tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27711152
25.11.2018
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (tiếp 4)

Cuội già


Thằng Cuội ngồi gốc cây đa... Thưa rằng, ở trần gian này, lão cuội già của tôi hàng bao nhiêu năm nay ngồi ở lầu cao có hầu non đấm bóp, và xuống lầu ra đường thì lão ngự xe hơi.


Lão cố Cuội của cái thế gian toàn những cuội này rất phong lưu mà lại “phú quý sinh lễ nghĩa”, lão đã noi gương người quân tử thiết lập bàn đèn nha phiến ở trong buồng kín, hú hí với hầu non tiêm thuốc và khi say thì lơ mơ nhìn vào chụp đèn sáng bóng để ví cái đức lớn của mình cũng trong sáng như chất thủy tinh.


Cho ra vẻ con người hào hoa phong nhã, cố Cuội lại gây trong vườn rộng đủ tứ quý: thông, mai, cúc, trúc, và bể cạn có núi mẫu tử, có Bá Di, Thúc Tề, có khỉ trộm đào Vương mẫu, có cả Thái Thượng lão quân ngồi cửa hang luyện thuốc tràng sinh để nhìn vợ chồng ông Trạng nguyên áo gấm, chàng thì ngựa bạch, thiếp thì võng đỏ tàn xanh, và còn nhiều trò đẹp nữa.


Bởi thế tôi đã vội đến thăm lão Cuội tại tòa lầu hoa cao ngất ấy.


Đến nơi, thấy Cuội già đang đứng trầm ngâm trước hòn núi giả, màu đá mốc bụi rêu như bộ mặt nhuộm khói hun xám xịt của Cuội già, tôi cười nói:


- Tiên sinh sống thế này thật tuyệt. Bồng lai giữa lò sát sinh Hà Nội là đây chắc!


Cố Cuội không đáp vội, nhưng lộ rõ vẻ vui thích qua cặp kính gọng vàng quấn thêm chỉ đỏ xanh như lá bùa đeo trên mặt lão phù thủy già.


Cố Cuội gật gù chỉ vào lũ hầu tiên xúm quanh chiếc bàn cờ bên khe suối, bảo tôi:


- Loài khỉ kia còn là chơi muôn kiếp nữa cũng không xong ván cờ thiên cổ ấy. Ví như là ngày nay, ông nhỉ, lũ khỉ người còn cứ là khổ sở với ván cờ danh lợi. Cho nên, tôi đặt những con khỉ đánh cờ này bên dòng nước cạn khô là có cái ý sâu sắc của triết nhân, ông hiểu rồi đấy chứ?


Cố nhiên tôi phải nghiêng mình kính trọng cái ý kiến thâm trầm của kẻ cư sĩ cao điệu ấy. Lão lại dẫn tôi ra đường núi phía Nam, trỏ một đám rước vua. Tôi nhận thấy mặt lão nghiêm hẳn lại, và hai tay vòng trước ngực như một đại thần cầm hốt, nhưng cố Cuội không nói cái giọng đại thần, mà lại nói giọng một chính khách bình dân, nghĩa là lão chửi một câu rất đểu để tiết hết cả uất khí bấy nay tích lũy trong buồng phổi ám khói đen, rồi tiếp:


- Chứ lại không đáng chửi ư? Cái lũ “cuốc ra cuốc vào” vô quân vô phu này, chúng nó dám mở mồm kêu bỏ triều đình, bỏ mũ triều thiên, áo cẩm bào, tàn vàng tán tía, thì ra điên đảo quá. Tôi không thể nào chịu được cõi đời này nữa. Thế này thì ra, mẹ kiếp, quân cu li, thần cu li, dân cu li, tút mo cu li hả! Cuộc đời bá đạo, vô loài, cho nên lão cứ đánh mũ ni che tai, không muốn bước chân ra đường nữa.


Cố Cuội làm ngay ra điệu lão; lụ khụ chống ba toong, kéo tôi ngồi xuống ghế xi măng, nhìn khóm trúc ở bên cánh cổng mà nói:


- Đời vô đạo, đời hỗn loạn, nên tôi trồng khóm trúc để cho thằng bố Bộ nhà tôi mỗi khi nó đi công tác xa về, nhìn khóm trúc mà sửa mình, nắn đức cho ngay thẳng, như loài tre quân tử ấy. Vì vậy mà thằng cả Bộ nhà tôi nó theo được cái đạo thánh hiền, cho nên dân chúng ca tụng lắm.


Tôi quay nhìn mặt lão, để càng ghê sợ cặp kính quấn chỉ đỏ xanh của con yêu già đang lên giọng tôn quân ái quốc cổ võ cho cái danh vọng bẩn thỉu, xấu mạt của thằng con. Tôi cười, nói một câu trái khoáy:


- Thế mà báo giới nó vẫn công kích ông Bộ nhà ta rằng thụt két, rằng hiếp dâm, rằng... thôi thì đủ thứ. Cái đó có hại lớn cho cái dòng dõi đại thần của cụ, cụ có tin không?


Cố Cuội cười ba tiếng, trầm ngâm một lát, rồi gật gù dẫn một đoạn điển tích về Khổng Mạnh để cải chính cái việc mà thiên hạ dám bảo ông Bộ của cụ hiếp dâm, thụt két:


“Xưa đức thánh Khổng tuyệt lương bảy ngày. Thầy trò nhịn đói. Thầy Tử Lộ phát cáu nói rằng: “Quân tử cũng cùng đến thế ư!” Khổng tử đáp: “Quân tử mới cố cùng. Tiểu nhân mà cùng thì ắt làm bậy ngay”. Thầy Tử Cống vốn giỏi về khoa ngôn ngữ, có tính linh lợi, đi kiếm gạo mang về. Khổng Tử sai thầy Nhan Hồi (vốn đứng đầu trong số thập hiền) vào bếp thổi cơm. Cơm chín, Nhan Hồi bắc nồi ra. Thầy Tử Cống đứng bên ngoài nhìn vào thấy thầy Nhan mở vung bốc cơm ăn trước. Tử Cống lên nhà hỏi Khổng Tử: Đã là bậc hiền có thể thay đổi khí tiết được không? Thánh Khổng dạy rằng:


“Đã là bực hiền, khí tiết như giăng sao, không mây nào che khuất được”. Tử Cống nói: “Chúng tôi theo thầy, đói no cùng chịu. Sao Nhan Hồi đã mở nồi ăn cơm trước”. Khổng Tử cười: “Ta dám cả quyết Nhan Hồi không làm sự đó. Ắt hẳn có duyên cớ chi đây”. Bèn gọi thầy Nhan hỏi. Thầy Nhan vòng tay đáp: “Tôi mở vung thấy lẫn ít tro than bẩn, bốc toan vất đi, nhưng lại nghĩ rằng ngũ cốc là vàng ngọc, cho nên tôi bỏ miệng ăn...”. Khổng Tử gật đầu khen phải. Thầy Nhan xuống dọn cơm. Thánh Khổng bảo học trò: “Ta đã bảo, khí tiết hạng người quân tử không bao giờ đáng nghi ngờ, vì nó không bao giờ thay đổi hết!”.


Trịnh trọng dẫn xong kinh điển, Cuội già nghiêm mặt tiếp:


- Đấy, ông ngẫm mà coi, nhà tôi có trúc lâm, tất phải có thất hiền. Bảy thằng con tôi, ba thằng làm quận trưởng, hai thằng làm tỉnh trưởng, thằng út làm to nhất, tựu chung cả bảy đứa đều là bậc Nhan Hồi. Cho nên tôi đã hiểu thấu con tôi thẳng như trúc, sáng như giăng. Thế thì mẹ kiếp, có khi nào tôi lại tin rằng nó hiếp dâm, nó ăn cắp tiền, cho dẫu là hiếp những con đàn bà ở cái thời loạn này không cần đếch gì trinh tiết, cho dẫu là chọc két moi tiền không lấy gì làm sạch lắm thì cũng ví như thầy Nhan bốc cơm hớt ăn cho khỏi phí của giời, thế mà thôi! Làm cái thá gì mà cứ chửi nhặng cả lên, hả hả!


Lão cố Cuội trỏ vào mặt tôi mà hỏi, công phẫn như một đại thần trí thức bị thằng nhỏ rình bắt được quả tang đã hiếp cả vú em.


Tôi cả sợ, vội ra đường. Vả ngoảnh lại, tôi thấy lão Cuội già ung dung đứng dậy, khoanh hai tay trước hòn núi giả sơn, có lẽ để suy nghĩ nhiều thêm nữa về ván cờ liên miên bất tuyệt của loài khỉ độc trong cái cảnh nước non đầy bụi xe chinh chiến ấy.                   Ông Chọc Tiết, Nxb Ngày Mai, 1950


 


Điêu tàn


Hòn giả sơn ấy bây giờ rêu đã bám đầy, cỏ mọc bộn bề chen chúc, những hình người, cầu, quán hoặc rơi, hoặc gẫy gần hết cả.


Tôi nhớ thầy tôi đắp nó mất nhiều công phu lắm, phải mất non một tháng mới hoàn thành.


Hồi đó, tôi học trên trường huyện, cách làng một cánh đồng ngô, một con sông đào, và một dải quan lộ chừng ba cây số. Cứ đến giờ tan học là tôi vội ôm sách chạy cho chóng đến làng. Về tới nhà, tôi quẳng sách vào lòng bà tôi, rồi chạy ra vườn xem thầy tôi chắp núi. Tôi xem mê mải quên cả đói, quên cả thú tắm ao, và quên cả vòi quà chợ của mẹ tôi. Tôi lấy rơm rải xuống đất ngồi chăm chú coi thầy tôi chọn những tảng đá ong, những tảng đá mà một chiều kia chị tôi nặng nhọc gánh từ chùa Long Giáng ở trên núi Nguyệt về. Những hòn đá ấy do sư cụ biếu thầy tôi, và thầy tôi khen mãi là quý lắm.


Để giúp thầy tôi, tôi tranh lấy cái việc nhào xi măng, khuân đá, và múc nước. Tôi thích chí, chạy lăng xăng, tỏ cho bà tôi, mẹ tôi, chị tôi biết rằng tôi là đứa bé hay làm, được việc.


Sau bao nhiêu ngày sửa chữa mãi, ngắm nghía mãi, thầy tôi mới bắt đầu trồng cây, trồng cỏ. Thôi thì đủ thứ. Thực là một cánh rừng con. Rồi một hôm tôi thấy thầy tôi cắp cái ô, ra bến tàu. Và hai ngày sau, thầy tôi về không kịp cởi áo, không kịp ăn cơm, đã xăm xăm ra vườn, ngồi tháo cái túi vải, dốc ra bao nhiêu là hình người, bao nhiêu là con thú, và những cái cầu, cái quán...


Thế rồi, trọn một ngày, thầy tôi đứng gần, đứng xa ngắm tìm địa thế để bắc cái cầu ngang hai đầu ghềnh đá cheo leo, trên đó một đạo sĩ cưỡi lừa nhìn bóng nước; để đặt một lão tiều gánh củi leo lên sườn núi hiểm; để đặt tít trên đỉnh non cao hai ông lão bạc đầu ngồi nâng bầu dưới gốc cây tùng; để dựng một túp lều tranh xơ xác bên con đường núi vắng, mọc toàn những trúc, cùng thông...


Thầy tôi, một buổi chiều say ra vườn ngắm cõi giang sơn cẩm tú ấy, bỗng cười vang, có lẽ thầy tôi đắc trí về cái tài tạo nên non nước của mình chăng!


Còn tôi, tôi cũng vui thích lắm. Tôi ngắt chiếc lá đa làm thuyền, thổi cho nó trôi qua dưới gậm cầu, chui vào lòng hang sâu. Nước bể trong leo lẻo, tôi vụt nghĩ: nếu có một đàn cá vàng óng ánh bơi trong đó. Nhưng chợ quê làm gì có cá vàng. Một ý tốt nảy ra: tôi liền vác vợt chạy ra sông. Lát sau tôi đã cuống quýt chạy về, thả mấy con cá mại nhỏ vào bể nước. Chúng bơi vào lòng hang, lượn quanh chân núi, rúc vào búi cỏ tóc tiên mọc sà xuống chân cầu. Sắc chúng trắng ngần, loang loáng như những đồng hào mới ai ném thia lia trên nước.


Từ đấy, những đêm trăng hè, thầy tôi thường sai bắc chõng ngoài vườn, bên hòn non bộ, cùng bà tôi, mẹ tôi, và chị em chúng tôi ngồi hóng mát. Bà tôi và mẹ tôi thì nói những chuyện mùa màng, những chuyện ngoài làng trong xóm, chị tôi thì ngồi tỉa ngô ra mẹt để mai phơi; còn tôi thì nằm gối đầu lên đùi thầy tôi, ngửa mặt ngắm những sao trời rung rinh lọt vào các chòm lá cây thưa thớt.


Cảnh gia đình thân mật bên hòn non bộ đã khiến lòng tôi nao nức, chứa một nỗi vui sướng khôn cùng.


Nhưng cái hạnh phúc nhỏ mọn ấy chưa bền được bao lâu thì tử thần đã cướp mất thầy tôi. Tôi còn nhớ trong khi thầy tôi mang bệnh mà vẫn gượng ra vườn thăm hòn non bộ, vẫn còn cố bới nhặt những con sâu ăn hại lá cây non.


Một đêm, trời nổi cơn giông tố. Sáng sớm hôm sau, thầy tôi dậy trước cả mọi người, chống gậy ra vườn. Thầy tôi lấy hết sức đẩy cây chuối lớn đêm qua bị gió bão làm bật rễ đè ngang lên hòn núi giả. Đẩy được thân cây chuối ấy ra rồi thì thầy tôi loạng choạng phải vịn vào thành bể thở một hồi như bị đứt hơi. Khi đã định thần, thầy tôi lại càng thêm đau đớn vì những cây cỏ bị tơi bời dập nát, một tảng đá lớn bị rời ra lăn xuống nước làm chết một con cá mại, hai ông lão bạc đầu ngồi nâng bầu trên đỉnh núi bị cụt mất nửa người, cả cái quán cheo leo ngang ghềnh đá cũng rơi đâu mất.


Thầy tôi đứng lặng một hồi lâu trước cảnh điêu tàn ấy, rồi buồn rầu chống gậy vào nhà. Nằm xuống giường, mắt thầy tôi đờ dại, Người nắm lấy tay tôi căn dặn:


“Dũng ơi, con phải sửa sang lại hòn non bộ ấy cho vững bền, đẹp đẽ hơn lên nhé! Con phải trồng thêm cây lạ, gây thêm cỏ quý, phải tìm nhặt loài sâu bọ luôn luôn.


“Mai sau, đã lớn khôn, dù phải xa lìa làng xóm mà đi tha phương cầu thực, con cũng nên đôi khi kiếm dịp trở về nhìn đến hòn non bộ của thầy. Nó là một vật mà lúc sống thầy yêu quý nhất, và lúc chết thầy để lại cho con làm di vật, trọn đời con phải yêu quý nó, không bao giờ nên hủy hoại, coi thường. Con nhớ lấy...”.


Thầy tôi buông lỏng tay tôi; tôi đưa tay lên mũi Người. Người tắt thở rồi.


Cỏ trên mồ người cha yêu quý của tôi đã phủ đầy..., mà hòn giả sơn - bị bỏ quên từ bao tháng ngày trong khu vườn hoang phế - cũng đã phủ đầy lá úa, rêu xanh.


Sự di dịch của thời gian đâu có cho tôi sống mãi bằng không khí của cái làng con con mà ở đó tôi đã gửi một đoạn nhau thuở lọt lòng.


Gia đình tôi bị tấm màn đen che kín, tự ngày thiếu mất thầy tôi. Mẹ tôi sinh ra đau mắt, rồi thành mục tật. Chị tôi, - người đàn bà mất chồng sớm quá! - phải nai lưng làm nuôi mẹ cùng em. Không đủ tiền mua giấy bút, tôi phải bỏ trường huyện, bỏ ông thầy thân kính để ở nhà tối ngày dắt mẹ lòa ra vườn, xuống bếp, ra sân... Đã một lần, tội nghiệp bao nhiêu, mẹ tôi không tìm thấy gậy, loáng quáng va mạnh vào cột nhà sưng tím trán. Lại một lần, vấp vào cây cau ở giữa sân, bị ngã phệt xuống vũng nước bùn, áo quần bê bết. “Mẹ ơi, như thế thì dù chị con có kiếm đủ tiền cho con mua giấy bút, con cũng đành xin thôi học,... huống chi cơm xới dâng hầu mẹ đã không đầy bát, mẹ còn khóc chi mấy đêm ngày, khi biết con bỏ học rồi”.


Một ông chú tôi, ở ngoài tỉnh tiếc vì thấy tôi sáng sủa, thông minh mà không được học, nên một hôm về quê chơi, ông ép mẹ tôi phải cho tôi theo ra tỉnh học.


Tôi nhớ mãi một buổi tinh sương, con gà trống ngoài chuồng vừa gáy thì tôi giật mình, choàng thức dậy. Mới ngồi nhỏm lên, tôi đã thấy trong ánh sáng mờ mờ từ ngoài sân chiếu lọt vào kẽ liếp, mẹ tôi đang ngồi trên chiếc chõng, sờ soạng đếm mấy chiếc quần áo cũ của tôi rồi bỏ vào khăn gói. Ở góc nhà, chị tôi cũng đang ngồi lau sạch miếng bẹ cau non gói cơm nắm cho tôi.


Gói xong cơm, chị tôi xách chậu ra bể múc nước mưa bưng vào cho tôi rửa mặt. Chợt tiếng còi tàu ngoài bến sông đưa lại khiến lòng tôi rộn rạo, bồi hồi. Tự nhiên nước mắt tôi cứ trào ra mãi. Mẹ tôi mấy lần giục tôi mặc áo và ăn lót dạ bát cơm rang.


Than ôi, chỉ nghe tiếng nói run run ở Người, tôi cũng biết rằng trong cặp mắt lòa kia đã tràn đẫm lệ như tôi, và trong tấm lòng già héo của Người đã có một lưỡi dao sắc mới len vào.


Tôi đang cố nuốt miếng cơm rang khô cháy mà mẹ tôi, chị tôi ngồi liền bên cạnh giục ăn cho đỡ đói thì còi tàu thủy ngoài sông lại văng vẳng lọt vào tai tôi lần nữa. Bỏ bát cơm xuống, tôi chạy ra bể uống ngụm nước mưa, rồi làm ra bộ mình cứng cáp như người lớn, tôi xách bọc áo quần và cơm nắm, chào mẹ tôi rõ thật to: “Lạy mẹ, mẹ ở lại nhà...”. Nhưng lòng tôi quặn lại. Tôi khóc nấc lên, không sao nói thêm được nữa.


Mẹ tôi bảo chị tôi dắt gậy cho Người tiễn tôi ra tận bến tàu. Song tiết trời rét lắm, tôi phải xin mấy lần Người mới chịu thôi.


Lên đến mặt đường đê, đi được một quãng xa, tôi còn ngoảnh đầu ngó lại. Bỗng hai chân tôi không bước được nữa, vì tôi vừa trông thấy mẹ già tôi đứng ngoài cổng tre giơ tay vẫy, vẫy... “Hỡi ơi, người mẹ mù lòa nghèo khổ của con! mẹ có thấy con đi về ngả nào không mà vẫy? Mẹ có thấy trời ở đâu không, đất ở đâu không? Sao mẹ không cho con ở nhà hầu hạ mẹ? Chỉ vì mẹ thương con quá, mẹ không muốn con là đứa trẻ nhà quê chăn trâu, cắt cỏ, trọn đời ngu dốt. Mẹ muốn con đi học để xứng đáng làm người. Mẹ! Mẹ là Trời của con, là Đất của con, là Đấng thiêng liêng để con thờ, con kính...”.


Một hồi còi tàu nữa lại vang lên ở ngoài sông, buồn thảm quá. Chị tôi sợ nhỡ tàu, vội kéo tôi đi. Gió lạnh thổi vun vút ngang đồng nước, rít lên một hơi dài rồi tắt đi ngay. Tôi run lập cập nép vào chị tôi mà bước. Tôi cầu mong sao cho tôi bị nhỡ tàu.


Nhưng con tàu vô tình ấy đã vượt qua con sông dài, đem tôi đến chốn phồn hoa. Ở nơi đây, tôi đã được sống trong trường học, đã được sống cả ở trường đời để cho lịch duyệt, học vấn cởi mở dần dần bộ óc của tôi. Tôi đã biết say mê thú đọc sách trong thư viện như những người thanh niên khác say mê nhan sắc. Tôi đã biết miệt mài với những pho sử ký nước nhà để mà thương tiếc các đấng anh hùng xưa đã chết vì đất nước, non sông. Tôi đã biết yêu tha thiết bức bản đồ to lớn ghi rõ bao nhiêu sông núi, bao nhiêu biển cả, bao nhiêu rừng rậm, trên đó phảng phất một linh hồn sống mãi muôn năm...


Đã lâu lắm rồi, hôm nay tôi mới có dịp trở về làng nghỉ ngơi ít bữa. Lại như những ngày xưa, cứ đến buổi chiều, tôi dắt mẹ ra vườn, ngồi bên hòn núi giả, nhớ đến cha tôi, bởi tôi cứ muốn tin mãi rằng linh hồn cha tôi còn ở đây. Cái giang sơn nho nhỏ của cha tôi buổi sinh thời ngày nay đã quá điêu tàn: rêu mốc bám đầy, cỏ cây mọc bộn bề, chen chúc, những hình người, hình thú, cái cầu, cái quán hoặc rơi, hoặc gẫy gần hết cả. Tôi đau đớn vì không theo được lời cha tôi căn dặn lúc lâm chung. Nhưng luật sống bắt tôi phải làm người con bất hiếu, biết làm sao được.


Một buổi chiều, tôi ra vườn, định sửa sang lại hòn non bộ dù biết rằng không thể tạo cho nó thành “một vùng nước non cẩm tú” để mà chơi song cũng có thể làm cho nó đỡ vẻ điêu tàn đôi chút, và lòng tôi nhờ đó cũng vợi đi nỗi ân hận.


- Con ơi, đứng làm gì mãi đấy?


Mẹ tôi lần gậy, bước đến sau tôi tự lúc nào không biết. Người đặt tay lên vai tôi, khẽ bảo:


- Giời nắng đến nỗi áo nóng lên thế này còn chịu khó đứng, nhỡ rức đầu thì khốn. Mà con đang làm gì vậy?


- Thưa mẹ, con sửa lại hòn non bộ.


Mẹ tôi không nói. Sự im lặng ấy khiến tôi phải lo lắng băn khoăn. Tôi ngửng lên nhìn; trong cặp mắt lòa của mẹ tôi đã có vài giọt lệ.


Tôi nắm tay Người một lát, Người kéo tôi đến gần, nói thì thầm bên tai tôi như hơi gió:


- Cái gia sản này mẹ đã gạn bán cho ông Chánh hội rồi, đúng ngọ hôm nay, người ta đến làm văn tự. Hòn non bộ chốc nữa về tay chủ khác, con còn sửa sang lại làm gì, con!


Tôi nhìn chằm chặp vào mắt mẹ tôi. Không phải rằng tôi chua xót vì nỗi mất mấy gian nhà cũ kỹ, tôi chỉ đau đớn vì từ đây cái kỷ niệm yêu dấu của cha tôi để lại không còn nữa.                                                                                                  


Sáng tác năm 1933, Đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, số 225 năm 1938


 


Ông thầy đờn


Tố Hà ạ, hàng ngày có những cảnh rất tầm thường, những chuyện rất tầm thường, tầm thường quá đến nỗi người ta không cần lưu ý tới, mà sao tôi cứ phải bận lòng, không thể nào quên được dễ dàng.


Bạn vẫn giễu tôi:


- Nghề tiểu thuyết của bọn anh lôi thôi lắm. Thấy được cái gì, nghĩ được cái gì, nghe được cái gì, là tức khắc các anh bắt chộp ngay lấy mà viết cho thành truyện, y như người đi săn vớ được mồi ngon.


Tôi không cãi Tố Hà.


Tôi muốn nhắc lại hồi năm tháng trước, một nghệ sĩ và tôi vào chơi Nam Kỳ. Chúng tôi đã thấy trong sinh hoạt ồn ào, phong phú của Sài Gòn Chợ Lớn một cảnh khiến tôi nhớ mãi đến ngày nay. Đó là một người đàn bà mù, trán hói cao, mặt xương xương như khuôn mặt đàn ông, thường ngồi lê la ở các sân ga xe điện. Mụ gẩy đờn bầu và hát cải lương, bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm lạ lùng! Trước mặt mụ, một cái thau đồng nhỏ. Bên lòng mụ, một đứa bé gái uể oải gõ cái que theo nhịp mẹ hát, và hai đứa trẻ gày gò chốc lở dựa vào nhau mà ngồi im lặng cho ruồi nhặng bám khắp mình. Mỗi lần đứa nhỏ khóc, con chị lại bỏ chiếc que đánh nhịp xuống đất, dỗ em. Nó dỗ không được, mụ phải ngừng hát để ẵm đứa nhỏ lên lòng. Chờ lúc nó chịu nằm yên, mụ mới dờ dẫm vặn trục đàn, lên dây lại, dạo vài tiếng rồi lại ca nốt bài Tứ đại oán, Vọng cổ hay là Trường tương tư, kể lể một đoạn tình dang dở hay là tốt đẹp của một vị tiểu thư nào đó, một vị Vương phi nào đó..., - bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm ấy.


Từ biệt Nam Kỳ, biết bao cái đẹp, cái vui, tôi không nhớ, - tôi chỉ nhớ có tiếng đàn bầu, giọng hát của mụ lòa, tôi chỉ nhớ hình ảnh bàn tay run rẩy của mụ lòa mỗi lần rời bỏ chiếc que đờn để vỗ về đứa con nít khóc, dịu dàng ru cho nó nín, rồi lại hát, vẫn hát, - bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm lạ lùng.


Có những tối mùa đông, tôi lạc vào một gia đình, ở đấy, bạn tôi rót mời tôi li rượu mạnh. Lòng tôi tự nhiên vui vì được nhìn lửa réo trong lò, được nhìn vài đứa trẻ kháu khỉnh đùa nghịch cười khúc khích trong chăn ấm, một cô bé tóc xanh hãy còn buông xõa chui đầu vào mền học nhẩm lại bài thi.


Tôi cũng thấy lòng say, mỗi lần được lạc vào một căn phòng, ở đấy, bạn yêu tôi kiêu căng như một bà hoàng, ném cho tôi cái nệm bảo ngồi, ấn điếu thuốc lá vào tận môi tôi, đánh diêm châm cho tôi hút rồi cứ để tôi ngồi yên dưới gối, bạn nằm dài trên đi văng đọc nốt trang sách quý bạn đang mê... Quanh chúng tôi là im lặng.


Có những đêm gió réo lào xào, mưa nặng hột đập vào cửa kính, tôi thoáng thấy hai bóng người dắt díu nhau chạy vụt qua để ẩn dưới mái hiên. Đó là một kẻ gần mù đưa đường cho một kẻ đã mù, hai người “nghệ sĩ”... bán lạc rang, đem nghệ thuật ra dùng để nuôi nghề và để sống với nghề. Trong bóng tối, họ cất tiếng sáo lên..., sầu não làm sao, réo rắt làm sao! - bạn yêu tôi để rơi cuốn tiểu thuyết tình xuống ngực. Tiếng sáo phả vào mưa gió xa dần, xa mãi, vì trong bóng tối, hai người “nghệ sĩ” đang dắt díu nhau, lang thang khắp hang cùng, ngõ hẻm của Hà thành...


Lòng tôi ám nặng một u hoài. Tôi sực nhớ đến mấy bạn cùng nghề của tôi, lúc này đang quây quanh một khay đèn trong tiệm hút, say sưa bàn về một tờ báo sắp ra đời... Tôi sực nghĩ tới một thi sĩ, quần áo tồi tàn nhem nhuốc, mang sách đi chào bán tận từng nhà, nhưng mà chẳng ai thèm nhìn đến tập thơ của ông.


Có những đêm khuya vắng, ở một cuộc vui trở về nhà, mùi rượu, mùi thuốc phiện, mùi phấn chưa bay hết, nằm dài trên chiếc xe buông kín mui, tôi đã thấy, trong sương lạnh xuống mù trời, một bà lão già ốm yếu cúi lom khom, nhặt những lá khô rơi rải rác giữa mặt đường, trên hè gạch, ném vào đôi thúng gánh đi. Bà lão cứ lom khom nhặt thế mãi, đi thế mãi, hết đêm này sang đêm khác, hết cả một mùa đông.


Còn biết bao cảnh tầm thường hơn vậy, tầm thường quá đến nỗi người ta không thèm lưu ý tới, nhưng tôi cứ phải bận lòng, không thể nào quên được dễ dàng.


Tố Hà có hiểu tại làm sao?


s


Bây giờ, đến chỗ tôi cần giới thiệu cùng bạn đọc ông thầy đàn mù của tôi: ông Sáu.


Ông Sáu nằm bên khay đèn thuốc phiện với một người bạn phong trần.


Người bạn phong trần, mỗi lần tiêm xong, lại lẳng lặng gí đầu dọc tẩu vào môi người mù. Người tàn tật này bắt ngay lấy mà hút một cách ngon lành, rồi lại nằm yên, ngửa mặt lên trần vôi ám khói. Họ không nói với nhau một câu, mà cũng chẳng còn gì mà nói với nhau nữa, vì trong ký ức họ, trong lòng họ có bao nhiêu câu chuyện cũ, họ đã kể cho nhau nghe hết cả rồi. Bây giờ, họ chỉ ngấm ngầm chịu những nỗi đau đè lên tâm hồn họ, bây giờ họ chỉ thầm tính toán làm sao đủ bữa hút chiều nay, bữa hút sáng mai... Những ước vọng lấp biển vá trời đã chết theo với tuổi trẻ, những thời phí bạc ngàn mất đi, ngày nay họ chỉ nghĩ đến sự tần tiện từ đồng hào, đồng trinh nhỏ, tới một chút sái vụn rơi xuống chiếu, khay đèn.


Nghe tiếng giầy bạn tôi, ông Sáu ngồi nhỏm dậy, nói giọng Huế, bởi ông là người Huế:


- Thầy Mai đó phải không? Tôi nghe nói thầy đờn tấn bộ lắm rồi. Bữa nay thầy xuống xóm hát hề?


Mai không muốn ông thất vọng:


- Tôi đưa một ông bạn xuống học đàn.


Gương mặt ông Sáu vụt tươi lên, cặp mắt mù tựa hồ muốn mở to ra để nhìn cái người mà thần Tài đã run rủi đến để sắp đưa cho ông một món tiền.


Người bạn phong trần của ông Sáu là người Bắc, từ nãy nằm yên cũng ngồi nhỏm dậy, cười niềm nở:


- Thầy học đờn, thực là nên lắm, hay lắm, vì đó là một lối chơi nghệ thuật hơn hết thảy. Chúng tôi sẽ xin hết lòng, hết sức.


Thế rồi, ông Sáu và người bạn phong trần xoắn xuýt lấy tôi, nói toàn về âm nhạc. Hai cái xác ban nãy nằm như chết, lúc này cùng đột nhiên sống lại, nói rất nhiều. Thành thử, tôi không từ chối được, vả thực tình thì chẳng nỡ, nên tôi buộc lòng làm người học đàn bất đắc dĩ, lỗi đó là ở bạn Mai tôi.


- Chừ, thầy học bài Nam, há? Phải, ai mới học cũng bắt đầu bằng mấy bài Nam. Nhưng chắc thầy đã tập qua đờn rồi?


Không muốn khoe mình đã biết âm nhạc tây tự lâu năm, tôi đáp ông thầy đàn rằng tôi chưa biết gì, mà cũng chưa mó đến cây đàn bao giờ cả.


- Chừ, thầy hãy xơi nước đã. Hương đâu mầy? Con pha trà dâng hai thầy đi con.


Hương là một thiếu nữ mới lớn, đẹp một vẻ buồn của người xứ Huế. Nước da Hương xanh dìu dịu, có lẽ nàng không đánh phấn, nhưng đó chưa hẳn là một cớ, mà còn cớ nữa khiến tôi phải hoài nghi: biết đâu đó chẳng là màu da của một người thức nhiều đêm trắng vì nghề. - Nàng đeo kiềng và mặc áo màu lá cây non, màu áo ấy, gương mặt ấy đủ gợi cho tôi nhớ đến tất cả những cô gái kinh kỳ xa xưa, nhưng bao giờ cũng sống trong lòng tôi.


Hương nhè nhẹ bước tới gần, cười nụ:


- Rước thầy xơi nước.


Nàng đặt chén nước trà loãng gần như nước lã bên tay tôi, rồi lui ra đứng thập thò ngoài cánh cửa.


Ông Sáu vừa giơ tay sờ soạng, Hương đã vội bước vào kéo cái ống điếu, nạp thuốc vào miệng điếu, đánh que diêm, chờ cho ông Sáu hút xong, nàng mới lui ra, đứng ngoài cánh cửa.


Người bạn phong trần của ông thầy đàn giơ tay với lấy cây tam thập lục đưa Mai, rồi ông với cây tỳ bà để lên lòng mình, cười như một người sung sướng nhất trần ai:


- Chúng ta hãy họa chơi một bản cho vui đã, thầy Mai.


Mai không lưỡng lự, họa liền.


Dứt bài ấy, đến lượt ông thầy đờn mà tôi đang muốn được biết tài nghề.


Ông Sáu ngồi chững chạc, nâng cây nguyệt lên, sửa qua cung bực, gẩy bài Tứ đại.


- Hương ngồi ca hai thầy nghe, con!


Hương bẽn lẽn bước ra, vén áo ngồi ghé trên đầu tấm ghế gỗ dài tôi đang ngồi. Tôi nhận thấy Hương vì sợ lệnh cha, hơn là vì sự chiều khách mà ca.


Nghe tiếng đàn thần của tay nhà nghề chơi đàn đã ba mươi năm có lẻ, nghe giọng ca hay của cô gái Huế trong ánh đèn vàng đục ở một căn phòng nhỏ hẹp, tôi đê mê cảm như mình đang ngồi trong một khoang thuyền trôi giữa dòng sông Hương lặng lẽ những đêm nào..


Hết bài Tứ đại, ông Sáu đặt cây đàn xuống chiếu, khiêm tốn nói:


- Bữa ni, tôi đờn không hay, mà con bé cháu nó mắc ho nên ca cũng dở quá chừng.


Ông còn nói khiêm tốn vài câu nữa, tuy chúng tôi đã hết lời khen tài nghệ của ông và của cô Hương. Hương nhìn tôi bằng đôi mắt cảm ơn, hai má nàng hây hây đỏ. Tôi không biết nàng thẹn vì nàng vui sướng, hay vì một lẽ gì.


s


Tôi hẹn ông Sáu: một tuần lễ tôi chỉ có thể đến nhà ông một lần vào chiều thứ Bảy.


Hôm nay mới là thứ năm. Chín giờ tối ở thư viện ra, tôi không có việc gì làm, không muốn về nhà vội, mà cũng chẳng biết đi đâu. Tâm hồn tôi nhiều khi có một cái trống rỗng mênh mang ấy. Lòng tôi nhiều khi bị xâm chiếm bởi những nỗi chán chường nó làm cho tôi thành kẻ chán đời. Đường vắng, ít người và xe pháo. Những chiếc lá bàng run trên cành khô lừ lừ bay xuống, chạy xiết trên mặt hè ướt át. Nhớ đến gian phòng tối tăm ấm áp của ông thầy đàn Huế, tưởng tượng đến bàn tay xinh nhỏ của cô gái Huế sẽ bưng chén trà nóng mời tôi, tôi gọi xe kéo xuống Khâm Thiên.


Thấy tôi đến không nhằm thứ Bảy, ông Sáu ngạc nhiên, mừng. Còn Hương, tôi nhận thấy Hương nhìn tôi với đôi mắt sáng hơn, bạo dạn hơn ngày thường. Nàng đỡ chiếc mũ dạ ở tay tôi, móc túi lấy chiếc mùi xoa lụa hồng thấm những giọt mưa bám ướt. Người tôi, mới trong giây phút đã nóng ấm lạ lùng. Tôi thấy ngọn đèn dầu như biến thành một cái lò sưởi lửa đang reo! Tôi thấy không khí bao bọc quanh tôi thật là thân mật!


Tôi nằm với ông thầy đàn ấy mãi đến khuya, khuya lắm mà chẳng nghĩ đến sự về nhà. Tiếng huyên náo ngoài đường đã ngớt, tiếng phách ở các nhà cô đầu bên cạnh đã im bặt tự lúc nào.


Người bạn phong trần của ông Sáu hôm nay đi vắng. Ông ta đi kiếm tiền để về đây xài thuốc phiện. Có khi đi năm bảy ngày, có bận đi biệt hàng tháng. Nhưng theo ông Sáu rỉ tai tôi, thì người bạn phong trần của ông vẫn chỉ loanh quanh ở Hà thành để làm nghề... hành khất, song ai hỏi, ông Sáu bảo rằng người ấy đi làm việc ở một tỉnh xa.


Ông ta, hàng ngày thường mặc bộ tây tàng, đứng vơ vẩn trong các phố đông người, đợi chờ một bộ mặt quen quen để niềm nở bắt tay rồi ghé tai hỏi vay tạm một món tiền nho nhỏ... Ông ta thường thấy đứng co ro ở bờ hồ Hoàn Kiếm, ở các ngõ tối tăm, hay ở cửa các công sở lớn, ngấp nghé một hồi lâu rồi mới đánh bạo lần vào phòng giấy các ông tham, ông phán, khúm núm gãi đầu, kể lể bằng tiếng Pháp, với một giọng sầu não, những nỗi đau đớn của một gia đình có mẹ già vợ ốm, con sài... Ông ta có bận lại đàng hoàng xông thẳng vào giữa sa lông các nhà giầu để móc túi lấy ra thanh quế, mật gấu, con sâm Cao Ly, miếng cao hổ cốt, rồi liến thoắng ca tụng những cái hay của các vật quý ấy mới mang ở rừng về...


Thôi thì, với hết cách đê tiện, với hết mọi mưu cơ, với hết khóe lọc lừa, người bạn phong trần của ông thầy đàn đã phải dùng để kiếm tiền mua thuốc phiện sống lần hồi. Khi đã kiếm được khá rồi, ông ta lại trở về cùng nghệ sĩ mù, tay ôm một gói hoa quả, bánh mứt, chè tàu, và bất cứ lần nào, ông ta cũng không quên ra hàng áo cũ, mua cho mình và người bạn mù một thứ gì rẻ nhất để che bọc hai các xác gày còm trong những ngày đông.


Ông ta, trước kia là một thầy thông dây thép, chỉ vì tiêu lạm tiền nhà nước, hóa thành thất nghiệp! Tất cả những tiếng thì thầm của ông Sáu về lý lịch người bạn phong trần đó bắt tôi phải lặng im nghĩ ngợi, mặc dầu những câu chuyện ấy, những nhân vật ấy ta thường nghe giữa một cuộc chuyện vui, và thường thấy rất nhiều ở khắp Hà thành. Nhưng còn người nghệ sĩ mù nằm trước mặt tôi? Tôi muốn biết trong cái đầu tóc bao giờ cũng rối bù kia có giấu kín một thiên ba đào ký, một quá khứ chứa ít nhiều cuộc thăng trầm?


Đây, người mù đã kể tôi nghe:


Rằng xưa, ông ở kinh thành Huế, trong một dòng tôn thất, giàu cả danh vọng, cả tiền tài. Tổ phụ ông xưa làm đại thần triều Nguyễn. Vì chính sự đổi thay, người lui về quê ẩn dật nhưng ít lâu sau, máu sôi thời cuộc, người liền nhập đảng Cần vương, rồi bị giết giữa một cuộc xung đột cùng quân Pháp. Song thân ông Sáu phải dắt díu nhau vượt núi sông tị nạn, bởi có lệnh triều đình truy nã tru diệt cả họ hàng ông.


Mẹ ông chạy về trốn lẩn ở một vùng quê, và sinh ông tại đấy. Ông đã trải những cảnh loạn li cực nhục, ông đã chăn trâu, cắt cỏ, làm thuê. Khi ông lớn lên, thân phụ ông vì bạo bệnh mà chết. Kinh thành Huế đã vào thời bình trị, ông quả quyết từ biệt mẹ già, đeo khăn gói ra Kinh, tìm cách tiến thân. Ăn đợi, nằm chờ mãi, ông được vào Nội các giữ một chức tầm thường.


Ở gần chốn Ngai vàng, ông đã từng được nghe những câu chuyện bí mật ở miệng các cận hầu, các cung phi về đức vua Thành Thái. Ông đã rùng mình về những cảnh hung tàn, bạo ngược mà Ngài bày ra làm trò giải trí, như là bắt các bà Vương lấy thâm cung làm nơi họp chợ bán hàng. Ngài cưỡi ngựa đi làm khách mua, nếu thấy bà nào chào đón vụng về, hoặc trai lơ quá, tức thì Ngài chém chết liền. Ngài bắt các cung phi khỏa thân tất cả, xếp thành hàng một như đội nữ binh bồng gươm đi diễu trước mặt Ngài. Lúc được lệnh truyền, họ phải nằm rạp xuống, rồi bắt đầu từ người thứ nhất, Ngài nằm lăn lên mình họ đúng ba lần. Tới lần thứ ba, khi Ngài mệt mà ngừng lại trên một cung nữ nào, thì cung nữ ấy được đội ơn mưa móc đêm hôm ấy, tỉ như đời xưa các nàng phi ganh nhau thả rắc lá dâu... Nhưng mà vị cung nữ được Ngài ngừng lại trên mình đó, đôi lần mừng, song cũng đôi lần bay hồn, mất vía, là vì máu điên biến đổi tính Ngài một cách khôn lường: ngài dựng cái xác thịt nõn nà ấy lên sai dội nước sôi từ đầu tới gót. Ngài ngồi ngắm một cách cực kỳ khoan khoái, kẻ khốn nạn bị bỏng, giãy, kêu lên, sau cùng nhe răng ra chết đứng. Thấy vậy, Ngài nổi giận cho là đã chết còn cười, lại sai dội thêm nước sôi vào miệng, rồi đứng dậy, tự cầm gươm khoét mắt, rạch mồm, xẻo từng miếng thịt ném đi.


Ông Sáu đã được thấy ngôi sao chổi mọc ngang trời nhằm chiếu xuống chỗ hoàng cung, giữa đêm đức vua lẻn ra ngoài thành đi trốn, nhưng người ta lại lùng bắt được Ngài ở trong rừng. Bởi câu chuyện Ngài bỏ ngôi này, người ta mới đoán rằng tất cả những trò chơi tàn ác nói trên kia, chỉ do Ngài giả bệnh điên để dễ dàng xếp đặt mưu cơ lừa người Pháp.


Câu chuyện một đấng Vương mạt vận của nước nhà do ông thầy đàn kể, làm tôi say hơn khói thuốc, cảm hơn đọc trăm cuốn sử của ngàn năm xưa. Khói thuốc tỏa trước mặt tôi, quanh mình tôi như một áng mây trời đem lại cho tôi một cảm hoài vô cùng thống thiết. Ông thầy đàn còn kể tôi nghe những cuộc nổi chìm của ông trước đây bởi một sự khảng khái bí mật riêng mà bỏ Kinh thành Huế ra xứ Bắc Hà, cảnh ngộ ba đào xô đẩy ông vào số phận một người tôn thất vong quốc, vong tộc, lo từng bữa cơm, bữa hút, thiếu từng manh áo, tấm quần, trong khi những người thân thích với ông đang ngồi ghế cao ăn lộc của triều đình, chính phủ.


Ông Sáu ngồi dậy nâng cây đàn tỳ, nối lại đường tơ mới đứt, gẩy bài Nam Ai.


- Hương đâu? Con ca theo cho thầy nghe đi con!


Không thấy con gái đáp, ông Sáu ngơ ngác nhìn quanh bằng cặp mắt mù.


Có tiếng nấc ở phía sau, tôi ngoảnh lại: Hương đang gục đầu vào cánh cửa, ôm mặt khóc. Có phải người con gái Huế ấy khóc những cảnh huy hoàng đã chết rồi của ông cha từ mấy mươi năm cũ, hay khóc những cảnh lầm than, nghèo khổ ngày nay của mình?


Thấy tôi bắt gặp, Hương vội vàng lau nước mắt gượng cười với tôi, rồi nàng ngồi gõ nhịp ca.


Lúc này, Hương vẫn đẹp như người kỹ nữ sông Hương!


 


Hà thành ướt át dưới mưa xuân, và ồn ào, tấp nập vì sắm Tết.


Hôm nay, trời rét lắm, tôi đã sai người mang xuống cho ông thầy đờn chiếc áo tơi dạ cũ và một số tiền. Người ta đã vác cành đào đi bán rong ngoài phố. Người ta đã đi sắm những giành hoa cúc vàng tươi đẹp, những giò thủy tiên lá nõn mượt xanh, những cành hải đường hoa thắm đỏ như những nụ cười của các nàng xuân nữ. Thấy mấy cô em gái tôi vui mừng tíu tít đua nhau gọt thủy tiên, thi nhau làm mứt, ngắm cho nhau những tấm áo đẹp mới lấy ở hiệu may về, tự nhiên lòng tôi chạnh nhớ tới người con gái Huế nghèo nàn, xấu số, sống âm thầm lẫn với các ca kỹ xóm Khâm Thiên. Tôi bảo em gái tôi ra chợ chọn mua cho tôi một bó hoa thực đẹp, rồi tôi gọi xe kéo xuống nhà ông thầy đờn. Gõ cửa và đứng chờ đã một hồi lâu, tôi mới nghe thấy tiếng rút then, đó không phải Hương, chính là ông Sáu đã rờ rẫm cố tha cái xác ốm ra mở cửa cho tôi. Tôi hỏi đến Hương. Người mù khốn nạn vật mình nằm xuống, trùm chăn rên một lúc, rồi mới đáp tôi:


- Không dám giấu thầy, mấy tháng nay tôi thiếu ăn, thiếu hút, cho nên cơn nghiện nó vật tôi thành ốm thế này. Con Hương nó thương tôi lắm, nó khóc suốt ngày vì tôi. Rồi thảm quá chừng, thầy ạ, hôm kia, nó quỳ xuống bên giường, nắm tay tôi, nó khóc, van lạy. Tôi đành cắn răng mang nhục cứ liều để nó bán mình cho người chủ cô đầu mà lấy tiền xài. Cùng quá, chẳng thể nghĩ mãi tới sự giữ gìn danh thơm cho một giòng quý tộc, danh gia - mà giữ làm gì nữa, hả thầy! - tôi đành cho nó theo mụ Bảy sang bên nhà hát ở gần đây.


Người mù kéo mép chăn lên mặt, lau nước mắt.


Tôi cảm thấy lòng tôi tan vỡ, mặc dầu, đối với Hương, trước sau tôi chỉ có tình thương. Sao sự đời lại trớ trêu đến thế! Ngày xuân, người ta đi mua hoa về ngắm, thì trái lại, ở chỗ tối tăm này, người mù khốn nạn phải bán con đi, bán một bông hoa đẹp nõn nà đi để xài, để hút. Gian phòng lạnh lẽo và yên lặng như một cõi mồ. Tôi ngắm bức ảnh Hương, treo bên mấy cây đàn chụp hồi còn nhỏ trong vườn Tĩnh Tâm ở Thần kinh, rồi ngậm ngùi nhìn xuống bó hoa vẫn cầm ở trong tay, tôi phân vân không biết dùng bó hoa tươi đẹp ấy để làm gì.


Năm 1934


 


Buồn vương mây khói


Khi mới mười hai tuổi tôi đã phải sống lang bạt, nay đây mai đó. Tôi thèm khát cái thú sống ở gia đình nhưng không có lấy một ngày nào được biết tới gia đình. Tan tác như mây bèo, những người thân của tôi đều bị cảnh đời hất đi mỗi kẻ một đường, còn tôi, năm này năm khác, tôi chỉ là cái vật mọn ký thác ở khắp các nhà họ mạc.


Thôi thì hết tỉnh rồi quê. Cũng may mắn cho tôi là lại được trở về quê, chứ cái tuổi thơ ngây dại của tôi mà cứ bị đầy đọa mãi ở các thị thành, bỡ ngỡ không được ai gìn giữ, không được ai dậy bảo thì không biết tôi sẽ phạm những tội lỗi gì.


Quê hương là nơi tâm hồn tôi được bình tĩnh lại sau bao nhiêu năm lạc lõng, với một thân hình ốm yếu gầy còm.


Màu xanh hiền hậu của khóm tre, cây đề reo hát bên con sông chẩy quanh làng khiến tôi thấy lòng yên ấm lại. Màu gạch đỏ chói của căn nhà ai mới dựng giữa làng dưới những bóng cau bóng chuối khiến lòng tôi vui sáng, gần gụi với bao nhiêu con người, bao nhiêu sự vật lành hiền ở quanh mình.


Bây giờ tạm yên ổn, tôi được thư của thày tôi ở tận xứ Lào gửi về bảo phải đi học chữ Tây, hoặc chữ Nho. Tôi lựa chọn mãi, sau cùng tôi quyết định học chữ Tây mà tôi đang học dở. Thế là, một ngày nắng mới tôi xuống chợ mua giấy bút và hôm sau tôi lên trường huyện học.


Bẵng đi hai năm mới được trở lại với sách đèn, tôi vui sướng như con chim non lần đầu được bay ra khỏi tổ.


Những buổi chiều, tiếng học của tôi làm vui động một chút cái không khí quá yên tĩnh của xóm làng.


Tôi được mọi người để ý đến. Tôi thấy mình đang là một đứa trẻ lưu đãng, gần như vô thừa nhận ở các thị thành, bây giờ trở nên quan trọng giữa đám trẻ chăn trâu cắt cỏ, và đám người còn bỡ ngỡ với cái thứ chữ Tây ngộ nghĩnh.


Người ta muốn có một tờ yết thị dán cổng làng, chép một cuốn sổ hương dịch, cải lương, cũng gọi tôi. Tôi nằm giữa đình làng, trên cái chiếu cạp điều của ông tiên chỉ mà viết những thứ đó. Người ta xúm quanh tôi, khen chữ tôi tốt quá, như tôi vẫn kính phục những ông đồ viết câu đối ở hè phố hàng Bồ, Hà Nội những ngày gần Tết vậy.


Thấy người anh họ tôi bảo bao giờ tôi đỗ được mảnh bằng “sép-phi-ca”, tất làng sẽ nhường cho tôi cái chân thư ký làng. Tôi cũng hy vọng và lấy làm sung sướng mỗi khi nghĩ cái ông thư ký làng trẻ tuổi ấy là mình đây sẽ có một góc chiếu ở đình, có quyền ngồi đánh trống chầu ở ngoài đình, và có quyền ăn nói, bàn cãi với mọi người, từ ông Tiên chỉ trỏ xuống. Thế mà hồi đó cái ông ký danh giá ấy còn đang đánh khăng đánh đáo, còn đang trần truồng tắm ở ao, sông.


Anh Lũy, anh Quỳnh, hai người anh họ có vai vế trong dân, yêu tôi lắm, và khuyên tôi thế này: “Chú ạ, phải tập cho đứng đắn, mai kia còn ra làm việc dân làng, vua quan chứ lị!”.


Tôi nghe lời hai anh tôi. Từ hôm ấy, tôi không chơi đùa với trẻ con. Tôi đi tắm sông cũng mặc quần. Đi ra đình hay đến đám khao, đám tang nào, tôi chít cái khăn lượt dầy mấy mươi vòng to bằng cái rế của anh tôi thải cho; tôi mặc áo dài, đi bít tất, tôi tập ăn trầu, uống rượu, hút thuốc lá, đi ngồi đều lấy dáng điệu như người lớn, bởi vì tôi sắp làm ông thư ký quan trọng của dân chứ có đùa đâu.


- Ờ chú Hải này khá lắm, làm đàn anh phải có dáng, làm lính tráng phải có oai.


Tôi kiêu hãnh vì lời khen của mấy ông anh họ tôi.


***


Tháng Mười, một năm được mùa. Vùng quê phong túc lắm, nhiều nơi hội hè vui chơi. Tôi có dịp theo hai anh họ tôi ra khỏi làng, đến một nơi có phong cảnh đẹp và con gái đẹp.


Hai anh làm thợ đúc chuông, đúc tượng giỏi nhất làng và có tiếng khắp vùng tỉnh Bắc. Đã có tài, lại giỏi trai, có duyên, nên làm đám ở đâu là được đàn anh ở đấy yêu mến, nhất là những cô con gái.


Cố nhiên là tôi được theo đi, vì hai anh tôi cho rằng tôi nhanh nhẹn và khi cần đến giấy tờ gì bằng quốc ngữ thì đã có cậu thư ký nhỏ.


Ba anh em tôi rời khỏi làng một buổi sáng tinh sương, rét mướt. Đường xa mà không tiện xe, tiện thuyền, chúng tôi đi bộ mất một đêm một ngày. Cảnh cơm nắm dọc đường, tôi không thấy gì là cực khổ, tôi vui sướng đi lẫn trong đám người trẩy hội tấp nập trên con đường nhỏ giữa cánh đồng bao la.


Đến chùa, chúng tôi được người ta biệt đãi, dọn cho một gian riêng.


Hai anh tôi bắt đầu làm, và trong khi làm thì các cô gái đẹp lẳng lơ đến xúm quanh hai anh mà hát ghẹo. Tôi nhớ mãi cái giọng hát ví véo von của họ, giọng hát ví của gái vùng Bắc Ninh. Hai anh đã khiến họ say mê. Họ tranh nhau yêu “ông phó Cả, ông phó Hai” - không những cả hai đều đẹp trai, mà tổ tôm điếm cũng tài, cờ người cũng giỏi.


Tôi nhớ mãi hôm đánh cờ người. Cô gái nhỏ có cặp má lúm đồng tiền cầm quân tốt bị bỏ quên mãi không dùng đến, cô đã ghen với cô xe, cô pháo, rồi cô khóc vùng vằng lủi ra về.


Lúc tan cờ, cô gái ấy đón anh cả tôi ở chân núi, đánh bạo nắm lấy tay anh tôi, mời nhau ăn một miếng trầu.


Từ hôm ăn miếng trầu của cô gái xinh đẹp ấy, anh cả sinh ra ngơ ngẩn, anh hai chỉ lo ngày chính hội đổ đồng tượng và chuông mà bị hỏng thì tai vạ lớn. Tiền đâu mà đền, còn bị làng đòi vạ nữa.


Những đêm sáng trăng lạnh lẽo trên ngọn núi chùa, tôi tưởng không bao giờ quên được cái đẹp kỳ lạ, cái đẹp thần tiên còn phảng phất trong tâm hồn thơ bé đến ngày nay.


***


Ngày nay nhớ đến đêm trăng ấy, tôi lại buồn rầu vì cô gái có đôi má lúm đồng tiền thuở nọ đã theo anh cả tôi về, bây giờ có một đàn con, già nhiều, đau ốm mù cả hai con mắt.


Chao ơi, xuân sắc người đàn bà!


Tôi thì ba mươi tuổi đầu rồi. Đi đây đi đó đã nhiều, giang sơn thu cả vào đôi mắt sáng. Duy chỉ có chị dâu họ tôi, người con gái ngày xưa sống trong một gian nhà lá dưới chân núi Hàm Long đã bao nhiêu năm bỏ cha mẹ đi theo một người đàn ông, để bị mù lòa không còn biết ngọn núi kia ở phương nào, ở hướng nào.


Một lần, đứng cạnh chị dâu họ tôi ở thềm nhà, tôi che tay ngang mắt nhìn vọng ra cái vạch xanh xanh, mờ mờ ở tít chân trời mà lơ đãng nói:


- Chị cả ơi, rặng núi Hàm Long chiều nay không có sương che, trông rõ quá.


Chị tôi lặng đi một lát rồi khẽ hỏi:


- Thế chú có nhận rõ cái nóc lều gianh ở đấy không hả chú? Nói rồi chị tôi khóc trên đầu đàn con nhỏ. Than ôi, tôi thật không ngờ người đàn bà quê mùa ấy lại có thể ngỏ bao nhiêu nỗi niềm đau khổ trong câu hỏi chua xót ấy.


Tôi không trả lời chị. Tôi khóc ở trong lòng, và oán giận anh tôi, từ khi chị mù lòa đã hắt hủi chị mà ra ngoài tỉnh ở với một cô gái khác rồi.


Buồn vương mây khói trời xa…


Tiếng chị tôi ru đứa con trứng nước tắt vội theo tiếng khóc nghẹn ngào.


Cái chân trời mây khói ấy, tôi thấy lạnh lẽo ở trong tâm hồn mãi mãi, mỗi khi ngồi lặng một mình nghĩ đến người chị mù lòa dờ dẫm ra đứng ngoài thềm để trông vời về nẻo cố hương…


Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 387/1941


 


Tâm sự bông hoa súng


Có ai, trong một buổi sáng tinh mơ nào đó của mùa hè, qua chơi một vùng ngoại ô, một nơi thôn dã, hãy dừng chân lại bên giải đầm nước sáng như gương, cho tôi giãi bày câu tâm sự.


Hỡi những du khách, hôm nay mở lòng trong gió hạ để đón tiếng vọng trong tám hướng trời xa xôi, hãy nghe cái tiếng âm thầm của lòng tôi gửi gấm trên cánh gió. Đó chỉ là tiếng hương bay rất nhẹ, mơ hồ như hơi cỏ thờ dài… Tiếng của lòng tôi! Tôi kể tâm sự của chính tôi mà du nhân ơ hờ không lưu ý đến bao giờ. Nhưng họ vẫn biết rằng tên tôi thế này, hình tôi thế nọ, và tôi mang một đời hoa. Tuy nhiên có ai lại đi yêu thích một người con gái có cái tên quá xấu, cũng như có ai làm thơ mà ca tụng loài Hoa Súng, là tôi, bởi vì ai kia coi tôi như cỏ nội, hoa hèn. Hoa Hồng được một thanh âm nhè nhẹ, Hoa Sen được một thanh âm man mác, còn cái thanh âm Hoa Súng thì… sao mà nó quá nặng nề! Nhưng dù nặng nề, tầm thường rẻ rúng bởi con mắt tục, tôi vẫn tự mãn với lòng tôi là đã chẳng có một dấu vết xấu xa dưới ánh mặt trời.


Soi dung sắc xuống tấm gương nước sáng ngời, dưới đó lồng cả một trời hưu hạ, tôi không thẹn bóng, tủi hình. Là vì nở ra như Hoa Sen ở đầm ao, tôi cũng vẫn giữ vẹn được cái thanh khiết trọn đời như hoa ấy, mặc dầu Sen kia đã đâm chồi nẩy nhánh tự đáy bùn tanh bẩn mà lên.


Người ơi, đừng ai nhạo tôi với nụ cười khinh bạc vì tôi đã so sánh với loài Sen! Tôi há chẳng biết một khi vật gì tự nó có bản sắc riêng thì nó cứ sống trọn vẹn kiếp và ở trọn cái đạo của mình, chẳng cần phô trương, chẳng cần tự cao tự đại để tranh giá trị và tài sắc với một vật khác làm gì! Nếu trời mây sáng đẹp, tự khắc muôn chim bay ra mà ca hót, chẳng cần ánh nắng kia phải soi kỹ tới những chiếc tổ bé nhỏ của con sẻ, con khuyên, giục chúng ra giàng.


Khổ lòng thay, là tôi phải tự so đọ với loài Sen kiêu hãnh, cứ lên mặt quân tử với đời. Sen đẹp, Sen thơm, Sen cao quý như thế nào, chúng nhân đã từng biệt đãi bằng những cặp mắt nhận xét tinh vi, hà tất Sen phải nhọc mình lấn khắp cả hồ ao để cho bao loài hoa khác chìm đi, khuất đi dưới bóng che rợp của hoa Sen?


Thương biết bao nhiêu! Dầu vậy mặc lòng, Sen vẫn không đủ sức mà lan xuể ra khắp mặt nước trời hè, vẫn không ăn rễ được lên trên những loài phù cừ hèn kém khác cứ phóng túng mà nảy nở vô cùng vô độ, như mạch đất sung túc chảy màu mỡ ngang dọc ở lòng sâu.


Tôi, tự sức, tự quyền, tự bàn tay Tạo hóa, tôi mở rộng cánh lòng mà hứng nắng vàng, gió mát, trong khi thân chia lá kết lan rộng đầm này sang đầm khác, gây lực sống giữa trần ai.


Mùa hè cao trời ngọc biếc, bình minh gợn phấn hồng và hoàng hôn kết khối sà cừ, hổ phách - ấy là mùa nước lớn, mùa ngự trị lừng lẫy của loài hoa phù cừ.


Tôi cười, duyên tôi kín đáo như môi thiếu nữ ngày thu. Một gợn sóng, để vương sầu đôi nét mày cong, du nhân phải ngẩn ngơ buồn tâm sự. Tôi có đủ bản sắc làm đẹp lòng người như thế, nhưng tôi chau chuốt giữ gìn để gây một cảm tình kín đáo, một cái nghĩa bình dị cho được lâu dài, và một cái duyên êm ái để tránh sự mong manh vỡ nát.


Tôi không đón chào như người kỹ nữ lầu xênh phách. Mặc cho bướm lại, ong qua, tôi có biết gì đâu đến chuyện cành chim, lá gió! Tôi không có một kiếp phồn hoa rực rỡ, tôi giữ lại chút hương nhẹ nhàng ở lòng thanh đạm.


Du khách nào chán mùi ngát lừng của hồ sen bụi mù vì xa mã, hãy đến cuối cánh đồng bát ngát bên bờ đầm nước hoang tịch này để cho lòng trở lại thanh bình, rồi cúi xuống mà nhận lấy dung sắc của tôi.


Vâng, nó nhạt nhẽo thay, lặng lẽ thay! Nhưng có ai đi tìm chân tình mà lại muốn một lời giả dối hơn là một cái nhìn thành thực chứa biết bao tình thắm thiết ở trong?


Tôi là một triết nhân nói ít, ý nhiều. Tôi sợ làm một kẻ du thuyết rạc rài nơi thiên hạ. Tôi gây đạo sống trên miếng đất thích hợp của đời tôi, làm một kiếp dã hoa với giá trị tạo hóa trao riêng cho nó, chẳng cần kiểu sức để bôi một lớp phấn lộng lẫy bên ngoài.


Hãy cứ ở cho trọn vẹn cái tầm thường cao chính của lòng mình đi đã, thế cũng là khó khăn lắm rồi.


Tôi chỉ có những cánh màu tím thanh thanh, ít sắc vàng nhẹ nhõm, lạc loài ở những mặt ao lẫn lộn vẩy bèo, xa ánh sáng phồn hoa. Nhưng tôi không mong gì hơn một cánh đồng mênh mang ấy, một đống gò hiu quạnh ấy, một con đường thưa vắng xa mã ấy. Tôi bầu bạn với những mầu sắc quê mùa, tôi quen thuộc với những tâm hồn giản dị chứa đầy bài thơ khoáng giã; tôi chỉ có duyên với một đôi con người tỉnh mộng phù hoa, và tôi xây cái nghĩa nghìn đời ở những căn nhà tre, nhà lá, ấy là những nơi lễ giáo không biến, và luân lý không suy. Tôi cười mãn nguyện ở đấy, rồi rất bằng lòng tản đi trên những chiếc lọ mộc mạc rẻ tiền, bởi vì tôi đã lưu chút hương thanh đạm cho gia đình kẻ đã biết đến tên tôi.


Vậy là đủ lắm rồi, tôi đã xong một kiếp hoa. Nếu, chậm ra, người tri kỷ chưa kịp tìm đến để hiểu tôi, tôi cũng vẫn bình thản mỉm cười, trong khi các loài hoa khác khoe hồng tranh thắm. Tôi giữ tấm lòng trung trinh kỳ tới ngày tàn rụng không dời đổi, cũng không xa vọng những giấc mơ không thể có với mình.


Ong bớm tha hồ đua lượn ở những hồ bán nguyệt, ở những nơi ngự uyển dưới gió hè, hương sen ngát. Tôi không kêu gọi, không buồn cái cô tịch của tôi. Mảnh lá mong manh bé nhỏ của thân tôi, như tấm áo người hàn sỹ, - có những chiều buồn, chỉ chĩu xuống vì chiếc cò cô độc mỏi cánh giang hồ tìm về an nghỉ, âm thầm nhìn vùng non nước mênh mông. Tà áo tôi sẵn sàng đón đỡ những cơn mệt nhọc của những tấm lòng buồn bã vì đời. Trong những buổi hoàng hôn khi tiếng chuông buông, chúng sinh ơi, có ai như chiếc cò, chiếc vạc, qua một nấc lữ hành cô độc, xin hãy đến nhẹ nhàng bên lòng tôi; ví tôi có sắc, ví tôi có hương, người cứ tắm hồn vào đấy, tôi có quản gì ít nhiều an ủi để vỗ về đau khổ cho người!


Chiều tà, chiều tà hiu hắt, dâng tự chân mây vắng, lang thang làn sương khói của non sông.


Ai như chiếc cò, cứ đến thăm tôi, tịch mịch và âm thầm… Cái hiu quạnh bao la nơi đó, sẽ bảo cho biết rằng tôi chỉ là một thứ cách biệt với cuộc đời náo động như mạch sống ở lòng tôi chẳng phải là không náo động như một trời khởi gió.


Chỉ khác rằng những mạch sống ấy ngấm ngầm từ tim đất dâng lên, qua lòng tôi như qua lòng một ông già trầm tĩnh ngồi đỉnh non cao mà tư tưởng chuyển vận từ từ, nhè nhẹ, để cho hợp với sức sống đã bị tổn thương nhiều của những kẻ đau khổ ở đời.


Tôi chỉ có thế mà thôi, và tôi nghĩ rằng trọn vẹn cái sứ mệnh ấy, cũng đã đủ rồi, bởi vì bình sinh tôi thanh đạm.


 Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 364/1941


 


Quan báo


Chúng tôi tất cả bốn người. Bốn thanh niên khoảng hai mươi tuổi ở gần nhau, cộng tất cả những cái điên vào với nhau thì thành ra một thế giới điên đầy đủ. Đã thế những thanh niên ấy lại làm thơ, viết báo thì càng lôi thôi lắm. Ông nào cũng khí kiêu ngút trời, tưởng ngâm một bài thơ là núi lở, hạ một chữ xuống là đảo ngược ngay thời thế. Khí kiêu ấy chỉ bốc khi ngất nghểu nơi tửu điếm, có dăm ba chén rượu tàng tàng. Bằng không, các ông ấy ngồi bó giò một xó mơ hương phấn, ngâm nga khóc gió thương mây…


Chả thế chúng tôi đã có… “một thời lừng lẫy” ở một tờ báo hàng ngày. Những truyện ngắn vô nghĩa lý, những bài thơ lòng thòng làm não lòng đứt ruột người ta, đã vậy tờ nhật báo nợ cứ đăng mãi để đến nỗi bây giờ chúng tôi nghĩ lại mà đỏ mặt. Đã có người nhét chúng tôi vào cái “Lọ văn”. Đã có người bảo chúng tôi là một phường chết yểu.


Quả nhiên, những cái miệng hùm nọc rắn đã làm chết một trong tứ tử chúng tôi. Anh Lê, thi sĩ thơ hay nhất bọn cách đây ba năm đã táng mệnh rồi. Còn lại ba người. Một ông đi làm thầu khoán ở một miền quê xứ Nam Kỳ. Còn hai ông thì vẫn lằng nhằng cùng bút giấy, mái tóc chưa hẳn bạc nhưng nghề ngỗng vẫn chửa ra tuồng gì cả.


***


Chúng tôi thường họp nhau tại nhà anh Nguyễn ở một phố gần hồ Hoàn Kiếm. Nguyễn làm thơ, ngoài lúc ngồi đo giầy cho khách. Anh mở hiệu giầy đã được chục năm.


Khách hàng của anh chín phần mười là gái nhảy. Hồi ấy phong trào khiêu vũ mới đột nhập vào đất nước uy linh của hai Bà Trưng. Bọn nữ kỵ binh tung hoành dữ dội. Những con đường Hà Nội là những con đường ái tình của các cô ả rẽ đầu ngôi lệch, áo lam ngắn chẽn, quần trắng ống hẹp, chân lê Phi mã.


Vì vậy cửa hàng của thi sĩ Nguyễn rất đông. Chủ nhân tiếp khách khéo, lối bày hàng lại tân thời, đó là một nét đặc biệt trong thương trường hồi ấy.


Chúng tôi họp nhau ở đấy, vái nhau theo lễ cổ nhân và nói chuyện Tống nho theo đạo Khổng.


Bỗng một hôm có một anh chàng đến xin yết kiến. Việc này quả là quái lạ. Chúng tôi xốc lại áo quần cho chỉnh để tiếp tân khách. Đó là một gã tuổi còn non, mặt mày choắt chéo, khúm núm đứng trước chúng tôi.


- Thưa các ngài, các ngài là nhà báo.


Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, cùng nghiêm mặt đáp:


- Vâng, chúng tôi làm báo.


- Tôi đến xin thưa các ngài một chuyện! Nguyên tôi có ý định mua lại một tờ tuần báo văn chương. Tôi nghĩ những nhà văn đang nổi tiếng là các ngài đây…


Chúng tôi lại đưa mắt nhìn nhau như để phân bua với nhau: “Các anh nghe rõ chưa? Chúng ta là các nhà văn đang nổi tiếng!”


- Vâng, các ngài đang nổi tiếng, nên tôi xin giao phó tờ báo đó vào tay các ngài.


Còn nói gì nữa! Chúng tôi không thể ngờ sự đời lại đẹp như vậy được. Có người bỗng dưng đến nịnh chúng tôi, lại mời chúng tôi chủ trương và trình bày tờ báo sắp ra đời kia thì còn gì danh giá hơn.


Dĩ nhiên chúng tôi tán thành việc đó. Gã chủ nhiệm tờ báo tưởng tượng kia xin cung kính tháo lui.


Tiễn khách ra cửa rồi, chúng tôi vẫn ngồi nghiêm như lúc có khách để nhắc thầm trong bụng những lời khách ca tụng ban nãy và để xét xem mình quả có tài không.


Từ lúc ấy chúng tôi mỗi kẻ mang trong đầu hình ảnh một tờ báo. Ông nào cũng phác sẵn chương trình làm việc của mình. Lê thi sĩ sốt sắng hơn cả, đóng một tập giấy làm “ma-ket”, đặt trang này cái đề luận thuyết, ở trang kia cái đề tiểu thuyết ngắn, tiểu thuyết dài, phê bình thời sự, hài hước, kịch và bút chiến, nhặt vỏ sò vỏ hến… Cái đề nào cũng kêu như chuông và không chịu kém nhau vẻ văn chương rỗng, sáo. Ông lại khéo tay vẽ sẵn cả tranh minh họa ở các trang bài, tô chì đỏ xanh rất nổi.


Chúng tôi họp nhau uống trà tàu ăn bánh đậu xanh mà ngắm “ma-ket” phân tách sở trường sở đoản của mỗi cây bút để chia công việc. Cuộc tranh luận ầm ỹ, nhưng Lê tiên sinh điều khiển rất tài, nên cuộc bàn luận có ngay kết quả đẹp đẽ, nghĩa là ai có việc người ấy, không chối, nhường chi nữa.


Chúng tôi hể hả bắt tay nhau nhận trọng trách nặng nề và hoan hỉ đợi chờ một sự nghiệp lớn lao khả dĩ lưu truyền hậu thế!


Hai ngày trôi qua mà ông “chủ nhiệm” chưa đến. Chúng tôi vẫn nhẫn nại, vẫn họp nhau như thường để làm tốn trà tàu bánh đậu và để ngắm nghía, bàn cãi, thêm bớt bài vở trong “ma-két”.


Ngày thứ ba cũng chẳng thấy gã chủ báo đâu. Chúng tôi đã lấy làm nóng ruột. Qua ngày thứ sáu gã ta đến thật.


Sau một tuần trà tàu pha lối trang nhã của cổ nhân, Lê tiên sinh điềm đạm đưa gã chủ báo coi “ma-ket”. Gã giở từng trang, mặt mũi sáng lên, tay run cảm động. Chúng tôi im lặng đọc cảm giác bái phục trên nét mặt anh chàng. Một lúc anh chàng ngước lên nhìn bốn chúng tôi.


- Cứ như tài các ngài thế này thì lo gì báo không được hoan nghênh. Vậy tôi định sáng mai xin rước các ngài quá bộ về tệ xá ở một vùng quê gần đây chơi, trước xem phong cảnh đồng ruộng, sau xơi với chúng tôi chén rượu gọi là tỏ chút lòng thành kính.


Lại còn nói gì nữa! Nhưng chúng tôi tỏ ra không phải thứ người dễ dãi cho lắm, đều kênh kiệu từ chối để sau cùng bất đắc dĩ nhận lời mời.


Sáng hôm sau.


Khổ chủ và ba chúng tôi lên chuyến xe điện Hà Đông. (Nguyễn thi sĩ không đi vì bận đo giầy).


Sau chín mươi phút xe điện chịu khó đỗ nhiều hơn chạy, chúng tôi đến Hà Đông. Lê tiên sinh vác cái cặp bụng căng báo chí tiếng Tây và tiếng Việt cũ, tài liệu linh tinh và bài vở mới viết đi trước, ra dáng lắm. Gã chủ báo tương lai xin rước chúng tôi lên xe tay. Một đoàn xe cọc cạch chạy dài đưa chúng tôi ra ngoài tỉnh. Xe qua những ruộng ngô, lúa, đậu. Lâu lắm mới thoát ra ngoài thành phố Hà Nội, chúng tôi khoan khoái duỗi chân thẳng cẳng trên lưng anh xe mà ngắm cánh cò bay, trâu gậm cỏ, mặt trầm ngâm làm bộ đang nghĩ văn tả cảnh, nhưng thực thì không tiên sinh nào nghĩ văn chương vì trên đồng ruộng vùng này sao mà nhiều “hoa thôn dã” thế.


Những bông “hoa thôn dã” hát véo von hai bên ruộng. Chúng tôi có cảm tưởng ngay rằng cuộc đi chơi này thật thú vị. Và chúng tôi cũng có cảm tình với gã chủ báo ít tuổi, mặt mũi măng sữa, ngây ngô kia lắm.


Suy nghĩ còn đang miên man thì gã chủ báo tương lai hò cả đoàn xe đứng lại. Thì ra chúng tôi đã ở trên một con đường làng lát gạch, một bên là cái ao đầy bèo, váng nước; một bên là thôn xóm, nhà gianh chen chúc, tối tăm.


Chó sủa rầm rộ, trẻ con xúm lại kêu:


- Ê ê, ông Tây! Ông Tây, ê ê! Chúng bay ôi!


- Cái gì mà ê ê, ông Tây! Lũ khỉ con! Im đi cho chó nó im, kẻo ầm làng xóm.


Gã chủ báo trẻ tuổi xua lũ trẻ. Chúng im ngay, ngơ ngác nhìn gã mặt đang đỏ lên như gấc chín.


Một bà già đứng trong vườn chuối gấn đấy lầu nhầu:


- Cái nhà cậu Giự ấy mọi khi về chỉ mặc áo the rách thì chó nào nó thèm sủa. Lần này về đánh bộ Tây vào, lại ra dáng, mắng đuổi trẻ con.


Không biết Giự - ông chủ báo tương lai của chúng tôi - có nghe thấy lời bà cụ già không? Chúng tôi thấy mặt anh chàng càng đỏ gắt lên, và ngơ ngác nhìn quanh như chờ ai vậy.


Bốn anh xe đứng lau mồ hôi, thở, sẵn sàng chìa tay ra đón tiền. Giự càng có vẻ loay hoay, bối rối. Anh đập vụng về hai tay vào hai túi áo và nhìn vào một cái ngõ sâu. Đây là giờ phút nghiêm trọng của vấn đề kinh tế. Cố nhiên những kẻ được rước đi một cách có tổ chức như chúng tôi đây đều không “mang sẵn tiền lẻ”. Và dĩ nhiên là vấn đề tiền nong phải dành cho khổ chủ.


Gã chủ báo tương lai liếc nhìn bàn tay chúng tôi, thấy những bàn tay ấy không hoạt động thì lại nghển cổ cò nhìn vào cái ngõ sâu. May quá, có một người đàn bà từ trong ngõ đi ra.


Gã chủ báo tỏ ngay vẻ mừng rỡ, buột miệng reo như đứa trẻ:


- Kìa chị cả, chị trả tiền xe giúp. Tôi không sẵn tiền lẻ.


Người đàn bà mặc váy nâu cũn cỡn, cái áo cánh cũng cũn cỡn và bẩn thỉu không kém gì cái váy, dụi cặp mắt toét nhoèn, nhìn cậu em, nhìn chúng tôi, rồi đưa bàn tay sần sùi xuống giây lưng bao, lần lần tìm cái nút.


Hỡi ơi, cái ruột tượng lép của người đàn bà quê mùa thiểu não! Trái đất này còn, tôi còn nhớ mãi cái ruột tượng nâu, quắt lại như khúc lòng lợn, bọc quanh cái bụng ỏng và cạp váy và đụp chứa bao nhiêu rận, rệp, bao nhiêu mồ hôi trong đó. Người đàn bà lập cập giở nút, dốc ra từng đồng xèng Bảo Đại, đếm, đếm, đếm một cách tiếc rẻ và hoảng hốt. Những đồng tiền chen chúc nhau reo trên bàn tay người chị và trên bàn tay người em trai đang châu đầu vào nhau như là để làm một việc rất to tát kia khiến chúng tôi động lòng thương hại, và nhất là ân hận…


Tôi nghe tiếng người đàn bà hỏi thều thào:


- Những khách nào thế?


Giọng người em đáp rất nghiêm trang:


- Các ngài ấy là… là… quan báo đấy. Chị về trước đi mà sửa soạn…


Giọng người đàn bà run run:


- Sửa soạn gì?


Người em hơi gắt:


- Giết gà, mổ vịt làm đồ nhắm chứ sửa soạn gì. Về mau!


- To chuyện thế kia à, cậu! Chết chửa! Nhà làm gì có… có…


Người em khẽ quát


- Tôi bảo thế thì cứ thế. Về nói trước cho ông cụ biết.


Người chị vội vàng buộc lại thắt lưng, rồi im lặng tất tả đi vào ngõ.


Gã chủ báo tiến đến phía chúng tôi, tươi cười xin mời đi. Gã huyên thiên chỉ cái đình làng giới thiệu là các cụ xây từ đời Tiền Lê, chỉ cây gạo kể rằng những đêm sáng trăng thường có con tinh xõa tóc đưa võng hát. Tiếng cười nói của gã và tiếng giầy lộp cộp của chúng tôi làm chó làng lại sủa ồn ào.


Đến một cái xóm đường đầy bùn do trận mưa đêm qua, gã chủ báo mời chúng tôi vào một căn nhà vách rơm mái giạ mà gã gọi là tệ xá.


Chúng tôi đang loanh quanh chưa biết ngồi đâu, vì cả căn nhà ba gian tối như hũ nút chỉ có hai cái giường tre xô lệch không giải chiếu thì một ông cụ già râu tóc hoa râm, khăn áo tề chỉnh bước vào vái dài chúng tôi mà nói:


- Kính chào các quan báo!


Cụ ngừng lại gãi tóc:


- Các quan yêu em nó mà chiếu cố thế này, chúng cháu lấy làm xấu hổ…, nhà gianh vách nát… xin các quan tha thứ cho…


Thì ra người đàn bà kia đã chạy về báo tin cho ông bố biết.


Nói rồi, ông cụ vội đi trải chiếu, rửa khay chén gọi con lấy giẻ lau giầy cho chúng tôi.


Khay chén rửa rồi mà chưa thấy con gái đem nước sôi ra và chưa thấy ai lau giầy cho khách, cụ bèn đứng dậy vào nhà sau, tức là vào bếp.


Chúng tôi nhìn cảnh nhà ông chủ báo, nhìn nhau để cùng tỏ ý hoài nghi, chán ngán. Bỗng tôi nghe thấy tiếng sì sào phía bếp đưa lên. Hẳn là họ đang bàn tính về mâm cơm đãi khách.


- Khổ lắm. Mày không biết nhà độ này túng lắm...


- Túng thì cũng phải cho chu đáo chứ!


- Nhưng khốn nỗi không có một xu, bắt đâu được gà.


- Đi vay hàng xóm. Ông đừng bêu riếu tôi… Người ta là người sang trọng…


Tiếp đến tiếng ai sụt sịt. Than ôi, tôi nghe rõ giọng ôn tồn đau khổ của người bố già và cái giọng gắt gỏng hỗn láo của ông con mà chúng tôi gọi là ông chủ báo tương lai đó.


Lòng tôi đau thắt lại. Tôi lịm đi, không nói được, không cười được cho đến lúc nghe thấy tiếng lưỡi dao quèn quẹt liếc vào miệng vại, tiếng con gà kêu giẫy chết, tiếng bát đũa khua lịch kịch…


Thế rồi một mâm cơm thịnh soạn bưng lên.


Ông cụ thắp mấy nén hương trên bàn thờ, đặt mâm cơm lên khấn vái một lúc, rồi chờ hết nửa tuần nhang ông cụ bưng mâm cơm đó xuống chỗ chúng tôi ngồi.


Ông cụ lại gãi tóc:


- Nhân các quan chiếu cố, chúng cháu có làm mâm cơm, trước cúng tổ, sau xin mời các quan… xơi.


Rượu rót ra chén, ông cụ mời đưa cay. Chúng tôi ăn uống cầm chừng. Riêng tôi mấy lần bị nghẹn vì bên tai còn rõ rệt từng câu nói dịu ngọt khổ não của ông già, từng lời gắt gỏng của ông con hỗn láo.


***


Sau hôm đó, gã Giự chủ báo tương lai không đến thăm chúng tôi nữa.


Bẵng đi một dạo, chừng ba tháng. Chúng tôi thất vọng, không còn bàn tán đến tờ báo sắp ra đời, không buồn nhìn đến cái “ma-két” của Lê thi sĩ thì một buổi kia, có kẻ quen gã chủ báo tương lai cho chúng tôi biết rằng Giự đã lợi dụng buổi mời chúng tôi về quê gã để làm con tin trước mặt ông bố già. Sau đó ba ngày, ông bố già đã bị ông con ép buộc đem nhà đất cầm cố lấy ba trăm bạc đưa ông con quý đi… mở báo.


Thế rồi không bao giờ thấy ông con mở báo để làm “quan lớn báo”, ông bố già tội nghiệp chết ngất đi mấy lần, và nhà đất thì bị cầm. Bây giờ ông bố bơ vơ mà ông con thì mất hút.


Sau tin đó ít lâu, một hôm chúng tôi đang ngồi uống trà trên gác một tửu lâu, chợt trông thấy ông cụ đã giết gà thết rượu chúng tôi ngày nọ đi thất thểu ở dưới hè, quần áo tả tơi, che chiếc ô cũ lom khom lẫn vào đám người thành thị.


Tôi mủi lòng thương xót và tự hỏi:


- Có lẽ ông cụ đi tìm ông con trai quý… Cũng có thể ông cụ đi tìm chúng tôi để mà than khóc đó chăng?


Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 469/1943


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
xem thêm »