tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27611057
20.11.2018
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (tiếp 3)

Buôn xác


- Thế này thì quá lắm! Giời giết đệ mất thôi!


Tôi ngoảnh lại, cái người vừa oán trời đó là một anh bạn buôn xác chết, nghĩa là anh làm cái nghiệp cho thuê đòn và bán áo quan. Mặt anh rất buồn trên chiếc ca vát mà tôi tưởng tượng có biết bao âm khí tử thi đã ám vào từ cái ngày anh khởi sự tậu nhà bằng nghề nhận đám.


- Thật là giết đệ, ai ngờ thằng cha đã chết đến cổ, con cháu đã sửa soạn chia nhau khăn áo đẹp rồi mà còn sống lại.


Anh giận lắm. Để anh nguôi cơn nóng, tiện ngay kia, tôi kéo anh vào một quán giải khát mà chủ quán là một gã đã nổi tiếng nói năng khoác lác.


Không muốn nghe anh bán nước khoe tài bán nước, tôi kéo anh buôn xác chết vào một chiếc bàn ở góc nhà đổ, thảm như bãi mồ hoang.


Anh bạn suốt đời chứng kiến cảnh tang tóc của tôi nâng cốc đá lạnh lên uống một hơi rồi đặt cốc xuống mà nhăn mặt nhổ, chê rằng cam ủng. Anh nhăn mặt mãi, như một con người rất vệ sinh xưa nay sợ mùi người chết, khiến tôi, một phút tưởng rằng đang ngồi trước một bậc hiền nhân quân tử vốn rất khinh bỉ Việt gian nhưng mà rất tôn thờ mẫu quốc.


Lát sau anh bạn nhà tang hết lợm giọng, và cũng hết luôn cả giận, anh nói buồn như bài kèn lâm khốc:


- Cái nghề của tôi nhiều lúc tức mà muốn chết mẹ nó đi để cho vợ con nó chôn quách mình như là mình đã chôn thiên hạ. Có những chỗ ăn chặt cả trăm phần, mình một mặt tự đến nhà con bệnh thăm nom giữ đám, một mặt phái yêu tạ đi bao vây quanh cửa nhà con bệnh để đánh đòn cản lũ đồng nghiệp tinh ma. Mất bao nhiêu công sức, thế rồi thì là con ông cụ đếch chết cho, sống lại chừng nửa tháng để rồi một sáng tốt đẹp kia thằng đồng nghiệp khác nó tò te con ông cụ qua cửa hàng mình mới tức chứ!


Anh bạn nhà tang ngừng nói, đánh diêm châm thuốc lá. Trong bóng chiều tàn nơi ngôi quán đổ nhìn điếu thuốc lấp lóe trên cái mặt đen tựa trôn nồi của bạn, tôi tưởng rằng đó là cây bạch lạp cháy hắt hiu trên tấm vải đen phủ quan tài...


Khói thuốc phủ quanh khuôn mặt bạn, tôi lặng lẽ nhớ đến mùi hương đen trên mồ đất mới. Anh đứng dậy:


- Nếu không bận, mời anh cùng đi với tôi đến một nhà kia, để tìm cảm giác. Cái nghề các anh là lúc nào cũng thèm cảm giác chứ gì! Thì đấy, cảm giác sẽ phi thường lắm.


Tôi theo anh. Và anh đã dẫn tôi vào nhà xác.


Ông già gác cổng vốn là cánh hẩu, nghe giọng đã biết là tri kỷ hàng ngày. Cánh cổng sắt hé mở và đóng lại kêu rợn như hàm răng người giãy chết nghiến vào nhau.


Ở cửa nhà xác, một người đang khóc. Anh bạn ca vát đen mắt sáng lên, xông ngay đến người đó, làm tôi nghĩ tới cảnh một đàn quạ săn gà con. Anh ngả mũ chào người ấy mà rằng:


- Thưa ông, thân nhân của ông đã bất hạnh qua đời, chúng tôi xin trân trọng chia buồn. Bây giờ thì công việc tống táng, ông cứ tin cậy ở hãng chúng tôi, vốn là một hãng lớn có xe bốn ngựa vô cùng lịch sự, cờ quạt, nghi trượng, linh xa toàn mới sắm, phu tráng lễ độ mà giá tiền tính rẻ hơn tất cả mọi nơi. Thưa ông, một lần nữa, tôi xin trân trọng chia buồn...


Người đàn ông chẳng trả lời, bởi vì y đang khóc như mưa. Tôi mang máng nhớ y là một người thợ giầy ở phố tôi, vừa câm vừa điếc.


Anh bạn ca vát đen lại xoa tay:


- Thưa ông...


Tức thì, một người mắt xếch môi thâm từ đằng vườn hoa nhà thương săm săm tới. Hắn bước vào nhà xác. Tôi nhìn theo hắn, tôi đã trông rõ năm sáu tử thi vô thừa nhận chồng chất lên mấy nắp quan tài gỗ mỏng.


Tôi đánh bạo bước tới gần. Những bàn chân hoặc băng bó sưng phù, hoặc tím ngắt duỗi song song, mặt che mảnh giấy, nằm bình tĩnh như những con người đang ngon giấc.


Tôi để ý nhìn người mắt xếch. Hắn lật mảnh giấy ở mặt tử thi người đàn bà trẻ tuổi nằm ở bên ngoài, lại che giấy lại quay ra toan nói với người đàn ông đang khóc, nhưng thấy đồng nghiệp là anh bạn ca vát đen của tôi đây, hắn trừng mắt rồi cười khẩy:


- Thưa rằng đám này tôi đã nhận ngay từ khi bà ấy mổ được ba ngày. Có quý ông đây làm chứng. Hắn viện chứng nhưng người chứng điếc câm, không nghe thấy họ nói gì, chỉ khóc.


Bạn tôi có lẽ nào chịu kém, anh nghiêm mặt nói:


- Cái đám này nhất định phải về tôi. Chỉ có hãng tôi mới có ngựa tốt xe đẹp, phường nhạc giỏi, bú dích lối tây, hay là trống kèn cải cách, hay là già lam cổ điển. Mà giá thì... rất rẻ, nếu cần ra thì hãng tôi đây vì nghĩa đồng bào mà làm công không, để tỏ cái tinh thần người dân một nước với nhau.


Người đồng nghiệp mắt xếch cười ba tiếng mà rằng:


- Anh nói dóc như một gã nghị viên Viện dân biểu. Cái thá gì mà lại làm công không khi cái thằng sống cần chôn thằng chết để mà có cơm ăn.


Rồi đó, gã mắt xếch quát to:


- Anh quả thật là một đồ tồi, một kẻ buôn xác chính tông!


Anh bạn ca vát đen của tôi ngửa mặt lên trời cười nhạt:


- Ờ ờ, tôi, anh, chúng nó đều buôn cả. Thế đấy!


 Ông Chọc Tiết, nxb Ngày Mai. 1950


Hành khất, hành văn


Từ cái thuở Hà Nội băm sáu phố phường, tôi - một cậu bé con đã được ăn Tết cổ truyền của Thủ đô lưu giữ khá nhiều kỷ niệm. Thời gian trôi như nước chảy, nhiều chuyện cũ quên đi, duy mẩu truyện ngắn ngủi này, tôi không sao quên được. Nó nhắc nhủ tôi nghĩ đến nó, nhớ đến nó, nhớ đến đau lòng. Tôi bẩm sinh là thằng nhỏ mau nước mắt, dễ buồn dễ khóc những chuyện không đâu. Hàng năm cứ đúng lúc thành phố nổ ran pháo giao thừa, tôi chui vào cái giường nhỏ bé của tôi trong góc kín, kéo chiếc chiếu phủ lên tấm chăn bông mỏng manh, nằm lắng nghe pháo thiên hạ đón xuân.


... Mấy ngày Tết năm xưa rét lắm, một chăn dạ, chăn bông không đủ ấm, tôi phải dùng hai lá chiếu phủ lên chăn mới đủ ấm, nằm nhắm mắt suy nghĩ chuyện đời. Tuổi thơ còn non dại, đã biết cuộc đời ra sao, sống chết vui buồn là cái gì, thế mà, đúng giờ giao thừa đêm ba mươi, tự nhiên tôi cảm thấy buồn vơ vẩn, buồn không duyên cớ, không muốn nói với ai, không thích nhìn mặt ai, chỉ thèm chui vào một xó, nằm nghĩ ngợi đến chuyện nhà trường, chuyện thầy, chuyện bạn tốt xấu, chuyện anh chị em trong nhà lục đục hay êm ấm. Chỉ có thế thôi mà nước mắt đã rưng rưng. Cái xó tôi nằm giữa lối cửa ra vào. Nửa đêm sắp giao thừa, mẹ tôi, theo thường lệ hàng năm, lăng xăng, te tái lo việc quan trọng là sửa soạn mâm xôi con gà luộc thật thanh khiết, chờ đến khi pháo nổ gần im tiếng là khệ nệ thân chinh bưng lễ ra vỉa hè trước cửa, hương hoa, đèn nến sáng choang, đứng rì rầm khấn vái đất trời, thánh thần, tiên tổ phù hộ độ trì an khang hạnh phúc.


Mẹ tôi đang thành kính khấn vái thì tôi tung chiếu, tung chăn vùng dậy trong tiếng kêu thất thanh của mẹ: “Ối trời, ối đất ơi, chúng nó cướp mất xôi gà lễ của tôi rồi! Ối bà con ơi, chúng nó kia kìa. Đuổi bắt hộ tôi!”.


Đó là cái Tết đói năm Ất Dậu. Qua đêm rét, sáng nào cũng có xác chết phơi ngoài đường phố. Người qua đường, trước còn ghê sợ, nhắm mắt tránh mùi hôi thối, ruồi nhặng bu đầy xác chết, sau cũng quen mắt, quen mũi cứ bước qua xác kẻ tử vong, kịp vào chợ Đồng Xuân mua sắm Tết. Bởi vậy, tiếng kêu mất mâm xôi trắng nõn, con gà béo múp vàng ngậy mà mẹ tôi kêu khản cổ, chẳng ai chú ý. Có tiếng cười ran: “Sao bà dại thế. Chết đói đầy đường, chẳng ai bố thí. Đói đến nỗi ăn được thịt người, chúng cũng không tha huống chi mâm xôi gà béo ngon như thế, khác nào hổ đói vớ được mồi. Mất, coi như làm phúc cứu bần. Đừng xót của. Nhịn ăn cứu đói. Năm nay, Phật độ cho bà...”.


Người đàn ông đi qua đường có lý. Tôi vội chạy ra, kéo tay mẹ tôi vào. Và suốt từ lúc mất xôi gà, tôi cười, cười ôm bụng, cười nhịn thở, cười tưởng chết. Mẹ mắng tôi. Tôi đáp: “Con rất mừng vì nhà ta gặp Phúc. Thế là đêm nay, hai ba thằng ăn cướp ấy tạm thoát cơn chết đói. Không có xôi gà, thiên hạ ăn hộ mình rồi. Mai con nhịn đói, gọi là nhịn ăn đãi khách. Mẹ cười đi để mừng xuân, cái xuân phúc đức”. Mẹ tôi cười.


Pháo đón xuân năm ấy ít nổ, không liên chi hồ điệp như mọi năm. Xuân chết tiệt này giặc Nhật - Pháp làm cho dân Việt chết đói trên hai triệu người. Có người bảo: “Giá ta có súng đạn nổ vào đầu giặc dữ dội như pháo mọi năm để trả thù này thì ta vẫn chưa hả giận”.


Hà Nội vừa im tiếng pháo, mọi nhà chuẩn bị đi nằm, sau một ngày quá nhọc mệt bởi sửa soạn đón giao thừa. Tôi không vào giường, loay hoay chờ đón mấy ông bạn “văn nhân hành khất” sắp đến mừng xuân với những vần thơ tuyệt tác ứng khẩu thành chương.


Ngay từ thuở nhỏ năm lên mười tuổi gì đó, tôi đã thích thơ ca, thích cả văn xuôi. Cứ chờ bố đi làm vắng, tôi đã chúi mũi vào những sách thơ, những truyện tình yêu thời cổ lỗ. Tôi cũng ti toe tập viết văn, bỏ cả bài vở nhà trường. Bố tôi, một lần, tóm được tôi đang say mê chép một bài thơ tình, bố nổi giận, vớ ngay cái nghiên mực bằng đá chạm hoa điêu, ném vào đầu tôi. May mà cái nghiên đá nặng đến mươi cân bay chệch qua đầu, không thì tôi đã vỡ sọ, chết toi rồi. Nhưng viết văn là “cái nghiệp”. Tôi lớn lên, chừng hai mươi tuổi, vẫn mê say văn chương, cho đến bây giờ, cái nghiệp ấy sắp qua rồi.


Dân Hà Nội bắt đầu vào giấc ngủ đêm xuân, bọn người chuyên làm vè chúc Tết bắt đầu hành sự. Họ không đông lắm, có chừng độ mươi người, phần nhiều đứng tuổi, quần áo chỉnh tề, tuy vá víu. Mặt mũi người nào cũng sáng sủa, sạch sẽ, nghiêm trang.


Hàng năm, đúng giao thừa là các ông xuất hiện vào đúng cái thời khắc tối như đêm ba mươi Tết. Họ chia nhau, mỗi ông vài ba phố (khu Đồng Xuân). Mỗi người có “vũ khí” riêng. Đó là ống tre giang, văng, hay chỉ là một ống nứa xanh tươi to bằng cổ tay đục thủng một đầu. Các ông cùng một lúc, gõ đầu ống tre giang xuống bậc cửa nhà người ta, cất giọng êm ả dịu dàng, gần như ngâm thơ đủ cho chủ nhà nghe rõ.


Súc sắc súc sẻ


Chúc khỏe quanh năm


Buôn một bán năm


Tiền vào như nước


Vàng vào cửa trước


Bạc vào cửa sau


Sinh đẻ lau nhau


Học hành tấn tới


.....


Súc sắc súc sẻ


.....


Lời thơ, hay hò vè, chỉ cần đọc theo nhịp đập của ống giang hai ba lần là chủ nhà, dù keo kiệt đến đâu, cũng khẽ rút then hé cửa, dúi vào tay người chúc Tết một hào, có khi kèm cả chiếc bánh chưng, nếu thí chủ có thiện tâm thương kẻ đói. Lại một ông cuối phố, giọng vang vang, khiến người khó ngủ phải lẩm bẩm chửi thầm một hai câu tục tĩu lẽ ra không nên dùng để họa lại văn thơ ứng khẩu của thi nhân hành khất:


Súc sắc súc sẻ


Xin thương tôi với


Bát cháo chén cơm


Vạn đại nhớ ơn


Kính mừng xuân mới!


....


Súc sắc súc sẻ


Bước khỏe ra đây


Bát gạo cầm tay


Thí cho kẻ đói


....


Tôi rất thích thơ văn ở cái tuổi bé con, lại thêm nết tò mò, tôi hé cửa lách ra vái chào ông thi nhân hành khất. Ông ngạc nhiên trước thái độ cung kính của cậu bé con đối với con người rách rưới mà thiên hạ đều khinh bỉ. Tôi sờ mó vào cánh tay xương xẩu của ông, vuốt ve miếng vải vá trên vai áo ông, giọng ôn tồn, lễ độ:


- Thưa ông...


Ông hấp tấp nắm bàn tay rét cóng của tôi, lắp bắp:


- Chết nỗi, tôi không dám... Cậu muốn nói gì?


Tôi cũng lễ phép:


- Thưa ông, cháu vừa được nghe ông chúc tết nhà cháu bằng những câu thơ hay lắm. Sao ông lại nghĩ ra được những câu thơ hay thế? Ông nghĩ từ trước, hay ông vừa mới nghĩ ra. Ông làm ơn dạy cháu làm thơ. Cháu yêu thơ lắm. Cháu đã đọc truyện Hoàng Trừu, Tống Trân Cúc Hoa... cháu mê thơ lắm ông ạ.


Ông thi nhân hành khất, vuốt mấy sợi râu đã ngả bạc, khẽ cười:


- Chết thật, cậu bé ơi, những câu tôi ứng khẩu đọc ra đều là vè cả đấy. Chứ thơ đâu lại lẩm cẩm láo lếu, nhảm nhí như vậy. Ở quê tôi, những đứa trẻ chăn trâu đều biết hát trống quân, hát phường vải từ mấy chục câu như vậy. Cậu chưa về quê bao giờ hả? Cậu thử về vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, xưa gọi là Kinh Bắc, chơi với lũ trẻ chăn trâu một ngày là tức thì cậu làm được thơ còn hay gấp trăm những câu vè tôi đọc láo, chúc Tết kiếm miếng ăn ngày đói.


Nghe ông thi nhân hành khất người Kinh Bắc nói, tôi kinh ngạc, đứng ngẩn ra. Tôi nghĩ bụng sẽ có ngày tìm về Kinh Bắc, gặp xem lũ trẻ chăn trâu ở đó thông minh tài trí đến thế nào.


Ngót một thế kỷ nay, tôi vẫn nhớ chuyện đọc thơ chúc Tết bằng ống nứa ngoài bậc cửa đêm ba mươi Tết, cho đến ngày nay cái tiếng ống giang bập bùng nhịp lời vè chúc Tết của các thi nhân hành khất lại bay về bên mái tóc bạc này, văng vẳng ở bên tai tôi. Tôi xin thành kính tặng các bậc độc giả quá cao niên vốn sẵn công tâm với ngành văn bút bài Súc sắc súc sẻ ngắn gọn này. Lão già chúng ta cùng vui sống lại ngót trăm niên cổ lai hi.


 Người Hà Nội, số 2, 11/1/1997


 


Phấn hương


Bạn làng chơi chẳng lạ cái ngõ hẻm đày người, đầy rơm rác, nặng “mùi bần tiện”, “mùi hạ lưu” ấy
tại Hà Thành. Nhưng đấy là một chỗ ăn chơi, thật là một chỗ ăn chơi huyên náo, cuộc vui bắt đầu từ lúc sáng
đèn.


Bước chân vào ngõ ấy, vào giờ vui ấy, tức thì người ta quên mùi nước cống mà để cho khứu giác xúc tiếp ngay với mùi thơm của một tiệm cao lâu ầm ĩ những tiếng hò hét của các ông chiệc đang đánh bài cào, mạt chược, và những tiếng đàn ca lanh lảnh của các cô đào Tàu mua vui cho khách đến ăn.


Liền đấy là rạp hát tuồng, một rạp hát tuồng trường thọ nhất và được khán giả hoan nghênh nhất. Ngoài cửa bao giờ người ta cũng thấy treo tấm biển: “Tối nay đại diễn...” chữ viết bằng phấn nước của họa sĩ Trần Phềnh, nét chữ mềm mại quá, khiến người ta càng ngắm càng yêu. Mấy tầu lá gồi quấn ngoài cửa rạp đã héo vì nắng gió, chiếc đèn lớn làm theo hình tấm hoành phi, phơi mãi ngoài trời, nên những chữ cắt dán hồ đã rơi rụng từng nét một, và giấy bạc hết mà thủng rách từng miếng lớn, trơ lại khung tre.


Đó là buổi hát đặc biệt, thiên hạ nô nức đi xem. Vì người ta chú ý ngay tự lúc chiều: một chiếc ô tô tã phun khói mù đường, trên chở một tấm biển lớn kê tên tích hát, và năm bảy đào kép, mặt phấn môi son, mũ giáp lịch sự như Tiết Đinh Sơn, Phàn Lê Hoa nhà Đường; dữ dội, xấu xí như Chung Vô Diệm, Bao Công đời Tống. Những danh nhân thời chinh chiến ấy ngồi chồng chất lên nhau, chiều chiều đi diễu hết các phố, phơi mặt hề dưới nắng chiều hè còn nóng rát, hoặc dưới mưa gió buốt những chiều đông. Họ đã quen với khán giả lắm rồi, mà dân các phố cũng thích nhìn những bộ mặt ấy, vì họ cho là một trò vui mắt vui tai.


Hà Thành thời đó không thiếu gì những sự ngang tàng. Muốn gặp những cái ngang tàng ấy, phải đến cái ngõ hẻm này, chỗ đấu chọi của các tay chơi.


Phong trào đâm chém của đảng Càn Long đang thịnh, cho nên những tay anh chị luôn luôn giắt roi da, dây điện, dao, búa làm khí giới cần dùng trong lúc thị uy để tranh cướp một con đĩ thập thành, hoặc một con sen ngoài máy nước. Nhất là ở cửa rạp hát tuồng trong cái ngõ đày người, đày rơm rác, đày ruồi muỗi ấy - âu là tôi cứ gọi thẳng tên nó là ngõ Sầm Công - dân Càn Long càng muốn trổ oai, hoành hành như những ông tướng đóng tuồng. Người lịch sự phải gớm mặt các ông tướng đó, vì mỗi khi họ cần cà khịa, nhe chiếc răng đồng cười nhạt để thử gan một ông diện sang đi với một cô nhân tình xinh đẹp, thì tốt hơn là ông này cứ lẳng lặng mà đi.


Nhưng các ông tướng Càn Long lại rất nhún nhường, nịnh hót những ông tướng đóng tuồng, vì họ cần những ông này truyền cho họ dăm ba miếng võ tuồng.


Được nói chuyện với một kép hát trứ danh là một điều hãnh diện. Vừa thấy mặt ông kép mặt xanh xao đầu tóc rối bù, vận quần áo cánh lụa, nghênh ngang rẽ đám đông người vào rạp, là mấy ông tướng Càn Long chạy đến chào hỏi, mời kéo ra hàng nước để thết miếng trầu, hay cốc nước chanh.


Ở thời ấy, đào kép hát tuồng được người ta yêu mến như bây giờ người ta yêu mến những ngôi sao màn ảnh..., nhưng thời ấy qua rồi!


Ngày nay người ta thích chớp bóng, thích cải lương Nam Kỳ, người ta quên hẳn nghề hát bộ, quên những người, chừng mươi, mười lăm năm trước, đã được họ nhắc nhủ luôn, đã được họ ngắm những chân dung lồng trong khung kính treo ngoài cửa rạp, như ngắm những bậc vĩ nhân thế giới.


Phong trào của kịch trường mới đã đẩy họ lùi vào dĩ vãng tối tăm hoặc đưa họ về những nấm mồ. Họ đã chết hay là đang sống không nghề nghiệp, hay là đang hấp hối, thở nặng nề mà tiếc than nghề cũ, thời xưa.


Đã lâu lắm rồi, tối nay tôi mới đi qua cái ngõ chật người, đầy muỗi, ngạt mùi hôi hám ấy.


Tôi đã vì một sự bất đắc dĩ mà chui đầu qua một khung cửa gần như đổ sụp xuống đầu tôi, và tôi đã đứng trong một căn gác gần như hũ nút. Bạn tôi bảo tôi ngồi xuống chiếc giường có sẵn một người nằm bên khay đèn thuốc phiện chưa lên lửa. Người nằm đó nhỏm đầu lên, vơ chiếc giẻ lau khay đèn để chùi mũi, nhìn chúng tôi không biết nói câu gì. Bạn tôi lẳng lặng đặt giữa lòng khay một hộp thuốc một đồng, rồi giới thiệu cho tôi rõ người đàn bà ấy xưa là một danh ca của nghề hát bộ.


Nàng là Bảy Hoa.


Tôi tưởng đó là lời giễu cợt, nhưng không, ai lại giễu cợt một nỗi đau thương, một hiện hình của cái dĩ vãng sầu thảm ấy. Vậy thì Bảy Hoa, chính thị nàng. Nàng, xưa là Sắc đẹp, xưa là Tài hoa, xưa là tất cả những lời tưởng lệ, mà nay, trái lại... tôi rất ngại ngùng vì phải tìm những chữ chẳng văn hoa để tả hình dung người đàn bà ấy.


Bảy Hoa! Tên nàng in vào óc tôi tự ngày còn nhỏ. Tôi bỏ học, nhịn ăn quà để lấy tiền xem hát, cũng như để thuê những truyện La Thông tảo Bắc, Chinh Đông, Chinh Tây, Thủy Hử, Tùy Đường. Mê xem hát và ham đọc tiểu thuyết Tầu đến nỗi bị thầy tôi treo ngược chân lên cành cây mà đánh, bắt nhịn cơm đến hai ba bữa, me tôi xin hộ mới thôi.


Tôi thuộc tên các đào kép hơn thuộc tên các danh nhân trong sử ký; tôi thuộc tích hát hơn thuộc những bài học ở trường.


Nhất là Bảy Hoa, cái tên dễ nhớ làm sao! Tôi mê vẻ đẹp của nàng - tôi chỉ biết mê thôi, bởi vì tuổi thơ ngây tôi đã biết gì là yêu. Tối nào đi xem mà Bảy Hoa không sắm trò thì tôi chán ngán chỉ muốn về. Không được đi xem, tôi nằm mê thấy Bảy Hoa, tôi thấy Bảy Hoa hiển hiện trên trang sách học, trong bóng ngọn đèn. Tôi vui thích mỗi khi Bảy Hoa đóng võ chém một tướng Phiên; tôi hồi hộp mỗi lần Bảy Hoa bị trúng mũi tên, xõa tóc than thảm thiết bên bức phông vẽ cảnh núi rừng.


Không bao giờ Bảy Hoa sắm vai đào phụ, vì người ta phải kính trọng cái danh và tài nghệ của nàng. Nhiều lần, chen lách vào lấy được chiếc vé hàng ghế cuối, tôi ra cửa thở, và tôi đã phát ghen với mấy ông lớn rất sang khoác tay Bảy Hoa lên chiếc xe hơi, đưa nàng đi ăn uống trước giờ nàng vào rạp sắm tuồng.


Bảy Hoa đẹp như thế, tài danh như thế, ai mà chẳng đón đưa.


Bảy Hoa lại được hãng thu thanh mời hát vào đĩa nhựa. Tôi xin thầy tôi mua tất cả những đĩa có bản hát của nàng, và tôi đoan rằng được vậy, tôi sẽ không dám trốn học đi coi hát nữa.


Thế là ngày đêm tôi đã có Bảy Hoa ở bên mình, ở chung giường ngủ, ở trên bàn học và Bảy Hoa theo tôi về tận nhà quê, trên bãi cỏ, hát cho tôi nghe dưới bóng cây râm mát giữa cánh đồng. Trời ơi! giọng ngân dài như tiếng tiêu sầu, nỉ non và thấm thía như lời than thở ấy, tôi không mê mệt làm sao! Này là lớp Hán - Sở tranh hùng, Ngu Cơ khóc biệt Hạng Vương trên bến Ô Giang vẳng buồn khúc địch Trương Lương... Này là lớp Bàng Phi quỳ ôm gối Nhân Tôn, kéo dải bào van lạy quân vương xin cho khỏi tội tử hình... Này là lớp Bạch xà bị tiên ông hãm trong tháp ngọc..., Đát Kỷ làm nũng Trụ Vương đòi ăn gan nuốt mật Tỷ Can...


- Bảy Hoa ơi! Thời xưa mất hẳn rồi.


Tôi ngậm ngùi thương người đẹp ấy, nàng danh ca ấy, tối nay, một tối mưa đông buồn lạnh, một tối mà không biết vì đâu, lòng tôi cũng lạnh buồn như mưa. Cuộc gặp gỡ Bảy Hoa, hình sắc Bảy Hoa càng khiến lòng tôi thêm chán ngán, và quả như lời kẻ buồn đời thường than thở, cuộc sống của con người ngắn ngủi quá chừng.


- Vừa mới năm nào!


Ừ, vừa mới năm nào Bảy Hoa còn được đời mến chuộng, đón đưa, mà nay thì thân tàn ma dại, mình gày bọc manh áo vá tanh hôi.


- Bảy Hoa hiện nay làm nghề gì cho đủ xài, đủ hút?


Nàng tiêm thuốc trả lời:


- Còn biết làm chi nữa! Nghề hát đã phế bỏ rồi. Chỉ còn một cách tự tử, hoặc sống mà ăn xin cho qua bữa.


Câu nói ấy se lòng tôi lại, nhưng Bảy Hoa vẻ mặt thản nhiên, vì có lẽ nàng đã dùng câu đó để đáp nhiều người, như tôi, đã thương hại hỏi nàng.


- Ông ạ, bọn anh em chúng tôi nay sống ít, mà chết thật rất nhiều. Tôi đã đi đưa đám những bạn tôi, hồi còn có sức; nhưng nay yếu rồi, tôi chẳng còn sức mà đi đưa đám nữa. Sau khi mất nghệ, chị Tám mà nay còn đĩa hát đấy, đã chết vì đau phổi, anh Sáu đã bỏ mạng bởi thiếu sài... còn kẻ sống sót như anh Hải thì soạn vở cải lương, như chị Thanh, chị Cưỡng thì đi làm điếm. Còn tôi, tôi chỉ còn đủ hơi chờ một ngày rét quá, một buổi trời u ám quá...


Bảy Hoa thở dài.


Tuy căn gác tối như hũ nút, tôi cũng cố tìm xem có vật gì đáng giá ít nhiều, nhưng không. Tôi chỉ thấy trên tường đầy khói ám, mấy tấm ảnh lồng trong khung kính vỡ treo lệch lạc: ảnh Bảy Hoa chụp hồi còn trẻ. Bức thì chụp nàng mặc áo giáp Tàu sắm vai nữ tướng, bức thì chụp nàng ôm bó hoa to che gần kín ngực, tươi cười.


Bảy Hoa của thời xưa sắc tài đang lừng lẫy đấy! Bảy Hoa thuở trước đã qua rồi!


Tôi lại bước chân vào cái ngõ hẻm đày người, đày rơm rác, đày nhặng, đày “mùi bần tiện, mùi hạ lưu” ấy một đêm sau, mưa gió lạnh lùng hơn. Và tôi lại khom lưng chui qua khung cửa thấp, trèo lên cái thang ọp ẹp gần sụp đổ, ngồi nhìn Bảy Hoa tiêm hết hộp thuốc lớn tôi mua tặng, nhìn những bức ảnh lúc thiếu thời treo trên vách bẩn nhện chăng.


Nàng kể cho tôi nghe những tích hát nàng thích, những đoạn tình kỳ dị, những người yêu thủy chung, si ngốc hoặc là đểu giả lọc lừa...


Tôi ngỏ cho nàng biết lòng tôi yêu mến sắc tài nàng hồi tôi còn thơ nhỏ. Nàng ngước mắt nhìn tôi:


- Trời ơi, đã lâu lắm tôi mới được nghe một người, là ông, nhắc đến sắc đẹp của tôi, nhắc đến một cảm tình gửi tặng tôi... tôi sung sướng quá...


Bảy Hoa ngồi nhỏm dậy, lôi một chiếc hòm gỗ đày bụi bậm ở gậm giường, mở lấy một gói giấy to..., nàng run tay trịnh trọng mở gói giấy đó ra, khẽ đặt lên lòng tôi:


- Đây là những bó hoa năm xưa, nhân dịp diễn giúp dân bị nạn, quan Đốc lý đưa tặng tận tay tôi... đây là bó hoa của một người... một người đã mất cả gia tài, cơ nghiệp vì tôi... đây là những bó hoa của một số đông khán giả... đây là... nhưng thôi, nó nào phải là những bông hoa tươi thắm như nhan sắc tôi năm ấy,... nay chỉ là một đống lá khô, cánh héo, hương sắc không còn.


Tôi bùi ngùi đưa trả lại nàng những bó hoa khô.


Nàng khẽ tiếp:


- Giờ trót đời tôi ước gì lại được bó hoa tươi của ai tặng nhỉ! Có một đêm tôi nằm mê thấy được như thế đấy. Song đùa vậy mà chơi, chứ đó chỉ là một giấc mơ mà!


 


Mấy ngày sau, vào một buổi chiều trời u ám, lá rụng nhiều, gió thổi nhiều, tôi đi lang thang bên bờ hồ Hoàn Kiếm, rồi qua chợ Đồng Xuân. Chợ đã tàn, chỉ còn một cô gái bán hoa, - trên rổ còn một bó hoa gần héo úa. Nhìn cô gái bán hoa mặt buồn rười rượi, quần áo tồi tàn, tôi tưởng tượng đến cảnh gia đình nghèo túng của cô, tôi vét tất cả xu trong túi mua bó hoa tàn úa ấy rồi đi.


Đang lúc không biết dùng bó hoa ấy làm gì, thì một chiếc lá rơi xuống đầu tôi, một hơi gió nhẹ thổi qua tai tôi như hơi thở của một người gần chết, tôi vụt nhớ đến Bảy Hoa. Vội vàng, tôi quay lại nhà nàng.


Nghe tiếng giầy tôi vừa giẫm cọt kẹt trên sàn gỗ nát, Bảy Hoa đang thiêm thiếp bên khay đèn không lửa, bỗng mở mắt nhìn tôi, gượng cười.


Ngồi bên nàng, tôi ngạc nhiên vì thấy đày mình nàng rắc kín những cánh hoa khô héo mà người ta đã tặng nàng, và nàng đã cho tôi xem đêm nọ. Nàng nắm tay tôi, thở phì phào:


- Ông làm ơn mở rộng cái cửa sổ kia ra, cho tôi nhìn thấy trời một lần chót nữa.


Tôi kính cẩn nâng bó hoa mua ban nãy, ghé tai nàng:


- Bảy Hoa, tôi tặng bà bó hoa này, tôi tặng bà tất cả tấm cảm tình của tôi hồi thơ nhỏ, và tôi cầu cho linh hồn bà siêu thoát.


Mắt sáng hẳn lên, nàng đỡ bó hoa đặt lên miệng hôn, rồi ấp lên ngực, hơi nhếch đôi môi xám nhợt:


- Ông đã làm giấc mơ của tôi thành sự thực, ông đã cho tôi một bó hoa cuối đời..., ông ơi, tôi mãn nguyện quá, vui thỏa quá...


Rợn người, tôi cúi đầu trước thi thể Bảy Hoa trong căn gác tối, khi ấy ngoài trời mưa gió vẫn thở dài.


                                                                                                                 Sáng tác năm 1934
                                                                                                 Đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, số 163/1937


Ở bãi


Từ ngày trú ngụ dưới bãi sông, tôi thấy trong tâm hồn tôi có một cái gì mới mẻ, dường như một sự tiếp xúc hỗn độn hình bóng về tình cảm không rõ rệt.


Những buổi tối con sông mờ giăng, đoàn người lặng lẽ đi bên bờ sông kéo chiếc thuyền ngược gió, ngược dòng... Bộ mặt tối tăm khổ hạnh của bác thợ máy Gia Lâm và bác đồ tể chiều chiều uống say, ngồi bên chum nước, mài dao... Tất cả, hình này lẫn bóng kia, màu này pha màu khác, tựu chung dệt nên một bức tranh gây ấn tượng khá sâu sắc.


Tôi thân thuộc dần dần. Người ta thôi không ngờ tôi nữa.


- Cái nhà ông ấy trông hiền quá nhỉ!


Tôi làm gì ai mà chẳng hiền. Tôi hiền cùng ngoại vật, hiền cả trong tư tưởng.


Bọn tôi, bác thợ máy và bác đồ tể. Hai bác ở cách tôi mấy ruộng dâu, tối thường rủ nhau cùng đến nhà tôi học. Tôi vui lòng bỏ thì giờ buổi tối dạy hai bác học tính, làm luận, địa dư, cách trí. Tôi lại nhận cả chân dạy lớp học Truyền bá quốc ngữ nữa. Phần thưởng khiến tôi vui thỏa nhất là nhìn những bộ mặt nghèo khổ kia sáng ra trên những dòng chữ đen, trên những con số khó mà họ vừa hiểu biết.


Tôi ở bãi đã được hai tháng. Bây giờ trời bắt đầu rét. Gió lùa vào những gian nhà lá, rét thấu xương. Tôi không kêu ca. Người ta chịu được, mình cũng phải chịu được. Hãy giản dị đi rồi sẽ quen. Khi giản dị, người ta mới thấy cái đẹp đúng nghĩa của cuộc đời.


Một chiều. Tôi ngồi bó tay trước chiếc bàn gỗ mọt. Mấy tờ giấy trắng trước mắt. Bụi bốc mờ trên đường đê cao. Sóng vỗ ngoài sông ở sau nhà. Khóm chuối góc sân, xơ xác. Tôi mới cầm bút, bắt đầu một truyện dài. Sự bắt đầu là cả một thách thức. Tôi rụt rè, sợ lòng mình, sợ những hình, những bóng. Loáng như một lưỡi thép chạm vào xương, hình bóng đoàn người lầm lì đi ngược dòng nước, giờ hiện ra dưới ngòi bút không động đậy. Ánh nắng nhạt cháy trên trang giấy, đẹp như vàng son. Tôi ước gì những tư tưởng tôi ngỏ trên giấy cũng đẹp như màu vàng son, những tư tưởng chói lòa, mắt trần không đọc được, ở đấy rồi biến ngay vào vũ trụ, bay lên những hành tinh. Nhưng than ôi, xác thịt con người vốn nặng, tư tưởng từ cái sọ tối như địa ngục thoát ra, có bao giờ có cánh. Tuy nhiên, tôi cũng muốn viết thử một câu. Câu gì chả được, miễn có một đường tơ vương cho vui bút giấy. Nắng tắt, giời tối rất mau. Đoàn ngựa của bọn “dô kề” quần thảo ngoài bãi cát sông đã lên đê. Bỗng một cảm giác gì làm ghê rợn não cân, tôi nhìn quanh.


Một hình thể xương thịt hiện ở góc nhà tự lúc nào không biết. Tôi đẩy ghế đứng dậy, có lẽ để tự vệ, có lẽ để... Hà! Tôi không thể nói rõ lý trí tôi lúc đó.


Nó tiến ra ngoài chỗ sáng, gần tôi. Một con bé, rách rưới chừng mười hai tuổi, ấy là đoán theo gương mặt, mà nếu đoán theo vóc người thì phải rút tuổi nó đi chút nữa.


- Con bé này, mày vào tự lúc nào?


Nó nhìn tôi không chớp và không đáp. Tôi hỏi nữa, một lúc lâu, nó mới nhếch miệng, giọng rất nhỏ:


- Cháu chui qua lỗ vách thủng kia. Cháu quen nhà này lắm, trước kia ông ngoại cháu ở đây. Ông ngoại cháu chết rồi.


Linh tính cho tôi nghĩ ngay đến lão già say rượu. Tôi lại nhớ đến một hai đêm tôi nằm mơ thấy lão. Lão đã ngồi ở chỗ tôi ngồi, lão đã nằm ở chỗ tôi nằm, khốn nạn, gian nhà lá chật hẹp này, đâu là không có hơi hướng lão. Tôi chú ý ngắm con bé. Nó nhìn lên nóc nhà, giọng phều phào:


- Ông cháu, ngày sống, có giữ cho cháu một cái gói đựng mấy hào. Ông cháu bảo phải để dành vài hào phòng khi về quê quán. Ông cháu dù thèm rượu, dù đói đến đâu cũng không hề mó đến mấy hào của cháu. Cháu đến xin ông cho cháu lấy đi. Bây giờ ông cháu chết rồi, cháu cũng chưa chắc được người ta thả cho về quê, thôi thì cháu lấy mấy hào ấy mua hương hoa thăm mả ông cháu vậy.


Nói rồi, con bé trỏ lên mái rạ, chỗ ông nó giấu gói tiền. Tôi bắc ghế lên giường, trèo vạch mái ra xem, quả nhiên có một gói giấy nhỏ. Con bé đón lấy cái gói bỏ vào túi, len lén ra cửa, rồi lủi đi. Cái thân hình tiều tụy mất vào bóng tối...


Con bé kỳ dị làm tôi nghĩ ngợi. Ngày hôm sau, tôi nói chuyện này với bác thợ máy và bác đồ tể. Hai bác không hề biết lão già kia có con bé cháu ấy. Ở đây, ai cũng chỉ biết lão độc có một thân một mình.


Cách đó ba ngày, con bé lại đến. Mặt nó có một vẻ ngơ ngác, buồn khổ lạ lùng. Nó đứng cạnh bàn tôi làm việc, nhìn khắp gian nhà, mắt đỏ mọng lên.


Tôi cố dịu giọng cho nó khỏi sợ:


- Em đến gian nhà cũ này vì em nhớ đến ông ngoại em phải không?


Em bé gật đầu. Tôi bắt đầu lưu ý đến nó hơn, vì tôi thấy lòng tôi nao nao một niềm thương xót.


- Em ở đâu? Có bố mẹ không?


Con bé cúi nhìn xuống đất. Một lát, nó ngẩng nhìn tôi, rồi lại vẫn cái dáng điệu sợ sệt như tối nọ, nó lủi ra ngoài.


Sau đó, hơn một tháng sau, con bé không đến nữa. Một buổi, tôi lang thang đi về vùng ô Yên Phụ. Xuống một con đường dốc, tôi chợt thoáng thấy hình dáng con bé khốn khổ kia sau một bờ rào tre bao quanh cái sân đất hẹp và ba gian nhà lá. Tôi dừng lại. Bờ rào thưa, cho tôi nhìn rõ những người trong sân. Con bé đang vo gạo bên chum nước. Có một mụ đàn bà to béo ở trong nhà ra, quát tháo ầm ĩ, tay cầm thanh củi.


- Con ranh này, tao sai mày đi mua tương ngoài hàng kia mà mày đi mất nửa ngày. Bà thì đánh tan xác mày ra...


Mụ xăm xăm đến con bé, vụt đồm độp xuống nó. Con bé trước còn giơ tay đỡ, sau tay đau quá, nó rụt lại ôm lấy đầu, chìa lưng ra cho mụ vụt. Nó không kêu, không giãy. Tôi điên tức, muốn vào can thiệp nhưng vào làm sao, can thiệp thế nào? Thành ra, hôm đó ra về, tôi nuôi cái buồn, cái tức trong lòng, như chính thân tôi đã bị ai hành hạ. Tối hôm ấy, bác thợ máy và bác đồ tể đến học, tôi kể lại cảnh kia cho họ nghe.


Bác đồ tể đập tay vào đùi tôi, cười vang nhà:


- Ối mẹ ôi, đó là nhà con mụ Mít. Tối nào mưa dầm gió bấc, ông có muốn đi giải sầu thì tôi xin hướng dẫn. Nhiều mẻng sộp lắm ạ!


Tôi thấy một cái gì vang vỡ trong lòng. Con bé mới từng ấy tuổi, gày gò như thế! Có lẽ đâu!


Bỏ qua, tôi không nói gì đến chuyện ấy nữa. Mười giờ, bác thợ máy và bác đồ tể học xong ra về. Tôi làm việc, vừa cầm bút thì có một cái bóng lẻn vào. Con bé ấy! Vẫn dáng điệu sợ hãi, nó ẩn sau lưng tôi, làm như có ai theo đuổi, cần tôi che chở.


Tôi biết ý, ra cài cổng.


Trong ánh lửa đỏ mờ, tôi nhận thấy nó lạ hơn mọi bữa. Mặt nó bôi phấn sáp, lông mày vẽ vụng về. Nó mặc cái áo lụa hoa đào, tuy giời rét đứt ruột. Vai áo rách sã một miếng, tỏ ra bị ai giằng xé. Nó run bần bật. Tôi cầm bàn tay gày nhỏ của nó, bảo:


- Em không sợ, đã có ta bênh vực. Con mụ béo đánh đuổi phải không?


Con bé tròn mắt nhìn tôi. Nó lạ, sao tôi biết con mụ béo.


- Ta biết. Con mụ ấy bắt em tiếp khách chứ gì?


Con bé ôm mặt khóc nức nở.


- Ông ơi, ông chết đi để cháu bơ vơ một thân một mình, người ta đày đọa cháu thế này...


Nó điên cuồng, cào cấu mặt mũi, móc ngón tay vào chỗ áo rách, xé toạc thêm ra.


- Cháu không nghe lời nó được. Cháu sợ lắm... Nó bôi son, trát phấn vào mặt cháu. Nó bắt cháu cởi áo nâu ra mặc áo lụa này vào. Nó dỗ dành cháu. Dỗ không được, nó đánh. Cháu chạy. Một người đàn ông say rượu đuổi cháu đến đây...


Tôi không nói gì, lặng yên nhìn con bé khốn khổ như một con nai con bị kẻ đi săn dồn đuổi. Tôi ngồi trước ngọn đèn con. Ngoài giời mưa rét. Con bé mệt, nằm ngả đầu trên một cánh tay co quắp. Nó rên se sẽ. Tôi đặt tay vào trán nó. Da nóng như than. Tôi đỡ nó vào giường, đắp chăn. Nó lên cơn sốt rét, run lập cập. Tôi thức suốt đêm hôm ấy, lòng hoang mang, khổ não vô cùng.


- Nếu ta không cứu vớt, nó bị đọa lạc, sẽ rơi xuống vực.


Sớm hôm sau, để yên nó ngủ tôi đi lấy trước một món tiền tại một nhà xuất bản. Tôi đến nhà mụ Tú Bà. Con mụ thấy tôi nhận là anh họ con bé, và thấy tôi đến giả tiền chuộc nó ra, thì hí hửng, rất khả ố.


Đưa tiền và lấy giấy tờ của mụ Mít xong, tôi về bãi. Con bé đã thức dậy, thấy tôi về, nó vội ngồi lên. Nó ngơ ngác nhìn tôi, nhìn một lượt khắp gian nhà, rồi lại vẫn dáng sợ sệt, nó lẻn ra cửa như mọi bận.


Tôi kéo tay nó lại:


- Ta chuộc cho em ra rồi. Bây giờ em có thể yên thân ở đây với ta.


Nó trố mắt nhìn tôi rồi bưng mặt khóc.


Hôm ấy Chủ nhật. Hai vợ chồng bác thợ máy đi qua ngõ, chừng ngày lương, dắt nhau lên phố sắm sửa chăng. Tôi gọi vợ chồng bác thợ máy vào. Tôi kể chuyện đêm qua con bé bị người ta ép, phải trốn đến đây, và sau cùng tôi nhờ vợ chồng bác đem nó về, nuôi nó. Vợ bác thợ máy, vốn hiền lành, phúc hậu, vui vẻ xin nhận nó làm con nuôi, bởi bác đang hiếm hoi chưa có mụn con nào. Vợ chồng bác xin đem con bé về ngay lúc đó để thuốc thang cho nó khỏi bệnh. Nhìn ba cái bóng đi khuất bờ rào, tôi mỉm cười, rất bằng lòng.


Tôi ngồi phác họa tương lai con bé. Trong khi ấy trời hửng nắng, sau mấy ngày gió bấc, mưa dầm.
 
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 432 năm 1942.


 


Làm báo


1946 bầu đoàn thê tử tôi kéo nhau chạy giặc Tây lên phủ Yên Thế, tá túc tại Nhã Nam.


Sống, phải làm, phải kiếm ăn. Gia đình tôi cũng cần kiếm ăn ngày loạn. Dọn quán bán hàng, nhìn địa thể cắm đất, địa lợi có ngay. Cắm đất dựng lều dưới chân đồi, trên có đền thờ Hoàng Hoa Thám, quán đắc địa. Con đường chạy thẳng đến chợ Bùng, rồi đến chợ Nhã Nam, chợ luôn phiên, ngày nào cũng họp. Cán bộ, bộ đội, dân thiểu số, bà con các tỉnh tản cư về cái đất Kinh Bắc này đông vui như hội.


Bà xã nhà tôi nấu nướng khá, mồm mép giao dịch với khách ghé nón, hạ ba lô cũng rôm rả tươi vui. Món ăn đặc biệt thời loạn li là bún riêu, bún chả, chè đỗ đen, thạch đen, bánh rán. Tôi, tạm nghỉ bút nghiên, hàng ngày, từ sáng sớm, đạp xe đến làng Gia cách Nhã Nam hai cây số, mua bún đèo về, giúp vợ giã cua, quạt bếp, nặn bánh rán. Đủ trò, tất bật suốt ngày. Bộ đội chạy bộ hàng chục cây số đường rừng, nhịn ăn hãm uống, chờ đến quán bún riêu Đình Nẻo mới dừng chân, vào ăn, nghỉ. Quán bún riêu Đình Nẻo tiếng đồn các ngả đường, ngon, rẻ, chào mời tử tế.


Hàng ngày tôi đặt cái chõng tre trước đền thờ cụ Hoàng, nằm đọc sách sau giờ tíu tít giúp bà xã sửa soạn hàng ngày.


Bỗng một hôm đang say sưa mấy trang sách cổ, tiếng nhạc ngựa khua giòn từ dưới dốc đồi lên. Ngựa đến gần, dừng lại. Một người, chừng ngoài ba mươi tuổi, xuống yên vắt dây cương ngựa vào một cành cây thấp, bước đến bên chõng tre, cất tiếng chào tôi, cười nói:


- Chà, nhà văn nhàn nhã quá. Thời thế này, nằm rung đùi đọc sách, cũng hay. Loạn thế độc thư mà.


Tôi nhỏm dậy, nhìn khách lạ. Người ấy có dáng cao sang, to lớn, vận bộ đồ nhà binh vải ka ki Mỹ, dây da lưng to bản đeo khẩu súng lục trông to, nặng. Khách ngồi xuống chõng, thân mật nói:


- Tôi, người ở Bộ Công an. Đây là khu kháng chiến 12. Cần có một cơ quan ngôn luận, một tờ tạp chí nhiều trang. Nội dung viết về công an. Yêu cầu, mục đích của báo là đề cao vai trò công an nhân dân, chủ yếu về an ninh quần chúng được giữ gìn, công an được nhân dân tin cậy, yêu mến. Tên báo là Bạn dân, trang báo khổ giấy rộng, sẽ in nhiều số, phát hành suốt Cao Bắc Lạng. Chúng tôi vừa nghe tin anh tạm lánh ở vùng này. Trên cử tôi tìm đến đây, mời anh ra đứng tên chủ bút, một tay anh biên soạn bài vở. Nhà in đã sẵn. Tôi sẽ giới thiệu anh với nhà in lưu động ấy. Mong anh vui vẻ cộng sự với chúng tôi.


Ông nói một hơi dài, trịnh trọng khẩn thiết, không đùa.


Tôi bật người lên, vội đáp:


- Trước hết tôi xin nói: Tôi không hề biết gì về tổ chức, sinh hoạt của ngành công an. Sau là làm một tập san khổ lớn, nhiều trang như vậy, một tôi làm sao nổi. Thực hiện một tờ báo cỡ ấy, ít cũng mươi tay viết, mà phải tay viết nhà nghề của công an. Thật tình tôi không dám nhận lời.


Giọng ông khách đĩnh đạc hơn:


- Tôi biết đó là việc khó, anh sẽ chối từ. Nhưng tờ báo phải ra đời trong tháng này. Trên quyết định tôi phải nhận được lời giúp đỡ của anh dù khó khăn đến mấy.


Tôi vẫn một mực chối từ. Ông khách vui vẻ đứng lên cáo từ tôi, nhảy phắt lên yên ngựa. Tôi nhìn theo. Con ngựa Nhật to cao, ức nở, mình dài, bụng thót, mông to, bốn vó thuôn nhỏ, móng tròn, chắc nịch. Giống ngựa quý, ngựa chiến của Phù Tang.


Cả đêm ấy, tôi không sao ngủ, bị những ý nghĩ vẩn vơ về tờ báo công an giày vò. Trời sáng, tôi tiên liệu ông khách thế nào cũng trở lại.


Quả nhiên, khoảng 9 giờ, con ngựa chiến màu đen hung đỏ, đốm trắng giữa trán chạy vút lên đồi, dừng ngay lại, đứng yên không nhúc nhích trước chõng tre. Ông kỵ sĩ cũng có vẻ nghề, nhảy xuống, ngồi lên chõng, vẫn giọng thân mật nhắc lại lời thỉnh cầu hôm trước. Lần này ông khách thêm những lời ép buộc hơn.


Tôi vẫn chối. Nhưng thấy thái độ ông khách kiên quyết quá, tôi phải nhận lời, làm tờ báo Bạn dân.


Bàn giấy của tôi - Văn phòng tòa soạn tạp chí Bạn dân, báo của chiến khu 12 thiết lập ở hàng hiên dưới mái đền cụ Hoàng Hoa Thám. Còn bàn giấy ông chủ bút Bạn dân là cái chõng tre rệu rão gần gãy nát.


Tôi bắt đầu làm việc. Chõng là bàn, ngồi mặt đất. Trên mặt chõng chỉ có một lọ mực tím, một quản bút tre cắm ngòi bút “ma la”. Không có một mảnh giấy tư liệu, tài liệu! Đầu óc tôi bốc lửa. Thế rồi thì con ma nghề nghiệp cuối cùng cũng thương tôi. Nó hiện ra, nó nhập vào tôi. Tôi cầm bút viết. Hồi ấy, tôi mới 31 tuổi, còn khỏe sức, còn nhanh trí, còn sáng tạo, còn vắt chất xám ra nặn lên những việc kỳ người lạ ở anh công an, chị công an, kháng chiến đánh Tây.


Viết ngày này sang ngày khác. Viết như cuốc đất, bổ củi, không ngủ, ít ăn. Viết đủ các mục do khả năng sáng tác quen nghề của một cây bút viết tiểu thuyết. Đủ món: xã luận, lời chào ra mắt bạn đọc của ban biên tập (có mình tôi), truyện dài, truyện ngắn, mục khôi hài, thư tình cảm, thơ vui cười, chế giễu, mục đố vui.


Cặm cụi viết, chốc đã qua tuần. Một tập bản thảo dày cộm xếp mặt chõng. Ông khách kỵ mã nhớ ngày hẹn đã đến kia. Tôi đưa ông tập bài. Bảo ông đọc, duyệt kỹ về sai đúng chính trị, ký dưới bài trước khi in, tôi có ý chịu trách nhiệm với ông. Ông cười, không đọc.


- Tôi tin ở ông. Tuyệt đối tin. Tôi không có thì giờ đọc. Nói đúng hơn, tôi thiếu khả năng hiểu biết về văn chương báo chí. Xin nhắc lại, tôi tin ông. Tuyệt đối.


Ông vỗ vai tôi:


- Tôi không ngờ ông viết nhanh đến thế. Mới có bảy ngày ông biên soạn xong số 1. Bây giờ, chúng ta đến Cao Thượng, quán rượu tốt nhất vùng này uống với nhau chén rượu mừng Bạn dân số 1.


Ông lên ngựa, mời tôi lên yên ngồi cùng, quất roi, con tuấn mã sải vó khi xuống đồi, vút đến tửu quán nằm giữa những ngọn đồi, rừng cây hạt dẻ...


Xong việc, ông kỵ mã nhấp giọng khi đã xua tay đuổi ba cô gái:


- Bây giờ tôi cho ông biết cái nhà in lưu động của kháng chiến khu 12. Nhà in đó ở làng Dĩnh Thép, nơi cụ Hoàng bị hại. Ông cứ đi đường này, đường này (ông rút sổ tay vẽ địa đồ), qua con suối nhỏ, sang bên kia, sẽ lắng nghe tiếng máy in. Ông đến thẳng đó, trình giấy giới thiệu của tôi. Các công nhân sẽ vui đón tiếp ông.


Ông nhảy lên yên ngựa, còn cúi xuống ghé tai tôi:


- Ông nghe kỹ này. Tôi đã chỉ ông biết rõ nhà in tức là đã trao cho ông chiếc chìa khóa sinh tử của cả chiến khu 12 này đấy. Ông nên cẩn thận. Nếu có gì xảy ra, hậu quả thế nào, ông đã biết.


Con ngựa  cất vó chạy nh ư bay. Tôi rợn tóc, rùng mình.


Sớm sau, tôi đút tập bản thảo báo vào túi vải, khoác vai, tìm lối vào nhà in lưu động làng Dĩnh Thép, tử địa của họ Hoàng, lòng sao cứ thấy rờn rợn không thanh thoát.


Tai nạn đã đến với tôi.


Trời rét đậm. Sương mù bao trùm miền sơn cước. Tôi cúi đầu lặng lẽ, rảo gót, tai nghe ngóng, linh cảm một cái gì sắp xảy ra.


Đột nhiên, có tiếng cành lá bụi cây rung động. Một người, như con đười ươi lớn, nhảy ra. Một người sơn tộc. Hắn lao đến tôi, định bóp cổ, miệng quát tiếng Kinh, nghe lơ lớ:


- Cởi áo ra.


Thì ra hắn đã theo dõi tôi, thèm cái áo da trong lót lông cừu trắng kiểu áo của phi công Âu Mỹ. Tôi mượn áo này của Trần Huyền Trân. Anh đi công tác xa, không dám mặc, cũng giống tôi mặc nó có người sẽ lột bởi nó là áo quý nhất ở nơi chiến địa.


Tôi cố điềm tĩnh, không sợ, trước cái thân hình không có vẻ gì là đạo tặc cỡ thích giết người.


Tôi né mình, gạt mạnh tay hắn, đầu óc tỉnh táo nhớ lại mấy miếng võ đã học được của bọn người con cháu nghĩa quân Đề Thám, Tán Thuật mà tôi đã viết đến trong bài ký Hà Nội cũ nằm đây cũng đăng ở báo này. Tôi nắm chặt một cánh tay hắn, tiến sát mình hắn, dùng hết lực đưa đầu gối thúc vào bộ hạ, một bàn tay tôi gồng hết lực bóp xuống họng hắn, còn một tay đấm thúc, từ dưới bụng lên quai hàm hai quả đấm liền. Hắn kêu rú một tiếng, ngã lật ngửa trên bãi cỏ, ngoẹo đầu. Tôi bỏ đi, hú vía. Giá không có miếng võ phòng thân ấy, lại nếu địch thủ năm ba đứa có vũ khí thì mạng tôi khó bảo toàn về với vợ con. Chết như vậy, tất nhiên không được nêu danh liệt sĩ.


Tôi áp tai xuống đất, bắt được tiếng rung, tiếng kêu nho nhỏ của máy in, tôi tìm đến, xuất giấy tờ, anh em công nhân, toàn mặt quen thuộc ở mấy nhà in Hà Nội, thấy tôi, mừng quá, ôm lấy tôi, hỏi tin chiến sự Hà Nội, Hải Phòng tíu tít.


Tờ Bạn dân tiếp tục ra được 3 số vẫn do mình tôi ngồi bên đền thờ Hoàng Hoa Thám, với cây bút cán tre, ngòi “ma la” hút gần cạn lọ mực tím, ngày ngày vận dụng hết chất xám của bộ não mệt mỏi, bôi trát ngót trăm trang bản thảo, rồi lại một mình xuyên đường rừng núi, mò đến nhà in. Vừa đi, cúi đầu lo lắng, vừa rờn rợn nghe tiếng vọng câu nói của ông kỵ sĩ “Tôi chỉ ông biết nhà in bí mật tức là trao ông chiếc chìa khóa của chiến khu 12 rồi đó...”.


Báo ra số 3 rồi thôi, thời gian ngồi viết sống bằng bún riêu của vợ. Chợ Nhã Nam, năm ấy, 1947, triển lãm chiến lợi phẩm ta thu được của địch, bị chúng cho máy bay bắn phá. Như chim vỡ tổ, quán bún riêu cũng dẹp luôn.


Người Hà Nội số 30 / 1996.


Ga xép


Những ngày xa xưa, ai đã từng xuôi ngược trong những chuyến đi gần đi xa, trên các toa tàu hỏa được khó nhọc kéo đi bởi cái đầu tàu xấu xí phì phò nhả khói, tất nhiên còn lưu giữ trong trí nhớ những nhà ga nhỏ bé đứng trơ vơ đơn độc trên cánh đồng mênh mang hiu quạnh, ngày đêm ít có bóng người.


Ngày ấy, tôi còn trẻ lắm, ở cái tuổi thiếu niên. Lớn lên, qua đây qua đó cũng nhiều, ghi trong tâm tưởng kể hàng trăm ga nhỏ bé mọc lên khắp miền đồng bằng, sơn cước, “đường thuộc địa”, ôm chặt lấy các tuyến đường sắt Bắc Nam. Ngày nay, quá già rồi, tôi không còn đôi chân nhanh nhẹn, cơ thể gọn gàng để chuyển hành lí cồng kềnh hoặc khi toa đông khách, cái gã thanh niên tháo vát này tự tiện phi thân lên cửa toa xe, nhảy phắt vào chiếc ghế gỗ dài, ngồi vắt vẻo. Ở lứa tuổi xanh rờn ấy, tôi tự đắc là khỏe mạnh, ít bỏ lỡ dịp trổ cái vốn võ thuật ít ỏi của mình, nhờ một núi truyện kiếm hiệp Tàu đăng câu khách trên hầu hết báo chí của thủ đô, hơn nữa, tuổi trai chưa vợ, tôi thích cái chuyện “ân oán giang hồ” vặt, mê lăn các tuyến đường đất nước, nhất là đường sắt. Mê đường sắt bởi lí do: trong toa tàu chạy xuyên đêm mịt mờ tối sáng, luôn ánh lên một đôi mắt biếc, một nụ cười duyên, tiếng nói ngọt ngào có hiệu lực ru mấy hành khách đang ngủ gật và làm tỉnh táo mấy gã đầu xanh, tim đập rộn ràng, mở to mắt đoán tìm ánh mắt ấy, nụ cười, giọng nói ấy tất phải của người đẹp hành hương. Thế rồi, tới lúc sáng trời, họ đã nhanh chóng trở thành đôi bạn chim xanh, say sưa viết trang tình sử. Tuổi xanh, ở thuở nào cũng vậy, con người sống với trời tình biển hận, nghĩa là phải có yêu đương, ngủ cũng mơ yêu, thức cũng mơ yêu, yêu đến già, đến chết. Tình yêu là đất thánh nhiều màu mỡ, ở đó, chỉ ở đó nảy mầm thơ văn, làm nên văn học, làm nên truyện Kiều.


Tôi vốn người quê Kinh Bắc, sinh quán phủ Thuận Thành. Sử cũ chép: Đời nhà Hán Trung Hoa, phủ Thuận Thành của ta tên gọi Liên Lâu, hai Bà Trưng ngày khởi nghĩa đã hội tướng hội quân ở đó. Cũng ở đó, sau này Tô Định đã sát hại Thi Sách, gây cho Bà Trưng mối thù chồng phải báo; cũng ở đó, Mã Viện đã xuất quân, diệt Nữ Vương anh hùng đất Việt.


Mỗi lần tôi từ quê ra Hà Nội, phải cuốc bộ hơn mười cây số tới ga Lạc Đạo, đợi tàu Hải Phòng lên.


Chao ôi, cái ga Lạc Đạo bé nhỏ này! Một đời người có muôn nghìn thương nhớ. Bảo rằng thương nhớ khôn nguôi, song dù nhớ sâu như biển, thương cao như núi, nhưng rồi nhớ thương biết mấy cũng phải tàn.


Ga Lạc Đạo cũng như các ga xép khác thuộc mạng lưới đường sắt dăng như mạng nhện khắp đường thuộc địa. Cấu trúc nhà ga xép giống hệt nhau. Một căn nhà hai phòng hẹp, cửa trông ra sân ga xây cao lát xi măng kề bên đường xe hỏa. Hai phòng, một dùng làm phòng bán vé, cân hàng; phòng trong, tối như hũ nút, dành cho gia đình thầy ký ga chui rúc. Lương nhân viên hỏa xa quá thấp, chẳng đủ nuôi thân, nói gì gánh vác vợ con, cũng không hòng nuôi cha mẹ. Biết vậy, nhưng cái nợ thê nhi khó tránh, thầy ký nhà ga vẫn phải đèo bòng, với lương còm mười lăm đồng tháng không phụ cấp, chẳng có tăng. Các cô gái tỉnh, gái quê tấp tểnh kén chồng, mong chờ ký, phán. Kén được chồng ký còn dễ, kén tham phán khó hơn lên trời. Ký gì cũng được, song nói đến ký la ga thì các cô lè lưỡi chạy dài ngay. Câu nói mỉa mai quen thuộc ngày đó là “thầy ký la ga ăn cắp gà bỏ túi”. Câu ấy nói hết cái nghèo, cái khổ của những viên chức xấu số này. Nhưng bún chua gạo mốc thì ế, chớ người đàn ông, dẫu hẩm hiu đến mấy, vẫn không chịu làm đồ bỏ vào nồi nước gạo. Các cô gái muộn chồng, bỏ chồng, sớm góa, cuối cùng cũng phải nhắm mắt làm vợ ký la ga. Nhờ vậy, và vì thế, các thầy xếp ga thầy nào cũng lúc nhúc vợ con một bầy sống trong gian buồng phụ cận phòng bán vé. Cái trò đời nó thế. Công chức ở tỉnh thành sống vui, sống sướng, lương khá cao, thừa sống, nếu vợ biết xoay xỏa, mở cửa hàng buôn bán hoặc ít ra cũng cầm cái họ, sống nhởn nhơ. Ông chồng thì phè phỡn, sớm vác ô đi tối vác ô về, phởn hơn tí nữa thì kéo nhau gom tiền làm chầu hát Vạn Thái, Khâm Thiên, đi nhảy... Còn thầy ký la ga làm gì? Đi đâu? không tiền nằm xó, lấy vợ giải sầu, càng đẻ như gà mái.


Quanh cái ga xép buồn tênh, dân cư thưa thớt lặng lẽ sống sau mấy lũy tre xanh xơ xác, ruộng nương cằn cỗi. Ngày ngày, mặt trời mọc quá con sào, một hai anh dân cày mới đánh trâu còm ra cánh đồng vắng ngắt “vắt, hò, họ”. Tiếng con người nói với con vật như hơi thở tàn của anh ốm đói sắp xa đời.


Hàng xóm với thầy ký la ga có chừng vài ba hộ, người đông, vại gạo không bao giờ đầy, nhà bên phải với nhà bên trái thi nhau rách, đói, ốm la trời, oán đất. Ga xép Lạc Đạo tuy như cái xác thoi thóp thở, nhưng xem ra còn sinh khí. Nó cũng như mọi ga xép khác, có một chõng hàng bún riêu cua ngon nổi tiếng vùng Lạc Đạo. Cái hàng bún riêu bà Bơ được bà con xã, huyện đều mến tiếng. Bún riêu bà Bơ ăn với đậu nướng chợ Đường Cái, ăn vào hai bát thì cô vợ đoảng sắp bỏ chồng cuốn gói theo giai cũng phải ở lại ăn thêm dăm bát nữa mới chịu lìa chồng. Cái miệng bà Bơ bún riêu mà nở ra thì cụ sắp tới giờ viên mãn cũng nam mô xin ở lại cõi tạm này thêm một giáp. Liền cạnh hàng bà Bơ, bỗng một hôm, khách đi tàu đêm xuống ga Lạc Đạo, bấn người lên vì nhác thấy nẻo gần nẻo xa lãng đãng dăm ba tà áo lụa trắng xanh, nhẹ gót gõ mặt đường đá vụn xanh mát bóng trăng suông. Hỏi ra: một quán đào nương, ca nữ lầu xanh mới mở. Rồi thì người Lạc Đạo, cạnh ga Lạc Đạo, chuyên nấu rượu ngang thơm ngon bấy lâu nổi tiếng, không bảo nhau mà cùng phao tiếng lên rằng: Một bà chủ cô đầu tài sắc có thừa, đã ôm cầm theo ông phủ Thuận Thành về phủ làm tiểu thiếp. Bà phủ nghe tin, tức tốc về phủ đánh ghen loạn phủ. Ông phủ bỏ thương vương nhớ, chờ bà phủ ra Hà Nội rồi, ông cho người đẹp món tiền to, mua mấy gian nhà cho người đẹp mộ lũ con em xinh như mộng, lại gọi tay kép đàn đáy cao tuổi nghề từ Hải Dương về đây đờn cho bà chủ trổ tài sênh phách, tiếp khách cao sang, phần đông là bạn hữu ông phủ từ các tỉnh ngự xe hơi hoặc ngồi xe lửa đáp ga Lạc Đạo.


Nơi hàng viện lạ cảnh lạ người, ế khách hai hôm. Tối thứ ba, đèn nhà hát đã thêm dầu lửa, tiếng đờn, tiếng phách, tiếng trống đã xốn xang reo cái duyên ti trúc. Nhờ vậy, cái ga xép hẻo lánh này bỗng nhiên khởi sắc. Bún riêu bà Bơ càng thêm màu mỡ, có khách tầu xe ăn ngày, lại có khách chơi son phấn ăn đêm. Bà Bơ vui mừng. Duy vợ chồng thầy ký la ga, nghề đã sầu, cảnh lại thêm sầu. Thầy túng thiếu, cả ngày đóng đanh cặp mắt lèm nhèm vào tập lịch trên tường, cháy ruột chờ đợi ngày bây (Jour paicment: ngày lĩnh lương).


Nhân viên ga xép có ba người: xếp ga, người bẻ ghi, người cắm cờ đỏ xách đèn xanh đỏ giơ lên đón những chuyến tàu vào ga, dừng bánh trước sân ga. Sau này, tổng giám đốc xe lửa hạ lệnh: Con số ba người phục vụ ga xép, rút xuống còn hai. Không cần người cầm đèn đỏ, việc này xếp ga đảm nhiệm, bớt một nhân công, com-pa-nhi Vân Nam đỡ tốn tiền chi phí. Thế là ông xếp ga Lạc Đạo, tục danh ông xếp Nhã, thêm việc làm, thêm cả cái ốm đau, túng quẫn. Một vợ, ba con. Gạo thiếu chỉ đủ cháo húp, bà bếp bí quá phải vừa ra đồng mót thóc rơi, vừa đánh bạo vào làng vay tạm một bà quen việc bốc vác gồng gánh ở sân ga khi có chuyến tàu về.


Ông xếp Nhã vốn lành hiền, đời khó sống mà ông cố bóp bụng để thành sống dễ. Cơm thừa sức ăn ba bát, ông chỉ dám ăn một bát, nhịn phần con nhỏ. Món ăn chỉ có mớ lá khoai lang ngoài bãi, nhai với con cua muối mặn, cố sống, phải sống, cặm cụi làm công việc tối ngày: bán vé, cân hàng, đánh morse. Lạch cạch, lạch cạch, cái cần sắt kêu nhịp nhàng dưới ngón tay người ký la ga nửa kiếp hành nghề, nửa đời nghèo đói.


Nhà cô đầu cách nhà ga chừng mươi thước. Đêm có khách, trống phách nói cười dâm ô, khả ố hành hạ cái thân gầy còm, tật bệnh. Ông nhăn mặt, ôm ngực đau, ôm bụng đói, cúi gục đầu xuống đánh morse “lạch cạch, tành tạch...”. Có một đêm, bên kia nhà cô đầu, lưu linh loạn đả nơi phòng khách, mấy tên chánh tổng, lí trưởng ma men ám, cuồng dâm, níu quần bấu áo mấy ả đào chanh cốm, kẻ đuổi theo rơi tuột cả khăn; kẻ bị đuổi, quần đứt dải, ôm nhau vật, thằng cười con khóc.


Thầy xếp ga kêu khổ, nhắm mắt, bịt tai. Tai thầy vẫn nghe tiếng động bên ngoài, óc thầy vẫn nghĩ trên những dòng chữ chạy trong sóng morse. Đêm kinh khủng đó qua đi. Hôm sau, một nhân viên hỏa xa đáp tàu nhất đến ga Lạc Đạo, đưa lệnh gọi thầy xếp về hầu Tổng giám đốc công đoàn xe lửa. Thầy xếp Nhã, con người hiền lành vô tội, con người không còn biết sống kiếp người, run sợ nghe tiếng quát của cấp trên:


- Tối qua, anh đánh morse cho tàu vào ga. Anh nghe nhầm, đánh lẫn, làm thế nào mà đến nỗi hai đầu tàu cái ngược cái xuôi, đâm vào nhau, một tàu đổ ba toa, người không ai chết, chỉ mười sáu người bị trọng thương, xe vào viện. Việc làm ăn bất cẩn cố tình hay vô ý này, cao ủy phủ Pháp quốc nghi anh âm mưu với đảng phái chính trị nào đó phá hoại hệ thống đường sá giao thông. Anh sẽ đi tù.


Quả nhiên, con người khốn khổ ấy bán cả một kiếp đời cho guồng máy áp chế, đã bị xích điệu ra tòa, đã ngồi tù, và đã lĩnh án lưu đầy biệt xứ.


Chuyện cũ qua đi đã có tới năm mươi năm trên xứ đen nô lệ. Cái gã thiếu niên thích nhảy tàu không có vé, yêu cái ga xép Lạc Đạo bé nhỏ, ở đấy, sống hiu hắt một thân hình còm cõi, lầm lì, ngày đêm phải nhớ như in vào óc giờ tàu sắp tới ga, để vẫn lầm lì xách cái đèn vuông gắn kính đỏ, xanh, ra đứng đầu ghi ray giơ đèn, tay cầm lá cờ vải tây đỏ, vẫy, phất. Tàu dừng bánh đỗ trước sân ga, thầy xếp mẫn cán ấy vội vã rời đầu ghi về nhìn khách xuống tàu, thu vé khách đưa lúc rời ga. Ông lưu ý đếm cả việc mấy người nông dân tranh thủ việc đồng áng rỗi ra ga làm bốc vác, gánh hành lí đồ đạc về các làng xóm ở quanh. Ông còn căn dặn mấy người bốc vác phải bảo đảm an toàn hành lí, đồ đạc cho khách thuê, và không được bắt chẹt khách, tính giá đắt.


Ga xép Lạc Đạo, sau đó, có thầy xếp khác đến thay. Người sau cũng như người trước, đều vợ con quấn quýt với đồng lương chết tiệt. Người vợ, lũ trẻ nhỏ, vẫn như vợ con người nhân viên đường sắt bị tù đày chỉ vì đã yếu mềm để cho rối trí óc trong cảnh hỗn loạn xảy ra ở cái nhà hồng lâu, khách quý nát rượu cưỡng dâm mấy gái sa chân lỡ bước phải bán mình.


Cái nhà ga xép Lạc Đạo, khi tôi qua tuổi thiếu niên, đã biến dạng ra sao, tôi không được chứng kiến.


Có còn không cái tiếng morse yếu đuối dưới ngón tay run đói của thầy xếp thoi thóp sống tháng ngày quá tẻ nhạt như con giun con dế chân tường bãi cỏ.


Có còn không miệng cười, khóe mắt bà Bơ bán bún riêu ngon quá là ngon đối với cái tuổi còn hay ăn thích uống của tôi.


Có còn không cái nhà hát cô đầu của cô gái điếm lỡ thời, tiểu thiếp ông phủ hung thần.


Thôi rồi. Hết cả rồi. Trải hơn bán kỷ, tất thảy con người lẫn cảnh vật ở đây, ở đó, đều cuốn theo thiên luật “hữu hình hữu hoại”, trở về bụi cát.


Chao ôi, cái ga xép Lạc Đạo tôi yêu, tôi quý thời trai trẻ, như kẻ hành hương yêu thánh tích, ngày nay không còn dấu vết, chỉ là một bãi hoang tàn.


 Người Hà Nội, số 34 / 1996


 


Sư tử Hà Đông đại chiến sư tử Hà Nội


Thuở ấy, Hà Nội dấy lên phong trào vũ thuật cực kỳ sôi nổi trong dân chúng. Đáng kể nhất là phường võ Hàng Bột, Sinh Từ, Quốc Tử Giám, Hàng Buồm, ngõ Hàng Hương. Lãnh tụ nổi danh của võ sinh mấy phường ấy là Cử Tốn, cử nhân khoa cuối cùng triều vua Khải Định. Rồi đến Tư Dậu, Ba Lập Lơ, Yêu Râu Xanh, Phúc Đen, Công tử Ân Hàng Lược, Nồi Hàng Buồm, Cậy Béo ngõ Hàng Giấy, Hàn Bái...


Trong số võ sĩ đó, được bái phục nhất là lò võ Cử Tốn ở ngõ Văn Tần, phố Sinh Từ. Cụ Cử Tốn trao quyền huấn luyện cho con trai trưởng là Sáu Du làm trưởng tràng, dạy ba mươi võ sinh quyền, tấn, sử dụng thành thạo các môn võ khí như đao, kiếm, thiết linh, đinh ba...


Thực dân Tây, hồi đầu, theo dõi lò võ nức tiếng này. Sau chúng thấy thái độ tư cách cụ Cử đáng kính trọng, chúng cũng lờ đi, mặc cha con cụ Cử tự do hoạt động miễn đừng gây chuyện phá rối nền bảo hộ. Tuy nhiên, phố phường Hà Nội, cứ cách dăm ba ngày, lại nháo lên vì cuộc ẩu đả xảy ra giữa các lò võ bề ngoài vẫn giao du, thân thiết song bên trong không tránh khỏi ngấm nguýt, thách đố nhau tỉ thí. Đấu trường nhất định là mấy cao lâu, tửu quán nổi danh của Hoa kiều như Đông Hưng Viên, Nhật Tân, Tây Nam, Tửu Giang, Tự Hưng Lâu. Gây chuyện nhiều nhất là Hàn Bái. Ông này ra đường không bao giờ có vũ khí trong mình, ngoài tấm khăn tay hoặc dải lụa dây lưng đầu buộc hai chục đồng tiền trinh, xu đồng; khi đối chiến ông vung dải lụa lên đủ sức đoạt đao của địch rất dễ dàng.


Hàn Bái đến tửu quán, lên gác cao không qua cửa mà chỉ khẽ vỗ đùi, rón gót phi thân lên mái hiên, nhảy qua bao lơn, nhảy qua cửa sổ, chễm chệ ngồi xuống ghế, nhẹ nhàng đến mức khách ăn nhộn nhịp chung quanh không ai biết. Ông thường đi một mình, uống rượu một mình, không có bạn. Nhưng rồi, ông có ngay thù địch, bất cứ nơi nào có mặt ông. Kẻ thù ấy là mấy anh mật thám Tây lai, mấy trọc phú chủ những chiếc xe hơi bóng loáng đậu dưới đường, mấy ông quan phủ quan huyện ở tỉnh xa về Hà Nội nhìn người bằng nửa đuôi mắt nhà quan, quát hầu sáng bồi bàn, mắng khách ăn thiếu lễ phép. Hàn Bái ngứa mắt, nóng tay, đứng phắt lên, đạp đổ bàn ăn, vít đầu những thằng đáng ghét, hạ những nắm đấm như búa bổ đánh cho hả giận. Hàn Bái móc tiền ném xuống bàn trả tiền ăn, phi mình qua cửa sổ xuống mái hiên, nhẹ nhàng đặt chân dưới vỉa hè, biến mất. Kẻ thù thò đầu qua cửa sổ nhìn theo, bở vía. Từ chủ hiệu đến khách ăn đều biết là Hàn Bái, nhưng không ai dám hé răng. Cái tên Hàn Bái vang trong Hà Nội, nhất là khu phố Hàng Buồm, như một hung thần. Vậy mà, Tây cứ lờ đi, không ai hiểu lí do gì khiến thực dân nể tránh cái ông Hàn này đến thế.


Ông Hàn không nhận học trò, ít bạn, cũng không ai thấy ông quen biết một người Tây. Rồi, bỗng một ngày, người ta nghe tin võ sĩ Hàn Bái chết. Xác ông chơ vơ trong một căn phòng nhỏ xếp đầy hoa. Có thể ông đã mua hết hoa Hà Nội, tự sát giữa mùi hoa. Ông cắt mạch máu cổ tay, máu thấm đỏ cả một chồng khăn bông, rỏ xuống cái chậu thau hứng máu. Cái chết của một con người kỳ quặc giữa Hà thành như thế đấy.


Sau cái chết Hàn Bái, làng võ Hà Nội chợt trở nên tĩnh lặng. Phường ăn chơi Hà Nội thỉnh thoảng mới thấy Ba Lập Lơ, Tư Dậu, Yêu Râu Xanh xuất hiện.


Họ thân ái với nhau, khoác tay nhau, đĩnh đạc vào tửu quán bác tôi, huynh đệ, sống như những thư sinh đọc sách.


Hà Nội vào thu. Cái thu Hà Nội nhắc nhủ mọi nhà nhớ đến ông tiến sĩ giấy, cái đèn kéo quân, chủ yếu là cái đầu sư tử, không chỉ riêng cho trẻ nhỏ, mà cái đầu sư tử của người lớn làm nổi hội hè đình đám. Phường võ Hà Nội lại sôi lên hoạt động sau thời gian im lặng mang tấm khăn tang Hàn Bái. Phường múa sư tử truyền thống là phường Hàng Bột, Hàng Hương hàng năm vẫn thù địch nhau, gửi chiếu thư cho nhau, thách đố tranh lèo đoạt giải bằng vũ lực. Đầu tháng Tám phường Hàng Bột, phường Hàng Hương ra công làm đầu sư tử mới to hơn đầu sư tử năm trước để thị uy với đối phương, không làm bằng nan tre, mà kết bằng mây, đủ sức thay lá chắn đỡ đòn búa bổ, giáo đâm của địch. Đầu sư tử làm rất công phu, nặng đến mức một võ sinh phải khỏe lắm mới nâng được nó lên múa theo điệu võ, đón đỡ che thân, tấn công địch thủ.


Mở mắt mong chờ ngày mười bốn, ngày rằm trăng tròn máu đỏ. Cả Hà Nội nóng lòng đợi ngày thi võ. Võ sinh của hai phường đã dày công luyện tập những động tác múa đầu sư tử, những bài võ của người đánh côn phối hợp với người múa lân. Luyện cả cách trồng người đứng trên vai nhau, đội đầu lân lên đầu, vừa múa vừa giơ tay giật gói tiền treo trên ngọn cột đèn hoặc trên bao lơn nhà treo giải.


Hôm ấy, khoảng bốn giờ ngày mười bốn, phường Hàng Hương do võ sư Yêu Râu Xanh cầm đầu, tất cả mười lăm người đứng trên xe bò, hùng dũng kéo đến Hàng Ngang, cờ rong trống mở, chiêng não bạt khua ầm ĩ. Phường đứng trước cửa hàng to nhất phố. Đó là ông Bang Si đứng đầu kiều dân Trung Hoa, giao dịch về mặt chính trị với chính quyền thực dân Pháp. Cửa hàng ông Bang Si rất đồ sộ, bán đồ gia dụng đắt tiền, chủ yếu là đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ. Tháng Tám hàng năm, Bang Si treo giải thưởng múa kỳ lân, giải to hơn các cửa hiệu tơ lụa Hoa kiều, Ấn kiều phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Mọi nhà giải treo chỉ có 5 đồng. Giải nhà Bang Si những 10 đồng hai giấy con công, món tiền thời ấy là quá hậu.


Phường Hàng Hương bắt đầu khua chiêng trống và bắt đầu giễu võ giương oai. Chợt ở đầu phố Hàng Đường kéo đến một xe bò chở ních người, côn kiếm, giáo mác, reo hò như “đổ thành vỡ núi”. Xe bò này đứng lại, mấy chục người vũ khí tua tủa nhảy ào xuống theo. Anh đi đầu múa đầu lân xanh xông vào húc đầu lân phường Hàng Hương màu tím. Hai đầu lân chọi nhau cực mạnh. Anh múa côn của phường mới đến cũng vung côn quét ngang mình anh múa côn của phường Hàng Hương. Thế là chiêng trống hai phường cũng hòa vang. Hai võ sinh múa côn của hai phường võ động hai ngọn côn vun vút. Côn va mạnh nhau chan chát, sểnh ra là mất mạng. Cùng lúc, hai đầu lân cũng huy động hết sức bình sinh húc vào nhau nảy lửa. Đồng thời, mấy chục võ sinh của hai phường, kẻ giáo, người gươm, đánh nhau túi bụi. Phường Hàng Hương thấy đối thủ toàn lạ mặt không rõ từ đâu đến cướp giải, anh nào cũng có những miếng võ lợi hại khác thường. Yêu Râu Xanh, người cầm đầu phường Hàng Hương, quát ầm lên:


- Anh em từ đâu đến cướp giải của chúng ta? Cho biết đã, rồi sẽ đánh nhau.


Võ sinh phường lạ mặt không thèm đáp, càng tăng chiêng trống. Người múa đầu lân càng nhảy nhót, đảo lộn theo thế võ, hai tay nhấc bổng đầu sư tử lên, rung rung cho tiếng nhạc trong đầu lân kêu to, phóng hai chân ra đá bật một võ sinh phường Hàng Hương lăn ra giữa mặt đường, lại vặn mình phi song cước đá một anh múa kiếm của phường Hàng Hương ngã bổ nhào vào gầm xe bò.


Nổi giận, Yêu Râu Xanh xông vào trả đòn người múa sư tử phường lạ mặt. Người múa sư tử ấy nhảy sang bên, nhấc đầu lân khỏi đầu mình, rung nhạc kêu giòn giã, nhẹ tay ném đầu sư tử cho một võ sinh đỡ lấy. Lúc đó Yêu Râu Xanh trợn mắt nhìn kẻ địch. Thì ra đó là một cô gái có khuôn mặt đẹp, búi tóc, mặc áo cánh nâu, quần lĩnh, thắt dải lụa đỏ quanh lưng, chân giẫm đất. Cô gái mặt thản nhiên, không thở, không mệt, nhìn thẳng mặt Yêu Râu Xanh, cười mỉm:


- Võ sư lạ lắm ư? Tôi chỉ là một gái quê từ Hà Đông kéo quân ra đây dự cuộc thi đoạt giải múa lân, nhân tiện xem tài vũ dũng của các phường lân Hà Nội. Nhưng xem ra thì tài năng các ông cũng bình thường.


Yêu Râu Xanh bốc giận, múa quyền đánh cô gái múa sư tử Hà Đông. Hai người thử sức nhau bằng quyền thuật. Hai bên ngang tài. Nói vậy là vì nể Yêu Râu Xanh mà không nói thẳng, bởi một đòn song cước lẽ ra đánh trúng ngực Yêu Râu Xanh, nhưng cô gái múa sư tử Hà Đông đã rụt chân lại, chỉ đánh nhẹ vào cánh tay ông Râu Xanh dữ tướng.


Cô gái Hà Đông nhảy lùi lại, che miệng cười.


Ông Râu Xanh đỏ mặt, nhưng không nổi giận, bởi cô gái múa sư tử Hà Đông đẹp quá. Tất cả võ sinh, đệ tử ông Râu Xanh đều tinh mắt nhận thấy sư phụ suýt thua. Họ thu vũ khí, ngừng chiêng trống.


Cô gái Hà Đông tiến đến trước mặt Râu Xanh, giơ hai bàn tay không lên, tươi cười nói:


- Cuộc đấu võ đến đây đã xong rồi. Xin mời sư phụ và huynh đệ phường Hàng Hương vượt lên đoạt giải. Anh em chúng tôi xin lỗi, và xin bái biệt trở về Hà Đông ngay bây giờ kẻo trời đổ tối.


Phải nói là nửa dân Hà Nội bịt kín Hàng Đào, Hàng Ngang xem cuộc thi võ đặc biệt này. Khi đã nhìn rõ gương mặt đẹp, cơ thể thanh nhã, và những đường võ khủng khiếp của cô gái đội đầu sư tử Hà Đông, bà con mới thì thào:


- Sư tử Hà Đông, Sư tử Hà Đông!


Thì ra nó là như thế.


 Người Hà Nội, số 42 / 1996


 


 Hoang thai


Chị là cái thứ đàn bà đã trải qua non thế kỷ làm ái tình với lính lê dương nghĩa là đã có cái sức khỏe ném mười anh săng đá da đen qua cửa sổ, tát “mông ma ghì” liền ba cái, tung túi dết hắn ra đường rồi thở phì phò như đầu xe hỏa lên dốc, than tiếc cái chữ trinh ba vạn của mình đã trao nhầm chàng Sở tóc quăn, dẫu rằng trong khi ấy chị đang giấu một anh tình nhân trong tủ áo. Chị đã ở biên thùy với các đấng Từ Hải sống cái đời lính thú nhưng không hát khúc “ba năm trấn thủ lưu đồn”, mà lại hát Mác-xây-e để giết những “dân phiến loạn” Cổ Am, Yên Bái.


Và chị đã ở Tông, ở Đáp Cầu, ái ân với tất cả cơ này, đội khác, rồi thì lại một dạo lấy tầu má chín.


Ấy thế mà tôi được gặp cái “trường đua ngựa” ấy hôm nay, trong một ngõ cụt phố cửa Đông.


Thực vậy, tôi đi tìm chị chúa-me này với tất cả thiện chí của một kẻ ký giả trái khoáy, nghĩa là một kẻ làm báo không biết gõ cửa những ông quan chính phủ mà phỏng vấn về chương trình cứu nước nuôi dân hay là - cho sát thời sự hơn - đi phỏng vấn cái quái nhân về các trò ma tịt, mà lại dẫn xác vào hang cọp tìm gặp mụ chúa me này. Để làm gì?


Thưa rằng để xem một lũ lợn con, sản phẩm của thời đại loạn.


Chị chúa me đã hết cả vẻ hồng nhan, trông chị via-cà-cộ như chiếc xe cút kít thời Hà Nội còn thắp đèn dầu và chiều chiều có con lừa vĩ đại đi tưới nước đường các phố.


Tôi đã leo lên cái thang lộ thiên mà những bậc lát xi măng vỡ nát nhiều vì đầu đanh giầy lính tẩy. Bước lên sàn gác, tôi phải sững sờ. Trước mắt tôi: đúng bảy chị nhà quê vừa nằm vừa ngồi ngổn ngang trên hai lá chiếu rải liền. Mỗi người ôm một đứa con. Chị chúa me mời tôi ngồi xuống chiếc ghế sa lông thổ phỉ, mặt da bọc đã nát bét như da mặt một me già như chị. Và nhe mấy chiếc răng nhuộm cốt trầu, chị nói:


- Đĩ dại, ai bảo thấy nó vào không chạy, để nó tóm được rồi thì ễnh mẹ nó ra. Chửa thì đẻ, xấu chó gì!


Nghe chị chúa me cong cớn nói, tôi sực nhớ đến những lời giáo huấn rất hùng hồn của một bà đốc trường nữ học hồi thịnh Sa-Tiền đã ban cho mấy nữ sinh, mà bây giờ, thầy đã lên rừng đền tội ác, mà trò thì một số ít đã rất thạo cái nghề vành ngoài bảy chữ...


Chị chúa me trỏ một ả gái non ngồi quay mặt vào tường kéo áo lau nước mắt ôm cái bọc hài nhi mà tôi đã trông rõ cái đầu nhọn hoắt, mấy sợi tóc quăn lơ thơ trên màu da đen trũi. Thằng bé ưỡn người khóc, mở mắt trắng dã nhìn lên trần nhà như lên cơn sài uốn ván.


- Con bé này mới mười bảy tuổi. Chui xuống bè tre ngâm dưới ao sen rồi, nó chưa đi hẳn đã chui lên tắm rửa cầu ao. Nó lôi lên. Thế là đẻ ra con chuột nhắt.


Chị đứng lên vạch cái tã phủ kín một cục than nữa đang ngủ ở chân tường:


- Cha mẹ đẻ cái thằng nhãi này, mặt mũi trông mà gớm! Về sau tha hồ đẹp giai như bố!


Tôi cúi xuống nhìn để tưởng đến bộ mặt Cáp Tô Văn của rạp Quảng Lạc ngày xưa. Người mẹ đang ngồi vá mớ giẻ không còn hình là mảnh áo quần, càng cúi đầu thấp xuống. Thằng bé cựa quạy, người mẹ ẵm con lên vạch vú teo cho bú, rồi quay vào tường khẽ nựng “Dào ôi, bố mày!”.


Một người mẹ nữa ở phía tường kia tự nhiên cười khúc khích. Tôi ngoảnh lại: cô ả này răng trắng, lông mày kẻ chỉ. Ả ẵm thằng bé có đủ sáu nét gạch trên hai má, môi dầy thâm như cặp chả, ả tiến ra cửa sổ mà hát ru bài “Chiến sĩ hải quân”. Chị chúa me lườm dài một cái:


- Cái con này thì truyền đời mười lần đẻ hoang. Càng đẻ nó càng vui sướng.


Cô ả quay ngay lại:


- Chứ làm sao ạ? Giời sinh đàn bà để đẻ ra con chứ đẻ ra chó đâu mà sợ. Nó đen hay nó trắng, cần gì. Khối đứa lên bà lớn mà cũng đẻ ra con khác máu, thiên hạ vẫn đăng báo mừng rối cả lên.


Ả cười sằng sặc và lại ru con bằng bài “Khỏe vì nước, kiến thiết quốc gia”. Một tiếng nấc ở sau lưng tôi. Người đàn bà đứng tuổi ngồi úp mặt vào bàn tay khóc. Chị chúa me trề môi nói:


- Khóc cái xác mẹ mày à? Nó chết thì bọc lại, bỏ vào đáy sọt rác, sáng mai đổ lên xe rác, thế là xong nợ, rồi còn đi kiếm cơm mà nhét vào mồm chứ. Quý hóa cái gì mà xót với thương.


Tôi hỏi chị chúa me:


- Chị nuôi những người này để làm gì?


Chị cười nhạt:


- Có đứa được chúng nó thương hại cho bíu xe nhà binh mà ra đây. Có đứa vì xấu hổ với chồng con, làng nước, mà cũng bò ra để kiếm việc làm. Tôi mới vơ được lũ lợn nhớn lợn nhỏ này đem về nuôi chơi đấy rồi thì... làm gì có người thừa, hở ông!


Chị nheo mắt cười một cách rất Tú Bà.


Tôi bước xuống cầu thang. Tiếng khóc của lũ trẻ nhũn nhẽo như mèo con sắp chết khiến tôi se lòng nghĩ đến cái xe rác ngày kia sẽ đến hót dần chúng đi như hót những cái rác không tên tuổi.


Ra đường, tôi đi rảo bước. Hôm nay Hà Nội vào thu. Tiếng chuông giáo đường vẳng trên thành phố khiến tôi nghĩ nhiều về tiếng khóc của lũ hài nhi vô tội và bọn đàn bà oan nghiệt trên căn gác nọ.


Ông Chọc Tiết, nxb Ngày Mai, 1950.


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
xem thêm »