hà Nội tráng một lớp men phong kiến đẹp như bức phông Quảng Lạc vẽ tháp mốc, cầu son của Kiếm hồ văn vật, dân chúng hoàn toàn chỉ là những khán giả ngây thơ chất phác, vỗ tay trước cái mép nhọ của anh kép Tín, trước tiếng than đường trường của chị đào Đính Tam Long, và rất sợ trước cái đầu Quan Công của kép Sáu Phủ dựng râu trợn mắt làm cho Ngô Tôn Quyền, Tào Tháo ngã nhào xuống bệ.


Ở giữa cái xã hội mà lớp người Việt răng đen yên phận làm khán giả và hạng người thống trị múa lưỡi lê như các tướng tuồng hát bộ múa thương tre đao gỗ, “ải ải” một tiếng thì khán giả run lên đó, thưa các ngài, anh Chọc Tiết kia đã hàng ngày xoay trần trùng trục để mà chọc tiết lợn, tiết bò rồi thì say khướt nuốt hồng hoa với tiết canh.


Sau đó, năm ngôi nhà lớn đã được mọc trên Hà Nội, anh Chọc Tiết bỏ lò sát sinh đường Lò Đúc, ném dao đồ tể, để vào Hỏa Lò làm nghề đao phủ thủ.


Này, các cụ, các ông, các bà Hà Nội! Có còn nhớ thằng Chọc Tiết tức là “ông Hà Nội” chém đầu như sung rụng đấy không? Thưa rằng hắn còn sống nhăn nhở ở cái đất cố đô văn vật này đấy ạ. Nhưng ngày nay, hắn đã trở nên một thứ cư sĩ cao điệu, lối cư sĩ đời Chiến quốc.


Tôi gặp hắn hôm nay.


Hôm nay, Hà Nội sống cái ngày Hà thành xưa xưa rộn tiếng voi hí ngựa lồng tiền hô hậu ủng của tả quân Lê Văn Duyệt.


Thế mà mình cứ muốn kiêu căng hay là ngậm ngùi cũng vậy, để tự ví mình với ông già Công Trứ. Bởi vì, chán đời chưa, chỉ vì đi làm “phóng sự ông Chọc Tiết, ông Hà Nội” mà suýt nữa bị ngã dưới bánh xe Chiến quốc.


Tôi thăm hắn trong một tòa nhà trông thẳng sang Đề lao Trung ương, bao lơn lối quân chủ của lâu đài cụ Thượng mà mái thì nhọn hoắt và dốc tuột kiểu công thự ông bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, trên đó tuyết rơi tuồn tuột xuống đã tan như lời hứa hẹn với cái thuộc địa béo tốt này.


Chọc Tiết tiếp tôi trong đại sảnh, trên tường treo ảnh một nàng ca nữ Nhật và một thanh trường kiếm.


Tôi vào chuyện:


- Thế nào, lão huynh độ này có ý kiến gì với quốc sự? Cứ khoác áo củ sĩ an phận nằm trong màn bát tiên mãi, người ta ghen đấy.


Chọc Tiết cười ha hả:


- Màn bát tiên à, tôi vẫn tưởng rằng tôi đang nằm trên bể máu!


Và giọng hắn thì thầm như thằng sát nhân xin rửa tội:


- ... Máu đồng bào, ông ạ!


Nói thật tình, tôi có cảm giác mình đang ngồi trước gã Javert trong tác phẩm “Những kẻ khốn khổ”, nghĩa là tôi vụt nghĩ đến câu chuyện thằng mật thám lúc nào cũng mang cái ám ảnh ghê sợ máu và ma. Chọc Tiết tự tay pha cốc nước giải khát màu đỏ thắm. Hắn mời tôi, và hắn uống. Tôi yên lặng nhìn mặt anh đao phủ to nặng như mặt kẻ thắt cổ đã ba ngày và nhìn cái thân thể béo căng để nghĩ đến con lợn nổi trên dòng phù sa lụt bão. Hắn xòe bàn tay nắm chiếc cốc, tôi liên tưởng đến giây phút bàn tay hùm beo đó ấn cổ kẻ tử tù ốm yếu vào đúng lưỡi dao máy chém, và ngắm cái chất nước đỏ kia chui vào cổ hắn, tôi nghĩ tới những tia máu phùn phụt của phạm nhân chảy trong lòng máng rớt theo đầu lâu vào hòm mạt cưa dưới máy.


Tôi hỏi thân mật và trắng trợn:


- Thực tình, có nhớ ngày oanh liệt, một dao hạ mười ba thủ cấp trên Yên Bái?


Chọc Tiết lờ đờ mắt nhìn sang bãi cỏ bao quanh chân tường cao vút loáng mảnh thủy tinh và dây điện của nhà pha bên kia đường phố vắng. Thốt nhiên, anh đao phủ trở nên một sử gia ngồi ôn cố sử. Hắn lặng lẽ nhìn khói thuốc. Tôi đoán hắn đang nhớ lại một buổi sáng mù sương rừng Yên Bái xa vời.


Đột ngột, Chọc Tiết nhổm người lên:


- Ghê quá, cái đầu lão Ký Con dao máy hạ hai nhát mới chịu lìa. Cái đầu Đức Chính mới ghê hơn chứ. Mình càng ấn, hắn càng ngóc lên để mà hô... Đời tôi, trảm đã hai trăm lẻ bốn chiếc đầu, thế mà mẻ ấy mình thấy trợn. Lão Ngáo Huế mà có được trảm bữa đó cũng phải chùn tay. Tôi nhớ mãi, tôi nhớ mãi...


Chọc Tiết với chai vang đổ tràn miệng cốc và uống cạn một hơi. Chao ôi, lão đao phủ uống vào lòng cả một đêm “Yên Bái đỏ”!


Tôi thốt rùng mình và ngước nhìn thanh trường kiếm trên tường màu vôi đỏ như màu chiếc quan tài.


Tôi cầm mũ. Trước khi tiễn khách xuống cầu thang, Chọc Tiết còn không quên với thanh kiếm, rút ra khỏi vỏ gỗ rừng Phù Tang bọc da cá sấu Tân Gia Ba và quắc mắt nhìn lưỡi thép, anh đao phủ cười khanh khách:


- Năm vừa rồi, một anh Nhật phiệt cho tôi đấy. Cứ nhìn ba đóa anh đào nạm vào đốc kiếm này đủ biết là gươm võ sĩ đạo ba đời. Nó hứa cho mình thanh liễu diệp đao uốn tròn như vòng dây cót đồng hồ bỏ túi, thế rồi thì chưa kịp cho mình nó đã mất đầu.


Thanh trường kiếm nhuộm máu này lại nhắc tôi nghĩ đến cái máy chém sừng sững trong sương lạnh những ngày ảm đạm năm nào. Tôi bước nhanh xuống cầu thang, và ra cửa. Chọc Tiết bắt tay tôi. Giữa đôi cánh cửa hoa sắt sơn đen, sợi xích dài và chiếc khóa khổng lồ reo xoang xoảng sau lưng, tôi rảo bước đi vội vào bóng chiều đổ mênh mang trong cái thành phố đang sôi nổi và quằn quại sống.


Ông Chọc Tiết. Hà Nội, Nxb Ngày mai, 1950


Đôi giầy cũ


Người hảo hán ấy quả đã một thời được mệnh danh là Cọp Xám bãi cỏ xanh.


Ở cái thuở mà Hà Nội băm sáu phố phường còn có những cô me ở trại hàng hoa, hạt vàng quấn cổ xe nhà nghênh ngang, còn có những cái xe lừa chiều chiều ì ạch đi tưới ướt những con đường đá gồ ghề; còn có bà đầm Hàng Cót dắt chó bông đi dạo phố cho trẻ con sợ sệt chạy theo sau, và bà Bé Tý ban tài phát lộc cho đến cả những tay anh chị ngõ Sầm Công, Phất Lộc, nhất là còn có những ông tướng Bổng, Cổng, Tiên, Chức, Mégy tranh bá đồ vương trên các vòng đua vĩ đại ở đại lộ Cột Cờ, thì con người hảo hán bãi cỏ xanh kia tên tuổi đã làm cho thời nhân kính phục hay là kinh sợ hơn cả mười ba cái đầu rụng giữa một đêm Yên Bái đỏ.


Hãy gọi danh thủ túc cầu ấy là Sáu Thủ. Ngoài biệt hiệu “Cọp Xám cỏ xanh”, còn hỗn danh nữa là Hùng Khoát Hải (người anh hùng thứ sáu của đời Tùy đã hai tay nâng đỡ cả tấm cửa thành bằng đá mấy ngàn cân để cho ba trăm vị phản vương và thiên binh vạn mã ôm đầu hú vía chạy thoát sức mạnh Võ Văn Thành Đô vô địch).


Vậy Sáu Thủ mỗi lần đăng đàn bái tướng ra quân, các phóng viên nhà báo lại có dịp bọc quanh anh, làm như gặp một thiên thần vừa bơi qua Đại Tây Dương hay một thứ Bát Tý Na Tra vừa cưỡi xe lửa xuống hồng trần để uống với họ một chai bia, ăn với họ một đĩa bánh tôm nóng, một chiếc bánh tây nhét đầy chả trâu ngát thìa là dúng vào liễn dấm ớt của anh Hai Răng Vàng lùn.


 


Thời ấy, những sớm thứ hai giở báo đọc mục thể thao, người Hà Nội ai nấy đều sung sướng như đọc truyện Phong thần, Tam quốc. Bãi cỏ Cột Cờ biến thành một chiến trường gió lửa ngút trời để cho Sáu Thủ phá ban giắt bóng, oai phong lẫm liệt.


Này là một cú ngả bàn đèn, khiến thủ thành lê dương lao người như con vượn mà thành nghiêng ải vỡ. Này là một cú đà đao, tam phong địch thủ đang lên như gió mà cũng cứ bị giạt cả ra nhường nhịn kiêng nể một mũi giầy gài cựa.


Sáu Thủ tung hoành khắp trận, cản mặt thành, trấn biên cương, tiến nam lui bắc, có khi liều mạng mở con đường máu đem ban thoát địch như Triệu Tử Long đoạt giang phò A Đẩu, có khi ung dung giải khốn phá một trái ban phạt góc như kẻ chỉ, làm tan nát cả cuộc đột kích của đối phương, đến mực ông phóng viên nằm bên khay đèn trong tiệm viết bài tường thuật phải tung bút ví Sáu Thủ là Khổng Minh mở cửa thành đánh đàn mà lui giặc, lại có cây bút ví Sáu Thủ là Hán Thọ Đình Hầu một đao chặn giữa đường núi hẹp Hoa Dung làm rụng râu Tào Tháo và làm mất vía tàn binh Tào.


Ôi chao, Sáu Thủ! Sáu Thủ của cái thời quả banh da trâu ngự trị trên nền văn minh đế quốc, của cái thời mà anh hùng ngõ Hàng Hương, Hàng Lược, Sầm Công, Cột Đồng hồ sống như những kẻ Lương Sơn Bạc, con người ấy quả thực đã là một cái đinh sắt ghim chặt vào nền bóng đá mới của xứ này.


Thuở ấy đã qua rồi. Cái đinh kia, theo luật thời gian đào thải, đã rỉ nát, rời khỏi bức tường rêu mốc.


Anh Sáu Thủ của chúng ta - nói riêng cái lớp bà con mộ điệu túc cầu còn sót lại đến bây giờ - cũng đã già nua, vô dụng như cái vỏ ba lông cũ rách mà người ta thường thấy vất ở bãi cỏ, đầu đường.


Trên bãi cỏ xanh Trung, Nam, Bắc đã tan mờ hình bóng Tương, Tốt, Vinh, Trọng, Nhuận, Lưu trâu lăn, Chấm Cụ ngả nạm thầu... Còn gì nữa, hỡi ơi, cái thời Giang Đông khảo võ: mỗi một cầu thủ phải là một chú bò rừng, một con cọp đói, một thứ Kinh Kha, đế giầy gài kín phi tiêu nhọn hoắt, bàn tay nắm chắc dao găm để lấy máu địch thủ khi loạn chiến!


Bao nhiêu bạn cùng hàng ngũ đã theo nhau ngả xuống vì thời thế, vì thuốc phiện, vì bệnh tật, nghèo nàn, vậy mà Sáu Thủ, con hùm xám bãi cỏ xanh ngày cũ, hiện nay vẫn còn lay lứt sống với cái vẻ lành hiền của chú mèo già.


- Hết cả gân rồi, ông ạ. Trông họ chạy cũng cứ ngứa ngáy cả người lên đấy, nhưng giá ai dẩy mình ra đá dăm ba quả thì chỉ còn cách nhắn vợ con khiêng về theo tiên tổ! Bây giờ thời buổi mới, các anh ấy chơi bằng trí nhiều hơn bằng sức mạnh như cái lớp già chúng tôi. Khoa học đấy, nhưng nhiều trận đấu thật tẻ buồn, thành ra cái trí và cái lực đều không thấy ở chính ngay những cầu thủ mà người ta hâm mộ nhất. Do thế, nhiều anh hữu danh mà vô thực, không như ngày xưa, anh nào trội thì trội rõ rệt, mà đã xoàng thì không thể chịu đựng nổi nửa giờ trên bãi chiến. Chưa bị đồng ngũ sa thải họ đã bị khán giả lôi cổ khỏi bãi, lột áo, đuổi về nhà.


Ấy thế, lão tướng Sáu Thủ, trong một buổi coi trận đấu Việt - Hoa đã thì thầm với ông bạn già như vậy. Ông bạn già râu mọc lơ thơ, mặt xanh, gày lẻo khẻo, mặc áo the thâm, nghiêng ô che nắng cho Sáu Thủ.


Sáu Thủ cũng râu tóc như bạn già, đứng nép dưới vành ô đen cháy nắng, lim dim mắt nhìn ra bãi cỏ mênh mông, lúc đó, cầu thủ vừa rút lui nghỉ giải lao theo thường lệ. Ông bạn già tự hai mươi nhăm năm xưa vốn đã phục uy danh Sáu Thủ, nay gặp cố nhân, mừng lắm.


Sáu Thủ tuy chẳng hề biết bạn già họ tên chi, nhưng cũng hả lòng vì biết rằng trần ai còn sót lại một người này để làm tri kỷ.


Bạn già hô cô gái mở bia. Đang khát và đang thèm nước, Sáu Thủ đỡ cốc bia ở tay bạn già, uống một hơi dài khoan khoái. Sáu Thủ lại hài lòng và hơi tiếc rằng giá gặp sớm tri âm ngay từ ngoài cổng thì hẳn là đỡ được chiếc vé bình dân. Sáu vụt nghĩ đến những chiều chủ nhật, mình phải lao đao lắm mới xoay nổi tiền mua vé, có khi nài xin tiền người vợ hai sương một nắng bán quà rong, có khi phải xoay của một anh bạn qua nhà, hay bí quá phải moi trộm ống tiền dành dụm của lũ con, thật quá thảm hại như một con nghiện đã đến giờ vật vã.


Chất bia, vì thế, không còn làm cho Sáu nguôi ngoai. Ông đứng thừ ra, mắt nhìn vào trong bãi cỏ. Ông bạn già yên trí rằng người anh hùng xưa đang nhớ lại những trận tung hoành thuở trước. Ông bèn kính cẩn nghiêng ô che nắng cho lão tướng. Rồi đó, nhè nhẹ rút thuốc lá mời. Sáu Thủ thở khói, ông rất hài lòng và cảm thấy cuộc đời còn thú lắm. Ông bạn già cũng lấy làm khoái trá, coi là vinh dự, vì giữa cái buổi phò tân phế cựu này, ông là một con người tôn cổ, xem cái ngọn mà không muốn quên cái gốc, sống trắng đầu mà không phụ ngày xanh. Lúc này đây, đứng cạnh ông là một danh tướng đã trăm trận đánh trăm trận thắng, đã làm rạng rỡ cả một thế hệ thể thao nước nhà, đã cho thiên hạ biết rằng đường ban bóng chìm ngang dọc trên bãi cỏ đều là những đường sinh lối tử của thập bát trận đồ.


Chứ không à! Sáu Thủ của giới túc cầu Bắc Việt, người đã sinh đồng thời với Lý Huệ Đường, Guichard thời cực thịnh, những danh thủ mà hai mươi nhăm năm xưa mỗi lần mặc giáp lên yên là khiến ông hồi hộp, và suốt trận đấu ấy ông là người vỗ tay hăng nhất theo những cái đánh đầu tuyệt diệu, những cú đá lông và gài sút ngầm mạng mỡ tiền phong bên địch thủ vững chắc như cột đồng. Hồi ấy người ta kính phục cầu thủ danh tiếng như tôn sùng những liệt sĩ Phạm Hồng Thái, Cô Giang, Thái Học, Xứ Nhu. Và người ta cũng yêu mến cầu thủ đại tài như hâm mộ những đào kép tuồng: Tư Lộ, Ba Bí, Tư Đinh, Tám Long, Ba Liên, Sáu Phủ, Hai Giờ, Chín Cưỡng...


Được kết thân với những bậc đế vương, đại tướng, hoàng hậu, công chúa trên sân khấu, được bắt tay và cũng nghênh ngang vào bãi với Gôn Thuận, Văn Đức Vinh hoặc Thông, Viễn, Hai, Trọng, Hiếu, hay đi với mấy tay cầu thủ sừng kền Đồng Nai những khi họ kéo đại binh ra Bắc, ấy là những thành tích phi thường mà các tay chơi hào hiệp ở đây cần phải gây bằng cái khí phách trọng nghĩa khinh tài, nghĩa là phải có tư cách chơi cái trò thượng mã để thâu nạp anh hùng làm bạn hữu.


Đã có những anh hùng ấy ở chung quanh tức là đã có một hỗn hiệu đại vương rồi đấy.


Ông bạn già hồi ấy cũng đã chịu năm ngày tiệc lớn, ba ngày tiệc nhỏ. Ông là con một vị đại thần. Ông có ấp lộc ở miền Kinh Bắc. Ông là Ấm Hiển. Ấm Hiển thuở tráng niên, đã đọc thuộc lòng bộ Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Hử, Tam Quốc, coi ba bộ truyện ấy là cái túi khôn rộng lớn hay là chiếc kim chỉ nam cho ông nhảy vào đời, bất chấp! Nhưng Cụ Cố chán lộc dân, quy rồi. Cậu Ấm lại cảm thấy mình bỡ ngỡ non dại lắm, bèn không vào đời nữa, mà chỉ đứng ở ngưỡng cửa cuộc đời, với một cô vợ cô đầu, ở tòa nhà tây ấp lộc. Cứ chờ thứ bảy, cậu Ấm lại tạm bỏ ruộng giắt túi một món tiền ra Hà Nội, xem đá bóng và chơi hát bộ.


Vậy, ông bạn già đã là một khán giả của túc cầu, là người hâm mộ Sáu Thủ từ một nửa kiếp người rồi.


Hôm nay, gặp cố nhân, Ấm Hiển muốn mời ngay Sáu Thủ đi đánh chén một bữa linh đình, nhưng than ôi, cuộc biển dâu đã phá tan hết ấp lộc phì phiêu của cậu công tử ấy. Đến nỗi bây giờ tản cư về Hà Nội, Ấm Hiển chỉ còn là một anh kiết xác ghiền nặng túc cầu như Sáu Thủ, chủ nhật nào ông cũng xoay xở vỡ mặt mới có nổi tấm vé đi coi. May mà hôm nay, dư vài đồng bạc, đãi nhau một cốc bia, một điếu thuốc lá, bạn già nghĩ rằng thế là long trọng lắm.


Cuộc đấu đã tan. Ông bạn già cụp ô, cắp nách, theo Sáu Thủ nhảy qua bức rào xi măng cốt sắt vào trong bãi.


Sáu Thủ đi lẫn đám khán giả đang ồ ạt kéo lên khán đài xem đội ban Trung Quốc lĩnh cúp. Đến giữa bãi, Sáu hoang mang nhớ lại ngày xửa ngày xưa mình chạy ở đây, đá những quả ban chí tử giữa pháo tay vang động một góc trời. Sáu lững thững đến khung gỗ trắng, lại mang máng nhớ mình đã bao lần trấn ở cửa thành này giải khốn dẹp nguy cho đồng đội, bụi cuốn lầm lên, những gót giầy đanh rầm rập, những khối thịt lấn xô, hỗn loạn như một bầy chiến mã tơi bời trong gươm giáo. Thế mà lúc này Sáu Thủ có cảm tưởng rằng bãi cỏ kia mênh mông hơn trước, cái khung gỗ rộng cao hơn trước, mình đứng đây mà tưởng như lọt thỏm vào một vùng rừng núi.


Bóng tối đổ xuống đầu. Ra khỏi bãi bóng ông bạn già chia tay Sáu Thủ, tiến ngược lên phía trại Ngọc Hà. Sáu Thủ ngậm ngùi nhìn theo cái thân hình lom khom thất thểu khuất sau những gốc cây cổ thụ.


Sáu đi về cái ngõ cụt sau Đền Giám. Tới căn nhà nhỏ nằm dưới một cây bàng rụng lá, Sáu thấy hai thằng con đang lon ton đá bóng, kêu hò ầm ĩ. Quả bóng là cái vỏ da rách nát mà bữa qua Sáu Thủ lấy để nhồi giẻ rách vào làm ruột.


- Bố ơi, Tàu được hay ta được.


- Ta được phải không?


Sáu đang đói mệt cũng lây cái vui của trẻ, cười nói huyên hoa. Quả bóng lăn đến chân, Sáu chặn lại, co chân sút mạnh vào bức tường đổ trước cửa nhà. Quả bóng da bị sút mạnh quá bật ra, làm ngã thằng con nhỏ. Nó không khóc, nhịn đau chuyền lại cho bố và la lớn:


- Bố sút đi nào! Gôn này, phải biết. Thọ ve cũng phải hàng nhé!


Người cha khoái trí, sút luôn cú nữa, đúng ngực con. Thằng bé ngã chúi vào chân tường, tay còn ôm chặt quả bóng. Nó đau quá, không ngóc lên được nữa. Thằng lớn sợ hãi chạy vào mách mẹ. Người cha nhấc con lên. Thằng bé cố cười:


- Chưa thấm vào đâu. Bố tha hồ sút nữa đi. Đấy bố xem, con nhựa lắm. Có giỏi bằng gôn Nhuận ngày xưa không hả bố?


Người vợ chạy ra tru tréo:


- Khổ chưa? Đá đấm gì, khéo chết con thôi. Già còn rửng mỡ. Trót một đời đá đấm mãi còn chưa chán, hử!


Sáu Thủ cười khà, dắt con vào. Ông cởi áo phành phạch quạt. Bỗng nghe tiếng chuột rúc rích ở đâu đấy. Sáu đứng dậy tìm. Ông cúi xuống gầm giường lôi đôi giầy ra phủi bụi. Mấy chú chuột nhắt ở trong giầy chui vội ra chạy mất.


Ô, đàn chuột ỡm ờ đã làm tổ trong đôi giầy oanh liệt của lão tướng Sáu Thủ tự bao giờ! Chao ôi, đôi giầy đá ban của Sáu Thủ đã từ mấy chục năm làm mưa làm gió trên cầu trường đất Bắc tuy đã miệng há, đế bong rồi, nhưng lão tướng vẫn giữ gìn cẩn thận như một danh tướng thời xưa giữ gìn chiến bào, kiếm báu.


Hai năm trời tản cư miền Việt Bắc, Sáu Thủ chẳng quên đèo bòng đôi giầy oanh liệt, lang thang hết núi tới rừng, đến nỗi người vợ phải kêu la trời đất, ba lần vất bỏ cho nhẹ gánh, ba lần người chồng lừ mắt nhặt lên lau chùi sạch sẽ, lại bỏ vào hòm, cố quảy. Ở ngoài kia, có lần đi khiêng lợn mướn, qua đường sỏi núi đau chân quá, Sáu Thủ đã lôi đôi giầy quý báu này ra xỏ vào chân. Đế giầy nghiến đá rừng xào xạo, làm tung bụi đỏ khiến người ta cười rộ cho là anh lẩm cẩm. Bởi thế, Sáu Thủ lại lau giầy bỏ vào hòm, để rồi lại trịnh trọng tha về Hà Nội.


Thế mà không hiểu sao, người đàn bà tục tĩu kia đã dám cả gan lôi đôi giầy danh tướng ra vất dưới gầm giường cho nhện vương, bụi bám và chuột nhắt xông vào đùa giỡn nhau trong đó!


Thật không thể nào tha thứ được. Ông giận vợ. Ông giận luôn cả cuộc đời. Người vợ không biết cái giá trị người chồng gởi vào đôi giầy cũ kỹ, đôi giầy mang cả một thiên túc cầu lịch sử hào hùng. Và cuộc đời đã hùa theo sức tàn phá của thời gian mà quên trúc già tre cỗi, chỉ ngảnh nhìn măng mọc, tre vươn. Tuy nhiên, đã có một người già hiểu giá trị anh, kính mến ông. Ấy là ông bạn già che ô lục soạn, chiều nay vừa trân trọng nói chuyện với ông như một kẻ thực lòng yêu nước đốt hương lần giở trang sử cũ.


Thế là đủ lắm rồi. Đời chỉ cần một người hiểu chân giá trị mình. Sáu Thủ nguôi cơn giận dữ. Ông lau bụi, dốc ngược giầy cho phân chuột rơi ra, rồi trong khi người vợ lúi húi dọn cơm dưới bếp, ông xỏ giầy, buộc dây cẩn thận, co chân chạy mấy bước quanh giường.


Hai đứa con lại lôi quả bóng da nhồi giẻ rách chuyền cho bố.


- Nào, bố sút nữa đi. Gôn này phải biết, quốc tế đây, bố nhớ!


Thằng nhỏ sát lưng vào vách, lăm le đợi bóng. Thằng lớn nhảy xổ vào vờn bóng với cha:


- Khê đấy, bố nhớ. Đố bố qua được đấy, qua được con mới cho là giỏi! nào, bố lừa đi, a-lê-hấp!


Thằng lớn lao vào chân bố. Bố gạt bóng, sút tréo giò. Thằng nhỏ thủ thành nhào ra bắt gọn bóng vào tay, đúng bụng. Bố ngửa mặt cười vang:


- Giỏi, giỏi! Thật cha hổ không đến nỗi sinh con chó. Thằng này rồi kế nghiệp bố đây.


Rồi đó, bố lại lừa ban với thằng con lớn để sút băng băng vào vách cho thằng con nhỏ chộp, đấm, nhào.


Sáu Thủ khoái chí:


- Khá lắm! Thực là hậu sinh khả úy, bố phục con, bố phục con!


Bóng vào gôn, bóng lại bật ra. Ba cha con nói cười ầm ĩ. Lão danh tướng túc cầu, đã mấy chục năm qua, hôm nay mới ôn lại những đường ban cũ quanh chiếc giường tre ọp ẹp trong gian nhà đổ nơi ngõ cụt với đàn con mà người bố tin rằng đó là tương lai của cầu trường mai hậu.


Muỗi hát trong bóng tối. Người vợ cầm cây đèn dầu ở dưới bếp lên, đứng sững nhìn chồng, nhìn con, khẽ lắc đầu.


Thằng nhỏ thét:


- Bố sút đi nào!


A-lê-hấp! Sút mạnh, sút mau!


 Sinh lực, 1953




Ông bạn ngày mưa


Tôi ở một khu trại ngoại thành Hà Nội. Những cơn gió bấc ở đây thường lạnh hơn trong khu vực phố phường nhiều hơi người và hơi lửa.


Một chiều kia mưa gió lạnh buốt khiến tôi tưởng đến một miền cát ướt đầy lau sậy, vang dồn tiếng sóng buồn xa xa mà tôi đã sống thuở ấu thơ.


Những lá cây dừa quanh trại reo múa, đập phành phạch vào nhau suốt đêm ngày càng đem hơi giá đến cho căn nhà cổ mốc meo, cây cỏ leo cả lên những bức tường lở và mái ngói cũ nát.


Tôi ở một mình, kẻ hầu là người đày tớ già xưa đã hầu hạ song thân tôi ở quê nhà. Đang đau yếu, tôi lấy nơi này làm chỗ an dưỡng. Thóc gạo, người bõ già cách vài tháng lại về quê tải ra, chuyện cơm áo vì vậy không làm tôi phải bận tâm. Bạn bè với tôi chỉ là bút sách bởi cả ngày không có một vết chân người lạ vào đây.


Những buổi chiều, ngồi trong cửa sổ mà nghe tiếng gió ngoài vườn và nhìn bóng tối mênh mông tôi có cảm giác mình đang ở một cái thung lũng sâu tối vô cùng, không bao giờ thoát được lên. Tiếng ho khù khụ của ông Bồng đi so ro ngoài vườn nhiều lúc khiến tôi vội đưa bàn tay lên ngực và thấy cổ ngứa ngáy khó chịu.


- Ông Bồng, ông ho nhiều quá!


Người bõ già những khi nghe tôi nói vậy thì ngẩn mặt ra rồi cúi đầu xuống, bước vội đi. Sau đó một lúc lâu tôi không thấy ông ho nữa. Có lẽ ông nể sợ tôi mà cố nhịn. Do thế nên mỗi lần ông bật lên ho là sặc sụa và thở hổn hển.


- Ông lấy thuốc của tôi mà uống. Đừng để thế, lỡ ra...


Tôi nhận thấy ý lo sợ thoáng hiện trong đôi mắt lờ lờ đục. Một lúc, ông mới đáp, giọng khàn khàn:


- Không sao ạ. Giở trời thì sinh ho đấy mà. Mai kia nắng ráo thì lại khỏi.


Tôi để ý xem ông Bồng có để bát đũa của tôi riêng ra không. Nhưng ông không để riêng, ông vẫn dùng chung với tôi, làm như cả thày trò cùng khỏe mạnh. Tôi không bằng lòng. Ông đáp:


- Có mệnh trời hết cả. Cần gì phải giữ gìn quá thế. Xưa cháu hầu cậu Cả. Cậu mất đã ngót mười năm nay mà bây giờ cháu đã sao đâu.


Sự hy sinh của người đầy tớ trung thành khiến tôi mủi lòng.


- Vả lại, cháu già yếu rồi, tiếc gì đời.


Trời đất càng thêm lạnh. Ông Bồng săn sóc luôn luôn cái hỏa lò than nóng đặt dưới chân giường hay gậm bàn tôi ngồi viết. Mưa bay trắng ngoài cỏ, cây. Một buổi chiều, ngủ dậy, tôi thấy lạnh quá, thèm uống một vài chén rượu.


Hơi men hâm nóng sinh lực lên một chút, ngâm vài câu thơ chơi thì còn gì thú bằng. Tôi ngỏ ý muốn với ông Bồng. Ông ta giật mình như nghe tôi đòi thuốc độc.


- Vâng chính là thuốc độc đấy cậu ạ. Cậu Cả ngày xưa cũng hại vì rượu mau hơn vì bệnh.


Vẻ mặt và giọng nói nghiêm trang trong đó chứa cả nỗi xót xa cố chủ khiến tôi phải bỏ ngay cái thèm giải sầu bằng men say.


Một buổi chiều, mưa gió vẫn triền miên như những ngày lạnh trước, tôi ngồi đọc sách, chăn chùm đôi vai tê buốt vì tiết trời. Ở chỗ tôi ngồi có thể trông lên con đường cao bên ngoài cổng trại.


Tôi thấy một ông già. Ờ, vẫn cái ông Tây già đội mũ nồi, mặc cái áo tơi vải cao su vàng, lê chiếc ba toong bằng song khá lớn, còn bộ quần áo bên trong thì chưa bao giờ tôi thấy ông thay bộ dạ màu vỏ dưa đã cũ.


Mọi chiều, ông ta qua trại tôi đúng vào cái giờ sẩm tối này, và tôi để ý, lần nào ông cũng dừng lại một phút nhìn vào rồi lại lẵng lẽ mà đi. Điều đáng chú ý là ông đi bộ, dù mưa to cũng vậy. Ông đi đâu? Tôi không biết, vả đó là một sự không cần biết.


Thế mà lần này, ông già kia chống gậy lững thững vào trong trại tôi. Ông ngắm gốc cây này, khóm hoa khác, làm như vào nhà mình vậy. Con Diane, con chó săn dữ đòn nhất của tôi nhảy xổ ra. Tôi chưa kịp quát gọi con chó thì ông khách lạ, điềm nhiên như thường, thu cái ba toong kẹp vào nách, khom cái lưng gày còng, giơ một bàn tay ra hiệu vuốt ve con vật, miệng chúm lại khẽ huýt sáo. Dáng điệu ấy có một vẻ thành thạo của con người không biết sợ là gì, hơn nữa, còn vẻ thành thạo của người đã từng chơi chó săn như kẻ khác chơi gà, chơi chim.


Con chó dữ là thế, tức thì vẫy đuôi hít hít bàn tay ông ta. Ông mỉm cười, tiến vào phía cửa, đứng ngoài hiên, rũ nước mưa trên áo, lau đế giày vào chiếc thảm dừa, rồi gõ rất từ tốn vào cửa phòng sách tôi đang ngồi.


Tôi tiếp ông già. Ông cởi áo mưa treo lên mắc. Lạ điều nữa, cái mắc áo nhỏ lẩn vào một chỗ khá kín đáo ở góc tường, sao ông ta không cần đưa mắt tìm tòi cũng biết được và tiến thẳng ngay đến nó.


Ngắm cái lưng còng già rồi nhưng bề ngang còn to; đôi đùi ngắn thấp, song bước đi quả quyết, vững chãi chậm chạp như đo đếm từng viên gạch, tôi vụt nghĩ ngay đến mấy phim Mỹ, ông già thám tử Charlie Chan dáng điệu cũng lừ lừ và bí mật y như vậy.


Nói thực, cảm tưởng của tôi giây phút đó là hơi khó chịu. Tôi đã nghĩ cách cần đối phó với người khách quái gở này.


Nhưng sự phải đến khả quan hơn ý nghĩ đề phòng. Ông già xoa hai bàn tay gân guốc, mỉm cười, ngồi xuống. Trước khi ngồi, ông không quên xin phép bằng mấy câu lịch sự khiêm tốn.


- Ông cho tôi tự giới thiệu. Tên chính tôi có lẽ khó đọc, khó nhớ nữa, vậy xin ông cứ yên trí người bạn già - nếu ông cho phép tôi được nói vậy - tên là Goro.


Ông ta ngừng lại. Đôi mắt hiền hiền, cặp môi mỏng che bằng bộ ria đã chen sợi trắng, phác một nụ cười khả dĩ cho là nụ cười bộc lộ rất hồn nhiên cái tâm tính một kẻ không cần để mình đề phòng lắm nữa.


Ông ta tiếp, vẫn giữ nụ cười:


- Trước kia, đã lâu rồi, tôi là viên chức một công sở ở Phnom Penh, sau đó tôi thôi sở, ra làm thương mại. Tôi đã dùng đôi chân khỏe và chiếc gậy cố hữu này để chạy khắp Đông Dương, cái xứ sở quý hóa đầy nhân tài, đầy vàng ngọc của ông...


Ông lại ngừng lại. Tôi khẽ nghiêng đầu cám ớn lời ca ngợi đó, dẫu rằng lời ca ngợi nào cũng tất phải chứa những danh từ hoa mỹ. Nhưng một người Pháp thuộc dịa khi nói câu ấy ắt phải có quyền thành thực. Mà một người Việt Nam như tôi sao lại không có quyền ngẩng cao mặt lên để cũng thành thực và kiêu hãnh nhận rằng đó là cái vinh dự dĩ nhiên của xứ sở tôi từ bao nhiêu thế kỷ nay - một vinh dự, một sự thực mà bất cứ người ngoại quốc nào, nếu đã nhận xét, đều không chối cãi.


- Tôi làm thương mại ở đất nước ông đã mười năm nay. Tôi đã được lạc quan nắm chặt tay người Việt. Tôi hiểu họ, tôi yêu họ. Một dân tộc này muốn hiểu một dân tộc khác, khó gì đâu. Không có gì xa cách cả, chỉ có những tấm lòng. Khi những ý nghĩ, những tấm lòng khác huyết mạch đã gần nhau, người ta mới có thể nói đến cái gì là đại đồng, là nhan loại. Ấy thế mà... A ha! cảm ơn chủ nhân, cảm ơn lão bộc. Nước trà gì đây? Trà tây hay trà mạn? Tôi thì tôi ưa dùng cái thứ trà mạn pha loang loãng, uống buổi tối tốt hơn cà phê nhiều.


“Có phải vậy không, ông già!”


Câu sau này, ông ta nói tiếng Việt. Giọng lưỡi sõi lắm. Bàn tay nổi hằn gân giơ lên đập thân mật vào vai ông Bồng để chấm câu nói và tiếng cười sang sảng.


Ông Bồng thấy ông khách thân mật một cách dễ dãi thế, có vẻ hân hoan lắm. Tôi đưa mắt cho ông Bồng lui ra. Tôi cũng tìm vài câu chuyện giản dị tiếp khách. Khách đến chơi nhà đột ngột, tôi muốn nghe hơn là cần nói. Vả ông khách của tôi nói cũng khá nhiều. Không khí không vì sự gìn giữ của tôi mà tẻ nhạt.


Uống xong hai chén nước, ông già đứng dậy xin lui. Tiễn ra cửa, tôi chưa kịp mời khách đến chơi lần sau, ông đã nói:


- Mai, giờ này, tôi lại đến thăm ông. (Ông ta ngảnh về ông Bồng, nói tiếng ta). Lão, lão lại đãi tôi một ấm trà mạn nóng nữa nhé. (Ông ta vừa mặc áo tơi vừa nhìn thẳng vào mắt tôi) Trời đất lạnh lẽo như thế này mà không có một nơi ấm áp, một người kể được là tri kỷ để nói với nhau vài câu thì còn lạnh biết bao nhiêu. Tôi ít bạn, nếu nói là không có ai (Đầu ông già cúi xuống, cúi xuống. Bỗng ông ngẩng vội mặt lên) Ồ, ngoài trời rét nhỉ!


Trong bóng tối hoang mang đổ với mưa chiều tôi nhận thấy răng ông già cắn chặt lấy vành môi dưới. Và bàn tay ông, có lẽ run, không biết có phải vì rét không, nắm tay tôi thật chặt.


Ông bước ra ngoài mưa. Bước chân vẫn quả quyết chắc chắn, như đang đo đếm. Có lẽ đây là con người đo đếm chiều ngang rộng của đất trời đó chăng!


***


Quả nhiên, giờ ấy hôm sau, ông già đến nữa.


Lần này, ông đến với tư cách một người bạn. Mưa làm áo tơi ông ướt sũng. Ông cười to, từ lúc chùi giầy, với con Diane và lão Bồng. Lúc vào phòng, ông vỗ vai tôi (sau này, tôi nhận thấy ông có cái thói quen ấy khi tỏ điều gì thích ý), ông móc túi áo tơi lôi ra một vật, đặt lên bàn.


Ông Bồng đã đun nước sẵn, pha ngay trà bưng lên. Ông già bằng lòng về sự tiếp đón này lắm, nhìn chúng tôi một cách cảm động.


Uống trà xong, ông tháo giấy bọc, lấy ra hai chai rượu Tây. Một chai, ông bảo tặng tôi, một chai ông mở nút. Ông tự ra buffet lấy hai chiếc cốc. Lâu lắm mới ngửi mùi rượu, nhất là cái thứ rượu Tây hạng tốt này, tôi để mùi thơm thừa sức quyến dỗ, như mùi hoa quyến rũ con ong đói.


Tôi vừa đưa cốc lên môi thì ông Bồng vào. Tôi không muốn ngảnh lại, nhưng biết rằng ông sợ hãi lắm. Tôi uống một ngụm hết nửa cốc. Tôi để ý đến tiếng guốc của ông sau lưng tôi.


- Cậu! Sao cậu lại thế...


Giọng quở trách của ông tự nhiên khiến tôi tức giận. Trước nay, tôi vẫn thường nể người đày tớ già. Lão trực tính, cái gì cũng nói ngay. Nhưng trong trường hợp này, tôi thấy tôi bị lão uy hiếp. Ý nghĩ ấy đưa sự tức giận đến sự liều lĩnh, cáu kỉnh. Tôi ngảnh lại, trợn mắt nhìn ông như đe dọa một kẻ dưới hỗn hào. Ông lão nhìn tôi buồn bã, rồi cúi đầu quay ra.


Tôi uống với người bạn già hết cốc này sang cốc khác. Rượu mạnh, chúng tôi uống không pha nước lọc.


Ông móc túi lấy chiếc tẩu thuốc lá. Chiếc tẩu khá lớn, kiểu đẹp, bóng mồ hôi tay. Bấy giờ gian buồng đã tranh sáng tranh tối. Ánh lửa lòng tẩu lóe lên làm sáng đường sống mũi dài và láng lên tảng trán hói. Nạm thuốc đượm lửa se thành tiếng, và tiếng “bập bập” ở môi ông già khiến tôi, trong khi chú ý ngắm cái khuôn mặt choắt lưỡi cầy của ông, vụt nghĩ đến một loài rắn gì đó đang hút gió.


Tôi ngồi yên nghe hơi rượu mạnh ngấm vào mạch máu. Phải nói là tôi bắt đầu say thực sự. Còn ông bạn già vẫn tỉnh, duy đôi mắt ông lim dim, hẳn không vì rượu, mà vì khói lên đọng bờ mi mắt.


- Bữa nọ tôi đã kể với ông rằng tôi là thương gia đấy nhỉ. Ờ, xưa kia, tôi là một thương gia. Tôi còn làm nhiều nghề lắm, ở nước tôi, ở nước người. Tôi là một kẻ đi lang thang, làm ăn cần cù và nhẫn nại. Ông ạ, vàng bạc tôi kiếm được của trái đất này trong mấy mươi năm trẻ trung, một nửa đã bị mất trong một vụ đắm tàu, một nửa thành than tro trong một nạn cháy nhà vì chiến tranh ở châu Âu. Cái tin nạn sau này tôi mới biết.


Tôi tay trắng, nếu không kể ngôi nhà cuối cùng, tức là tất cả những gì là mồ hôi nước mắt của tôi; ngôi nhà đẹp quá, ồ, ông thứ cho cái lỗi tôi tự khen như vậy. Nhưng thực thế, ngôi nhà đẹp nhất theo tôi nghĩ, làm mất ít tiền thôi, giản dị thôi, vậy mà tôi thách tất cả các nhà kiến trúc, tất cả các tài năng thầu khoán có thể nghĩ ra một kiểu nào lạ hơn, dễ thương hơn thế nữa.


Ông bạn già ngừng lại úp hai bàn tay vào mặt, ông ngồi yên như vậy lúc lâu. Một lát ông bỏ tay ra, gõ cái tẩu thuốc vào cạnh bàn. Giọng ông thấp xuống, thầm thì như nói với mình:


- Than ôi, thật là tay trắng, thật là mồ hôi nước mắt ra sông. Tôi cần cù tha mồi, đắp tổ, thế rồi một phút nghịch ngợm độc ác của đàn con trẻ công trình của tôi bỗng sạch sành sanh!


Ông già lại gục đầu mãi xuống. Nhưng bỗng ông đứng phắt lên ngay. Ông không muốn tôi biết ông khóc.


Vội vàng ông mặc áo, chụp mũ ra cửa. Ông bắt tay tôi rồi vội đi ra mưa. Đứng dưới mái hiên nhìn ông ta khuất, tôi mới quay vào. Ông Bồng đã đứng sau lưng tôi. Đôi mắt ông nghiêm trang, buồn bã, và bực bội, như lúc ông can tôi uống rượu. Tôi thấy sợ đôi mắt người tớ trung thành bèn đi thẳng vào giường. Ông Bồng thắp đèn, tôi bảo thổi tắt đi, để yên tôi trong bóng tối.


Đêm ấy vào khoảng gà gáy canh hai, tôi ho nhiều. Ông Bồng ngồi suốt sáng dưới chân tôi.


***


Cách hai tháng sau, ông bạn già mới lại đến. Nhưng lần này vào một tối sang hè sáng trăng.


Tôi ngồi trong phòng sách. Ông đứng trước mặt tôi lúc nào không biết. Hơi rượu ở ông sặc sụa. Tôi đang đọc dở một cuốn tiểu thuyết của Stefan Zweig.


Ông già rầu mặt lại, gõ cái tẩu vào bàn tay (đó là dấu hiệu khi ông xúc động). Đầu ông gật gật, mắt nhìn ra những bóng lá in xuống mảnh sân xanh ánh trăng.


- Phải, phải... nhà văn mới tự sát hồi năm ngoái này là cây bút yêu thích của tôi đây. Tội quá! tội quá!


Ông bạn già không ngồi, cáo đi ngay, nói là có người đợi ở bên ngoài.


Tối hôm sau, trăng sáng hơn, tôi lững thững ra đường bách bộ. Ánh trăng giãi trên con đường bụi trắng, bóng tôi đổ lẫn vào bóng lá cây.


Đến một ngôi nhà lợp rơm, kiến trúc dân Chăm, tôi lại quen thói thường đứng lại. Ngôi nhà ấy mới dựng chừng một hai năm nay, tôi yêu thích lắm. Tôi đoán chủ nhân tất phải là tay lịch duyệt, đã già, đã trải sự đời, đã chán chường tất cả, về đây an dưỡng. Cho nên tuy chưa hề trông thấy chủ nhân lần nào, tôi cũng thầm kính trọng mỗi lần qua đó.


- Kìa, ông bạn trẻ tôi ơi!


Người vừa reo lên đó, ở một chỗ tối nhất đi ra. Ông bạn già tôi, ông bạn đã kể qua cuộc đời cho tôi nghe trong một lúc có lẽ lòng đau khổ nhất, cảm động nhất, tiếc hận nhất.


Ông thì thầm bên tai tôi:


- Đấy, cái cơ nghiệp cuối cùng trong cuộc đời cần cù của tôi đấy ông bạn ạ. Tôi gây dựng nó, để dưỡng tuổi già với vợ tôi. Vợ chồng tôi ở đây được vừa hai tháng. Ờ... ờ... đã có ít nhiều đêm trăng đẹp như thế này, đôi mái tóc trắng của chúng tôi đã sát vào nhau trên bao lan kia. Vậy mà ngày nay cơ nghiệp kia đã không thuộc về chúng tôi nữa! Ông bạn ơi! ông có hiểu tại sao không? Nhưng đó cũng chỉ là sự thường ông ạ. Việc  tôi được hưởng hay không được hưởng nữa, âu cũng là ý trời. Tôi không phàn nàn gì cả. Duy chỉ còn tối tối, nhất là những đêm có trăng, tôi, có khi cả vợ tôi, nếu bà ta không ốm, thường qua nhà cũ để nhìn ánh sáng đèn quen thuộc dọi ra quãng đường vắng vẻ này.


Chợt ông già im lặng. Mắt ông mở to. Miệng ông mím chặt lại. Hơi thở ông rộn gấp. Cái gì? Tôi nhìn theo chiều mắt ông nhìn. Ở trên bao lan có hai cái đầu xanh. Tiếng hát êm ru của một người con gái bay ra ngoài. Bóng áo như bóng hoa qua lại bên rèm. Tiếng đàn vọng mênh mông. Tiếng cầm ca hay tiếng kiếm cung reo - tôi mơ đến một tiệc yến oanh của một tướng công nào thuở cũ.


Ông bạn già kéo tay tôi đi. Âm nhạc xa dần sau lưng tôi, xa và buồn như tiếng kêu của một đàn hải âu bay lang thang trên một vùng cát cồn sương gió.


Đến cổng trại ông bạn già nắm chặt tay tôi, từ biệt. Lần này, ông nhìn tôi lâu hơn mọi lần. Tôi lưu mời ông vào trại uống trà. Ông từ chối. Bóng ông, cong cong như một lưỡi liềm, mất vào những gốc cây quét vôi trắng.


Tôi vào nhà, cảm giác hoang mang như một kẻ vừa tàn cuộc rượu lúc xế chiều. Chiều xuống trong buổi đất trời gió bụi, hay trong cuộc đời tôi, đời ai.


 Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 457-1943


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
Sông Ba, Cầu Đà Rằng & Cầu Dinh - Giấc mơ 300 năm - Phạm Ngọc Hiền 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (11) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (10) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (9) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (8) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (7) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (6) - Huỳnh Quang 29.08.2019
xem thêm »