tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27808898
19.11.2018
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (tiếp 1)

 


Hà Nội xưa - Nghề in ấn


Đề cập đến vấn đề văn hóa, văn học của một dân tộc trước hết phải nói đến nghề in ấn. Tôi bắt đầu nhắc tới những chuyển biến của ngành này với cái mốc năm 1936.


Thời đó, nền văn học Việt Nam đã có cơ phát triển. Nhiều tác phẩm Pháp, Trung Hoa được dịch ra Việt ngữ. Đại biểu cho dịch giả Pháp văn là Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Phương Dực (học trò cụ Vĩnh), Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Giang (con cả cụ Vĩnh)... Đại diện dịch giả tác phẩm Trung Hoa là các cụ Bùi Kỷ, Sở Bảo Doãn Kế Thiện, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Mai Đăng Đệ, Cử Can... Giai đoạn ấy, một số công tử nhà giàu ganh nhau đẩy mạnh phong trào Tây du, cốt lấy cái tiếng cậu cử, cậu tú để cưới gái đẹp, đào mỏ vàng. Họ trở thành những ông Tây An Nam, không cậu nào dịch nổi một cuốn sách Pháp văn. Tựu trung du nhập sách văn học Pháp vào Việt Nam chỉ có một Nguyễn Văn Vĩnh. Cụ Vĩnh đã dịch những tác phẩm nào, tài năng dịch ra sao tôi tin bạn đọc đã biết, khỏi kể.


Cùng thời kỳ ấy, văn học lãng mạn Trung Quốc tràn ngập vào Việt Nam qua những tác phẩm tình yêu của Từ Trẩm Á. Hoàng Ngọc Phách chịu ảnh hưởng nhà văn nước Tàu này qua truyện Tố Tâm, Bóng trăng soi... Nhưng nước mắt của nhà văn bi lụy này làm ngập lụt nền văn học Việt Nam chưa được bao lâu đã vội khô tàn. Sức sống của dân tộc Việt Nam đã chuyển mình. Nhà văn Việt Nam tự vạch một hướng đi riêng trong đó cái hơi thở căm hờn thực dân Pháp đã nổi lên cơn gió lốc qua Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc và những lời kêu gọi đồng bào thức tỉnh của Ký Con, Thái Học, cô Bắc, cô Giang, Sứ Nhu... Cùng với cơn gió lốc Chiêu hồn nước, những lá truyền đơn bay khắp đất nước Việt Nam. Đẩy mạnh cơn giông tố ấy nghề in ấn âm thầm phát triển, mạnh nhất là ở Hà Nội.


Nhà in lớn, nhà in nhỏ ra đời. Công cụ sản xuất vô cùng khiêm tốn.


Một hai cái máy nho nhỏ, gọi là máy Minerrve (máy công tử, đạp chân, như thợ may máy khâu) mặt máy chỉ mang nổi từ 6 đến 8 bát chữ.


Việc chính của máy công tử là in hóa đơn cho nhà buôn, in thiếp cưới, danh thiếp. In xong một cuốn sách 200 trang phải hàng tháng mới hoàn thành. Còn in báo, hồi ấy, chủ nhà in có vốn mới dám mua máy lớn, mỗi khuôn chữ có thể chứa được hơn 30 bát chữ. Thợ sắp chữ làm ban ngày, cố sao cho kịp giờ buổi sáng để lên khuôn thử cả 4 trang, rồi dập hai bản thử (morasse) đem đến Nha Thông tin, Phòng Báo chí trình kiểm duyệt. Lấy được con dấu và chữ kí nhận của kiểm duyệt rồi, đến 2 giờ đêm hai công nhân đứng máy (machiniste) mới bắt đầu cho máy chạy, đến 5 giờ sáng thì in xong từ 3000 đến 5000 tờ, phát hành vào lúc tinh mơ, trẻ con lĩnh báo, chạy rao khắp tỉnh.


Giấy sách, giấy báo phải mua của Pháp, tại nhà máy giấy Đáp Cầu. Ngoài cơ sở này, không đâu có giấy. Chiến tranh Việt - Pháp nổ ra, nhà máy giấy Đáp Cầu đổ vỡ. Ngành in không còn có giấy. Phải tìm đến cứu tinh là giấy Bưởi, rất đắt và rất hiếm. Hồi đó, có một ông già công nghệ trong xóm “Bưởi giấy” là ông Lại Viện sáng chế ra giấy dó. Loại giấy này dày lắm, in sách và cũng cung cấp cả cho triều đình Huế dùng làm giấy sắc viết biểu nhà vua, có triện thiên tử, đó là sắc phong của hoàng đế trị vì.


Thực dân cũng mở một nhà in lớn, gọi là nhà in Taupin, viết tắt IDEO (nhà in Viễn Đông). Taupin không hề cạnh tranh với các nhà in người Việt. Nó in báo Pháp và các thứ sổ sách giấy tờ cho nhà binh và công sở Pháp.


Hà Nội có mấy nhà xuất bản, nhà in lớn. Đáng kể nhất: Minh Sang, TB Cay, Ngô Tử Hạ, Lê Văn Tân, Tân Dân... Nhà in nhỏ là Tân Việt, Cộng Lực. Được cái, dễ bảo nhau, không có cạnh tranh, kiện cáo. Vấn đề nhà in mua chữ quá khó khăn. Phải gửi Commande sang Pháp mua mỗi bận ít ra vài ba tấn các loại, các cỡ chữ. Chữ cỡ lớn làm titre (đầu bài) gọi là Europe gras (Ơ rốp béo), chữ nhỏ - Europe maige (Ơ rốp gầy), chủ nhà in tính đắt tiền là chữ Chetteman (Sentoman) cỡ 8, nét sắc. Loại chữ này dùng in sách đắt tiền, in lên loại giấy hảo hạng, gọi là giấy Boufflant (bútfăng). Loại hạng nhất, soi tờ giấy lên mắt ta nom rõ trong giấy có sợi chỉ nước (lignefeau) giá trị như tờ giấy bạc ngân hàng. Còn chữ dùng in báo, in sách thì dùng loại chữ đứng thông thường cỡ 9, 10 (romain) và chữ ngả.


Từ sách đến báo in ấn còn ấu trĩ.


Sau này, văn hóa theo đà sống của quần chúng ngày một trưởng thành, luồng thông tin sáng sủa hơn nhờ vào nguồn cung cấp của hãng thông tin Pháp (Agence France Presse - AFP) và Tân Hoa Xã của Trung Quốc.


Quần chúng Việt Nam đã nhận thức được sự ích lợi văn minh của sách vở, báo chí. Thêm vào đấy, một động lực lớn của văn hóa, văn học Pháp, Trung đã gây cho dân mình tinh thần yêu sách, yêu báo. Mà muốn có sách báo đẹp, phải phát triển nghề in ấn. Do đấy, một thanh niên thức giả không giàu nhưng cố xoay tiền, xin được Pháp cấp giấy sang “mẫu quốc” học nghề in. Đó là ông Đỗ Văn. Qua ba năm học nghề in, chủ yếu nghề đúc chữ, nhà kỹ sư thứ nhất của Việt Nam hồi quốc. Ông Đỗ Văn quả là một nhân tài. Tuy nhiên, một thời gian, không ông chủ nhà in nào dám sử dụng chàng kỹ sư nhanh nhẹn, tháo vát, thông minh ấy.


Người ta chê ông là một kỹ sư cao giá, không trả nổi lương ông. Ngày ấy ông nghị Nguyễn Văn Luận, chủ nhà in và nhật báo Trung Bắc Tân Văn, khước từ Đỗ Văn, cứ khư khư ôm cái nhà in khốn khổ phố Phùng Hưng. Đỗ Văn thất nghiệp với cái nghề quý hơn vàng là cái nghề đúc chữ mà cả nước Việt Nam chưa có. Cái kỹ thuật bậc thầy bị xếp xó không một ai nhìn đến.


Thế rồi, sau đó con ngựa xích thố ấy đã có Quan Văn Trường nhảy được lên lưng, phi ngàn dặm. Nhà học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã rời căn nhà nhỏ bé trên con đường hẻo lánh dẫn lên chợ Bưởi mà xuống phố tìm kiếm nhà kỹ sư thất nghiệp. Tri kỉ gặp nhau, như Tào Tháo gặp Lưu Bị ngồi luận chuyện anh hùng bên đĩa mơ xanh...


Đỗ Văn dốc hết kiến thức, luận về nghề in, sẽ nhờ nghề in làm nên nghiệp lớn.


Nguyễn Văn Vĩnh cũng dốc túi càn khôn, cho Đỗ Văn biết về kế hoạch.


Nhờ một nhà in hiện đại, mở nhà xuất bản sách Âu Tây tư tưởng (dãy nhà hiện nay còn đứng sừng sững ở bờ Hồ Gươm trông thẳng sang nhà Thủy Tạ), ông Vĩnh đã ký khế ước với Tây, có quyền sở hữu nó hết 20 năm sẽ trả lại. Trước nó là đất hoang. Ông Vĩnh bỏ tiền túi ra xây dựng. Nay, nó là nhà hàng kem Hồng Vân gì đó.


Nhà kỹ sư ấn loát Đỗ Văn trổ hết tài, hết trí, kể từ nay là một nhân tài làm công ăn lương tháng cho ông Vĩnh.


Cụ Nguyễn Văn Luận được cụ Vĩnh thuyết phục, cũng trọng đãi Đỗ Văn.


Nhà in ở Phùng, hàng ngày in nhật báo Trung Bắc Tân Văn, sổ sách linh tinh. Còn một nhà in nữa, đồ sộ hơn, ông Vĩnh và Đỗ Văn dựng nó thành một xí nghiệp hiện đại thuê toàn thợ giỏi, thợ máy có tay nghề vững, máy thì vào hạng nhất Việt Nam. Nó chiếm một gian nhà rộng, đào sâu ngót một thước để chân móng máy. Máy này gọi là Rotative, giá đắt như hồng ngọc. Đỗ Văn cùng làm với thợ, chỉ huy hết thảy. Chỉ nhận in sách quý, chữ mới, giấy thượng hạng. Nhà in danh tiếng này tọa ngự trên phố Hàng Buồm.


Các tuần báo, tạp chí ở Hà Nội, được bàn tay kiệt xuất của Đỗ Văn mó vào, quả là những trái đào vườn thượng uyển, đẹp đến nỗi mấy tờ báo Pháp phải ngợi khen. Mấy tuần báo Việt như Nhật Tân của Phùng Tất Đắc, Con Ong của Huyến Voi (bố vợ Văn Cao), Báo Mới của Trương Tửu, Đông Tây của Hoàng Tích Chu... làm cho báo giới Việt Nam khởi sắc.


Ngựa hay thường có tật. Hàng tháng, cụ Nguyễn Văn Vĩnh vui vẻ trả lương Đỗ Văn trong khi cụ nghị Nguyễn Văn Luận thì nhăn nhó về sự hoang phí của ông công nhân Âu hóa họ Đỗ. Mỗi lần ông rửa tay dầu mỡ, bàn tay một phong lưu công tử, chớ chẳng phải bàn tay thợ nhà in, mất đi một lít cồn 90 độ, có khi hơn thế.


Cụ nghị Luận phải kêu to:


- Trời sinh ra Đỗ Văn chỉ có Nguyễn Văn Vĩnh mới có gan sử dụng.


Sau đó nhà in Lê Văn Tân cũng như họa mi tức nhau tiếng hót, nóng mắt và ngứa tiết, cho con trai là Lê Văn Hân sang Pháp thụ giáo nghề in và đúc chữ. Hân, có trí có gan của bố, cũng qua ba năm thành tài, về lập lò đúc chữ tại nhà xuất bản Lê Văn Tân phố Hàng Bông. Từ đấy, hầu hết nhà in miền Bắc mua chữ của Lê Văn Hân, không phải đặt mua tại Pháp. Chữ người Việt sản xuất chẳng kém gì chữ của Tây.


 Người Hà Nội số 12 – 1996


Hà Nội cũ vui buồn sân khấu


Bài ký này, tôi hãy nói đến tuồng cổ khoảng thời gian cận đại 1930-1940. Tuồng hồi ấy là hát bộ. Diễn viên tả bằng trụ bộ, động tác, nhiều hơn là hát. Phải là tuồng Nam Bộ, nói gọn là tuồng Sài Gòn, mới được khán giả Hà Nội hoan nghênh, tuồng Trung Bộ, Bắc Bộ coi như bỏ.


Người Hà Nội, tất cả mọi giới làm ăn vất vả suốt ngày mong tối xuống đèn lên, xô nhau tới rạp Quảng Lạc ngõ Sầm Công, chen nhau lấy vé. Rạp Quảng Lạc, hiện nay còn tồn tại, duy có hình dáng là đổi thay, khó nhận ra. Chủ Quảng Lạc là viên Phủ Trọng, làm quan tỉnh Bắc Ninh, vừa làm quan vừa kinh doanh làm giàu bằng gánh hát uy danh lẫy lừng này.


Cạnh rạp Quảng Lạc đột xuất dựng lên một rạp nữa gọi là Đồng Lạc, bé nhỏ hơn Quảng Lạc. Diễn viên Đồng Lạc kém tài thua sắc, ghế ngồi ít, cửa ra vào chật hẹp, vì thế, chỉ ngót một năm rạp Đồng Lạc chịu thua, tan đám.


Không địch thủ, Quảng Lạc xưng vương. Phủ Trọng tung tiền và thủ hạ vào Nam Bộ, tìm mua hết diễn viên tuồng cổ kiệt xuất, mua những vở tuồng pho rút ra từ những bộ truyện quen thuộc, danh tiếng của cổ thời Trung Quốc mà người Việt Nam, nhất là người Hà Nội, vốn đã thuộc lầu. Kể như tuồng Tam Quốc, Chinh Đông chinh Tây, Ngũ hổ bình Liêu, Càn Long du Giang Nam, Thí võ Lý Nguyên Bá - Võ văn Thành đô, Võ Tam Tư chém cáo, Thục Quý Anh viên môn thục tội, Tây Sương ký, Tiết Đinh Sơn nhất bộ nhất bái, Tây du, Mổ gan Tỉ Can, Thôi Oanh Oanh - Trương Quân Thụy...


Cái vốn bổn tuồng Quảng Lạc quá giàu, diễn viên nam nữ toàn nổi danh về tài sắc. Những kép bậc thầy như Sáu Phú chỉ chuyên đóng một vai Quan Vân Trường, mỗi tháng diễn vài buổi, ngồi chơi ăn lương tháng cao nhất rạp. Sáu Phú được mẽ người cao lớn, mặt to, tiếng to, trụ bộ oai phong, không kép nào địch nổi, được Phủ Trọng quý nể, trọng đãi, có phần sợ hãi như sợ chính linh hồn Hán Thọ Đình hầu Quan Vũ hiển linh. Những kép khác cũng được Phủ Trọng quý yêu, chiêu đãi như kép Tám Ngân rất đẹp trai, võ tuồng điêu luyện, cùng với kép Đĩnh, hai người chuyên sắm vai Triệu Tử Long, Lã Bố, Mã Siêu. Phủ Trọng sắm ba bộ giáp trụ, giáp trắng, mũ gài hai lông đuôi chim trĩ vút dài. Mỗi lần hai kép Tám Ngân, kép Đĩnh mặc giáp trắng, đội mũ lông trĩ xuất hiện trên sân khấu, khán giả hò reo, đốt pháo tay vang rạp. Còn các đào trứ danh, phải kể đào Tám Long, mình cao, giọng rất sang, hát không có vẻ gì là lấy hơi, vậy mà âm thanh lanh lảnh vang xa như tiếng chuông ngân, khách ngồi ghế nghèo hạng bét nghe cũng rõ. Những năm xa xưa ấy không có micro. Tám Long có một tài nghệ phi thường lại thêm nhan sắc tuyệt hảo, nghiêm nghị tùy từng vai, lẳng lơ tùy theo nhân vật trong vở hát. Thứ đến đào Kim Đính, đẹp không thua kém Tám Long, thêm võ thuật tuy là võ thuật tuồng, cũng sắc sảo trong đường cung kiếm, biến sân khấu thành một võ trường thời Chiến quốc Trung Hoa cổ đại. Phải kể tiếp đến đào Chín Cưỡng. Đào Cưỡng tài dưới Tám Long, Kim Đính nhưng cái lẳng lơ khiến khán giả mê say thì không thể tìm một đào khác thay thế Chín Cưỡng trong vai Điêu Thuyền làm tình với Lã Bố, khó hơn nữa là vai Hồ Nguyệt Cô cũng làm tình ngay giữa sân khấu với Võ Tam Tư (kép Tám Ngân đóng) trong vở Võ Tam Tư chém cáo.


Xin lỗi bạn đọc. Cho tôi bổ sung thêm những kép trứ danh Quảng Lạc là kép Ba Niên, chuyên sắm những vai đại lực sĩ nguyên nhung, trụ giáp cực đẹp, võ nghệ cao cường, múa cây họa kích che gần kín cả thân, khán giả ngỡ Ba Niên là một võ sĩ Thiếu Lâm.


Đi kèm kép Ba Niên là kép Lộ, tài năng không thua Tám Ngân trong vai Triệu Tử “toàn thân toàn là đảm” - lời khen của Khổng Minh. Không thể quên tài kép Cẩn trong vai Trương Phi thét đổ cầu Trường Bản. Nhưng trội hơn kép Cẩn, cũng trong vai Trương Phi, còn kép Ba Bồi. Khi Trương Dực Đức - Ba Bồi vuốt râu xồm phóng mình ra sân khấu cùng với giọng hát tẩu mã, roi ngựa tung vun vút thì cả rạp phải rung lên vì cái giọng sấm sét, làm thủng màng tai khán giả, phụ nữ phải nhắm mắt, trẻ em phải khóc đòi về: “con sợ lắm!”.


Danh tuồng võ Sài Gòn lừng danh, vô địch, ngự trị đỉnh cao nghệ thuật sân khấu thời ấy, không thể quên thắp nén hương tưởng niệm một vua hề, một quái kiệt thúc thiên hạ chết cười. Đó là kép Tín. Ôi chao! Chuỗi cười đứt ruột, chuỗi cười ngạt thở, chuỗi cười gây sức sống, chuỗi cười làm thằng ngốc trở nên khôn, thằng gian ác trở thành lương thiện, chuỗi cười quý hơn chuỗi ngọc. Ông vua hề kép Tín tuồng Quảng Lạc, suốt từ ngày Quảng Lạc làm mê say người Hà Nội cho đến ngày Quảng Lạc bị thời gian đào thải, tối nào cũng xuất hiện trên cái thế giới vạn thuở ngàn năm, cái thế giới đồ vương tranh đế muôn vàn nhục vinh. Thời ấy châu Âu đang phát triển phim câm. Vua hề Charlot, Busten, Katoon, Toufou... làm cho thế giới Tây phương điên lên vì cười. Nhưng cái thứ phim câm ấy, cái cười của mấy ông vua cười kể trên vẫn không thể nào sánh ngang với cái kiểu bán cười, gây cười của ông vua cười kép Tín.


Tối tối, khán giả chỉ mong kép Tín ra trò. Ông vừa thò mặt ra, cái bộ mặt cực kỳ ngộ nghĩnh, không hiền, không ác, không say, không tỉnh, nửa người, nửa khỉ, nửa đười ươi, với cái quạt giấy lớn hơn quạt nông dân quạt thóc mà ông móc ở cạp quần sau lưng ra, xòe rộng, che toàn thân thể, là khán giả đã bò ra mà cười. Phủ Trọng làm giàu, vơ tiền dân mộ tuồng Hà Nội, chính nhờ cây cười kép Tín.


Cái lạ là kép Tín không chỉ là vua cười mà còn dư tài sắm những vai khác như Na Tra, Hồng Hài Nhi, Lý Nguyên Bá, ba cậu bé có phép thần, tài võ động trời động đất. Vậy mà khi sắm vai ba cậu bé này không ai hiểu Tín hóa trang biến thể cách nào để thành những cậu bé nhỏ chừng mười lăm, mười sáu tuổi? Cả rạp phải trố mắt ngạc nhiên. Đặc biệt nhất là khi kép Tín chơi vai Đại thánh Tôn Hành giả. Tín hoàn toàn biến thành con khỉ. Khỉ từ động tác đi, nhảy múa, hay hàng ma phục quái, đánh nữ yêu tinh, đến bàn tay luôn gãi thân hình không quần áo sang đẹp như phim Tàu ngày nay, mà chỉ quấn có manh vải giả da hổ, cố ý thò ra cái đuôi dài. Tín cứ giữ cái đuôi cho khỉ thật là khỉ. Hồi ấy chưa có cái trò một nhà báo phỏng vấn, mà chỉ là một cuộc gặp gỡ giữa một ông nhà báo với một nhân vật nào đó nơi trà đình nghèo, chuyện vui. Tôi, vẫn ở tuổi một thư sinh nghèo, tình cờ có mặt ở cái hiệu cao lâu phố Hàng Buồm, lắng nghe ông nhà báo hỏi ông vua cười:


- Vì lẽ gì ông yêu thích cái đuôi con khỉ Tề Thiên như vậy. Không lần diễn nào ông chịu bỏ cái đuôi?


Vua cười cười khẽ:


- Tôi giữ cái đuôi con khỉ là vì tôi không muốn con khỉ giống người. Nó cứ mãi là con vật, nhưng là con vật đầy nhân tính, phục tùng Như Lai Phật Tổ, sống chết một lòng chung thủy với thầy, với bạn đồng hành sang tận Tây Trúc cầu kinh. Nhưng Đường Tăng Tam Tạng, tuy được tiếng là một thánh tăng, một cao tăng, nhưng lại là một con người đầy thú tính, ưa xiểm nịnh, đạo đức dở hơi, chẳng biết gì là ngay gian, thiện ác, mấy lần đuổi tôi về Hoa Quả Sơn, nhiều lần đốc Khôn tiên thắng làm tôi khổ sở ở dọc đường, bất nhân bạc nghĩa, không hề có chút tình cảm gì gọi là nhân tính. Vậy mà, đức Như Lai, một con người hóa Phật nhìn thông suốt việc hạ giới, người thế gian, cũng vẫn thiên vị phong Tam Tạng là La Hán! Cho nên tôi yêu cái đuôi con vật của tôi, tôi tự hào là con vật đầy nhân tính. Tôi còn mong ước trong cuộc sống giữa xã hội con người như thế này, tôi được phép, cho đến chết, sinh hoạt bình thường, tự nhiên, như con khỉ có đuôi này mà không bị người ta bỏ tù, bắt tội.


Nói đến đây, ông vua cười không cười. Ông đứng lên nghiêng mình lịch sự chào ông nhà báo.


Tối hôm ấy, Quảng Lạc đại diễn vở Quan Vân Trường thụ Hạ Bì. Các báo hàng ngày đăng quảng cáo: “Tối nay Quan Vũ sử dụng thanh long đao thật”.


Tôi vốn sùng bái kiểu viết chữ quảng cáo tích hát bằng bút lông phấn nước của họa sĩ Trần Phềnh. Chữ lạ, chữ đẹp như rồng mây, như hoa sóng. Tối tối, tôi nghiện đến cửa rạp Quảng Lạc ngồi xổm ngắm chữ Trần Phềnh trong khi người có tiền, người nghiện tuồng tung tiền ra lấy vé.


Thường thì bảy rưỡi khai diễn. Người mê Trần Phềnh vào rạp sớm nửa giờ, ngồi ngắm không chán mắt bức phông ông vẽ cầu Thê Húc, Tháp Rùa trên Hồ Hoàn Kiếm. Bức phông ấy, tài hội họa ấy của Trần Phềnh, người họa sĩ cao tài đầu tiên tốt nghiệp trường Cao đẳng Nghệ thuật Đông Dương làm vẻ vang họa sĩ Việt Nam.


Đến lúc mở màn. Cả rạp hồi hộp lắng chờ.


Kép Tín, vua hề, đóng vai Châu Sương.


Châu Sương mặt mày hung dữ, ra sân khấu với tất cả điệu bộ nhà nghề, chiếc roi ngựa tượng trưng cho con xích thố vươn mình, hí, nhảy. Kép Tín tay cầm roi điều khiển thiên lí mã, tay vác câu uyển nguyệt đao, đèn hai bên sân khấu chiếu vào thanh đao bằng đồng loáng chói.


Rồi đó, Quan Vân Trường từ hậu trường hét vang mấy tiếng cực oai nghiêm. Sau tiếng hét, Quan Vũ giáp trụ lẫm liệt, lững thững ra sân khấu, không hát, chỉ biểu diễn trụ bộ, rồi ngồi xuống ghế thiếp vàng, bên mấy cây nến đỏ. Đây là Quan Vũ khán thư, tay phải, bằng hai ngón, vén chòm râu từ thái dương rủ xuống, chòm râu ấy, theo tiếng nhạc, được hất lên cùng với ánh mắt đưa theo. Động tác đọc sách vuốt râu, tuyệt nghệ.


Các bà khán giả thành kính chắp tay vái lạy Quan ngài Sáu Phú trên sân khấu, miệng xuýt xoa: “Nam mô a di đà Phật”; “Lạy thánh mớ bái, mớ lạy!”...


Sáu Phú theo lệnh Phủ Trọng, trước tối diễn tích Quan ngài, phải ngủ ở rạp, ăn chay ba ngày, không được về với vợ. Xin âm dương, ngài cho được, mới dám công bố lên các báo.


Quảng Lạc tàn rồi. Nhiều năm sau, nghệ sĩ Sỹ Tiến, bỏ nhiều ngày tháng công phu khổ luyện vai Quan Vũ, Sáu Phú mười phần, thì đồ đệ Sỹ Tiến thành công được bảy phần. Có khác là Sáu Phú đóng Quan Công tuồng cổ Sài Gòn. Còn Quan Công Sỹ Tiến là cải lương, Sỹ Tiến cùng với Anh Đệ, Ái Liên, Kim Chung, Lam Phương, Bích Hợp, Huỳnh Thái là những ngôi sao sáng của cải lương miền Bắc.


Sỹ Tiến vốn là một diễn viên chịu học hỏi, cầu tiến, muốn trở nên một đàn anh. Anh được bạn đồng nghề quý nể vì đạo đức và năng khiếu. Anh càng khiến khán giả thương yêu với vai Chu Du ba lần hộc máu.


Muốn hộc máu, phải có phép riêng. Tối diễn, cần ăn no những chất dễ nôn ra. Đến rạp, Sỹ Tiến thể hiện vai Chu Du tức giận vì thua tài kém trí Khổng Minh, Chu Du nhào lộn để hộc máu, nhưng tối ấy Sỹ Tiến không thành công. Anh vỗ bụng, ngoảnh mặt vào hậu trường móc cổ, vẫn không ọe được. Cuối cùng, mệt quá anh nhào lộn về phía trước sân khấu, bao nhiêu thứ trong dạ dày anh phun như xe nước tưới đường xuống dãy ghế hàng đầu sang trọng nhất. Trước buổi diễn anh ốm, nhưng chủ rạp đã đăng quảng cáo rồi, anh phải nghiến răng vừa diễn vừa rên. Nỗi đau đớn của nghề! Không diễn, phải đền chủ rạp.


Quảng Lạc đã cáo chung ngót nửa thế kỷ nay. Các danh tài hát bộ nam và nữ chết hết cả rồi!


Tôi cần nói rõ duyên cớ cái chết của Phủ Trọng cùng cái tài sản nghệ thuật tuồng Quảng Lạc danh vang đất nước.


Một tối rạp diễn vở đặc biệt Vua Trụ mổ gan đại trung thần Tỷ Can do kép Cưỡng đóng. Rạp chật người Hà Nội. Vở đang diễn thì một cảnh éo le, không thể tưởng tượng được xảy ra: Phủ Trọng bắt kép Giò mặc triều phục thái sư ra sân khấu, ngửa mặt lên tầng gác, trên đó có thượng khách Toàn quyền A. Sarraut ngồi. Kép Giò sụp xuống lạy viên Toàn quyền bốn lạy. Phủ Trọng mặc áo gấm đỏ, đội khăn tím đứng bên kép Giò thái sư, cũng sụp lạy theo.


Cả rạp, trước cảnh sỉ nhục ghê tởm ấy lặng hẳn đi. Sau đó mấy phút tất cả khán giả xô ghế đứng lên, ào ạt kéo ra khỏi rạp với nhiều tiếng chửi.


Qua tối ấy, Quảng Lạc vắng dần, để rồi chết hẳn. Các diễn viên cũng bỏ rạp vô Nam hết.


Phủ Trọng mang cái nhục.


Kép Giò được Phủ Toàn quyền ban cho cái mề đay cửu phẩm.


 Người Hà Nội, số 16/ 1996


Hà Nội cũ nằm đây


Ngày ấy, Hà Nội chưa vào cuộc chiến, nhưng lòng dân đã sẵn sàng củi lửa cho một lò thiêu xác quân thù.


Suốt một dải bãi bờ sông Nhị, đầu là An Dương đến cuối là Hàm Tử Quan, thành nơi ngụ cư của giang hồ tứ chiếng.


Lũ văn nghệ chúng tôi chọn bãi An Dương, nơi địa đầu cát lở làm đất trụ, có thể giữ yên thân khi bình lại có thể rút lui khi biến, lấy Tây Hồ làm lá chắn. Anh quân sư nhỏ con Gia Cát Thâm Tâm qua cơn lầm lì khá nhiều ngày, một đêm mưa, bỗng mở miệng bảo chúng tôi như vậy đấy.


Thế là chúng tôi kéo đến bãi An Dương trống vắng lưu trú với một đám ba bốn chục người nghèo khổ, sống đụng đầu dưới mấy túp lều tạm dựng xơ xác, mái vẹo, tường xiêu, một hố đất đào đủ tầm sâu thành giếng lấy nước ăn. Ngày ngày họ đi làm, thôi thì đủ nghề khốn khổ và khốn nạn.


Cứ thế, lâu dần, rừng lành khỉ đến. Bỗng một ngày Hà Nội gió mưa, chúng tôi choáng váng vì thấy có đến hơn trăm nhân mạng không biết từ cõi đất trời nào kéo đến, tìm chúng tôi xin trú ngụ. Trong số cư dân ấy nam nữ đủ cỡ tuổi, cỡ người, ai nấy đều cao lớn, nói năng bặt thiệp, đứng ngồi nhanh nhẹn. Người nào cũng có cặp mắt sáng, vầng trán rộng, miệng cười tươi. Chúng tôi hỏi họ về nghề nghiệp. Cả nam, nữ đều thấp giọng: “Nghề khuân vác. Đêm thì chúng tôi tập trung ở An Dương này. Ngày thì tiến xuống Phà Đen làm phu bốc vác”. Chúng tôi thấy không nên hỏi kỹ. Cứ theo cách nhìn tướng mặt, nghe giọng nói, chúng tôi đã đoán biết họ là ai, nhưng để bụng, và tỏ lời hoan nghênh, mời họ sống chung bãi, chung đời. Cứ vậy qua đi ít ngày đêm, tri kỷ gặp tri kỷ, dang rộng cánh tay mà ôm ấp nhau, dốc tâm can ngỏ tình, ngỏ trí với nhau. Thì ra họ đều là tàn quân của Hoàng Hoa Thám, Tán Thuật, Cai Vàng, và nghĩa quân của sứ quân núi rừng Việt Bắc. Giặc Pháp truy lùng ráo riết, những anh hùng tráng sĩ này tìm cách vào thủ đô Hà Nội, nhìn thẳng mặt kẻ thù. Với họ, chúng tôi đang nhanh chóng trở nên bạn chí thân, không có rượu thề, mà có thể sinh tử cùng nhau.


Tất cả bọn họ, nam như nữ, đều võ thuật cao cường. Chúng tôi được họ truyền cho dăm ba miếng phòng thân cực kỳ đơn giản và hữu dụng. Còn côn kiếm thì xin miễn. Anh Bảy Thụ, người thầy, bậc đàn anh của họ, nhìn chúng tôi lộ vẻ ngạc nhiên. Tôi đáp:


- Chúng tôi lúc nào cũng sẵn côn kiếm ở đây rồi. Mà tất phải học thêm.


Tôi vung chiếc bút máy lên theo đường kiếm. Anh Bảy Thụ cười vang.


Chúng tôi với họ chung sống đã một năm qua không thấy xảy ra việc gì khác lạ, ngoại trừ trường hợp một vài người trong bọn họ vắng mặt, lần này vài ba tháng, khớp với những tin báo chí đăng rùm beng: vụ anh công sứ miền Trung bị treo cổ, anh tổng thư ký phủ toàn quyền miền Nam vừa bị ám sát hay bị bắt cóc, hoặc lần khác, viên thanh tra mật thám Pháp công cán ở Sài Gòn, bị một lưỡi dao găm cắm trúng lưng giữa phố phường đông như hội.


Chúng tôi, trước những biến cố ấy, không hề han hỏi, mà chỉ theo dõi tâm tư anh Bảy Thụ qua ánh mắt sáng ngời, nụ cười bí hiểm của anh.


Cuộc chung sống này không được dài ngày. Rồi sự chia tay cũng đến, tất nhiên và bình thường như mọi cuộc chia tay trên vạn nẻo đường chinh chiến.


Lại một ngày mưa. Bọn tráng sĩ ấy nắm chặt tay chúng tôi rồi dũng mãnh lên đường. Họ vào Nam chiến đấu.


Bãi cát An Dương này lại chìm vào yên lặng rùng rợn của cái chết từ trời đổ xuống hay từ dưới đất nhô lên.


Trước kia, dốc đê đổ xuống bãi An Dương cũng to như bây giờ. Giặc Tây đề phòng dân bãi mà chúng luôn nghi là cộng sản nổi dậy thì chúng sẵn sàng lao xe quân sự xuống dẹp liền bằng sức mạnh. Trên hai đoạn đê bị cắt xén, chúng ngày đêm đặt hai tên lính lê dương, trung liên sẵn cầm tay, xả đạn xuống người dân nếu ban đêm không cầm chiếc đèn gió hoặc đèn hoa kỳ ở tay lủng liểng giơ cao lên khỏi đầu đủ ba lần. Và ban ngày, đạn trung liên cũng xé xác người dân bãi, nếu tên lính đã ra lệnh cho người dân đứng lại mà không líu ríu tuân theo.


Tôi đã chứng kiến cảnh một người đàn bà đau đẻ, tay ôm bụng, tay cầm cây đèn hoa kỳ cạn dầu khô bấc, lập cập run rẩy loạng choạng tiến đến chân tên lính, tay chưa kịp giơ lên thì một trận gió to thổi tắt ngọn đèn, và tiếp đến một tràng đạn xé trời khuya, người sản phụ ôm bụng trên vũng máu. Tên lính lê dương mặt đen ngòm trong bóng tối, thản nhiên giương đôi mắt trắng nhìn cái xác cười.


Chờ đến sáng hôm sau, chúng tôi lặng lẽ đào hố chôn mẹ con người xấu số. Chị có chồng, một người đàn ông, tiểu công chức, không văn hóa, nghiện cả thuốc phiện lẫn rượu, thịt chó, hay đánh vợ. Tối hôm ấy, ngày lãnh lương anh ta được bạn đồng nghề rủ nhau đi đánh chén say bí tỉ, rồi kéo nhau sang Gia Quất hát cô đầu. Người vợ chết đúng lúc anh chồng đang say rượu, phiện trong vòng tay gái hồng lâu. Tội lỗi ngoài ngưỡng cửa. (Âu cũng là tiền định, tôi viết truyện Ở bãi, truyện Tội lỗi ngoài ngưỡng cửa đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, cách đây hơn 50 năm rồi).


Ngày nay, tôi lại tái hồi dải bãi sông oan trái An Dương. Nhưng tôi không hề oán giận bãi cát mát mịn màng, những bóng cây xanh rờn trên dòng nước Nhị Hà lặng lẽ từ thượng nguồn ngàn dặm xa xôi chảy về xuôi rung lên tiếng hát ngàn năm đất Việt.


Tôi tự hào vì bãi đất An Dương. Tôi tưởng tượng xưa kia chính bãi An Dương này là bến Bình Than mà đại danh tướng Trần Quốc Tuấn cùng các quan văn võ hội quân và họp bô lão xin ý kiến toàn dân hòa hay chiến.


Cờ chiến nhà Trần bình Nguyên Mông kéo đỏ bến nước Bình Than. Ngựa hí, quân reo, bước đi rầm rập của các danh tướng Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng đã khua vang trời nước An Dương kín đáo. Và cũng chính ở khúc sông Nhị Hà này, sau đó danh tướng Trần Khánh Dư đã thủy chiến, chặn quân Nguyên, cướp hết lương thực. Nguyên Mông đại bại, lưu lại mấy ngàn xác chết trên dòng sông Hồng đã đỏ lại pha thêm máu đỏ.


Khúc sông mang dấu ấn lịch sử này, ngày nay không còn những đám mây xây thành soi bóng nước vỗ bờ lau, không còn vang vọng tiếng thét oai hùng của cậu bé Trần Quốc Toản vừa bóp nát trái cam vì tức giận lệnh cấm ra quân của phụ hoàng, nhưng tiểu chiến tướng vẫn ra quân dưới lá cờ thêu kim tuyến dòng chữ lớn: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.


Bài ký ngắn ngủi này mang nặng nỗi quan hoài thắm thiết của tôi đối với dải bãi bến phù sa An Dương kể từ ngày tôi cùng mấy anh em văn nghệ Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Nguyệt Hồ, Viễn Khách - sống ẩn náu ở đây ngót hai năm tránh Tây, tránh Nhật, nghe thiên hạ sự.


Thế rồi lại chia tay! Chiến sự bùng nổ vang trời. Người lên Việt Bắc, kẻ vô Nam, kẻ về tề. Viết, vẫn viết, viết trước họng súng, đầu lê, lặng lẽ, nghiến răng mang cái tị hiềm khó giải, tề nhân.


Tôi đã là tề nhân gần hai năm chui bờ rúc bụi, viết Đất, Xã Bèo, Người của đất đồng thời viết cả trường thiên phóng sự về đời sống khốn nạn của văn quan, võ tướng xã hội Sài Gòn, với nhan đề Xóm Rá (1953).


Viết xong Đất, Xã Bèo, tôi viết một cụm hai truyện dài Cầu Sương, Quán Gió. Nội dung đề cập đến số phận hẩm hiu của người phụ nữ giai cấp tư sản trong ngày chiến. Cô gái khuê môn không hiểu lòng chồng, dẫn đến phụ chồng.


Xin trở về với bãi bến An Dương. Hồi mấy mái tóc xanh còn chụm vào nhau chung đèn chung bóng. Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, ba nhà thơ sục sôi lòng cách mạng, ngày đêm bàn cách lên chiến địa. Trần Huyền Trân khẽ nói lên cái day dứt của lòng mình:


Nằm đây thép gỉ sơn mòn


Cái đi đi mất, cái còn lần khân


Thẫn thờ thẹn gối, e chăn...


Các anh đã lên chiến địa. Các anh đã làm những cánh chim thỏa chí lớn hải hồ. Các anh đã vì nghĩa cả. Tôi cũng từ lâu, xoa mái tóc bạc này, nhằm câu chiêu niệm. Thế sự vãn du du, rồi cũng đi vào ảo giác.


Tôi mệnh chưa cho chết, sống quá đủ rồi. Mong đi. Đi về đâu? Về đâu? Nào biết.


Giờ thì tôi lại ở bến bãi An Dương “Cây đa bến cũ, con đò khác xưa”. Về đây ở với lũ con trai. Cả ngày nằm giữa Hồ Tây, Nhị Hà đọc sách. Đầu óc mỏi rồi, trí nhớ thui rồi, mắt mờ rồi. Sợ đọc, viết, cố ngồi, cố viết, tay quá run, chữ không thật nét, coi như làm cái việc “rửa bút cùn, lau kiếm gỉ”, viết với tâm tình băng giá của một ông già. Viết nhiều, viết ít, viết gì đi nữa, chỉ là những dòng chữ biệt li. Tôi nghe như sắp ra khỏi kiếp tục gửi trong cõi tạm.


Ngòi bút lê đến đây, ngậm ngùi tưởng như những cành lá khô rơi rụng cuối nẻo đường văn nghiệp.


Tôi sực nhớ câu thơ trong thiên trường ca của Lý Thương Ẩn, danh sĩ Thịnh Đường.


Sen tàn nghe rốn tiếng mưa thu


Tôi đắc ý với ý thơ, lời thơ tuyệt hảo này. Mỗi lần nhắc đến, lệ hoen má hóp. Xin mượn câu thơ họ Lý khép bài ký ngắn ngủi này và cũng luôn thể kính chào bạn đọc cố hữu cáo chung nghề cầm bút của tôi.


Kể từ nay, tôi sống những ngày tàn không tác phẩm nhưng bù vào cái bất hạnh ấy, xin được phép vui mừng báo với quý vị là tôi làm cha một lũ năm trai, một gái, làm ông nội, ông ngoại một đàn mười lăm, mười sáu cháu.


Chỉ còn hận chưa có mống chắt nào.


Thì tháng trước, giữa mùa xuân cô cháu dâu, trưởng tộc của tôi cho ra chào đời một thằng chắt khỏe mạnh kháu khỉnh.


Tôi mừng và nghĩ đến cái truyện ngắn, rất ngắn, rất hay của nhà văn Nga M. Gorki. Truyện rằng:


Một đoàn người đi phá hoang. Trong đoàn có một người đàn bà đau đẻ khi đi qua bãi bể sóng gió ầm ầm. Người sản phụ đau quá, ngã gục trên bãi sông. Ai giúp đỡ bà? Không ai cả. May, trong đoàn có nhà văn Gorki. Ông xoay trần giúp sản phụ cho ra chào đời một chú bé thiên thần. Chú bé khỏe mạnh, cứng cáp, quẫy đạp, khóc vang. Nhà văn hào ôm chú bé thiên thần, nhảy xuống sông, dìm chú xuống làn sóng nước mặn nồng, nhấc lên, dúng xuống đủ ba lần.


Chú bé khóc to hơn, vang vọng cùng tiếng sóng liên hồi vỗ vào đất nước Đại Nga. Còn thằng chắt nhỏ của tôi, thưa các vị, cũng khôi ngô tuấn tú, cụ và chắt rất hợp nhau. Cụ già rồi, nhưng cũng cảm hứng như văn hào Gorki muốn ẵm chắt lội xuống dòng sông Nhị, ba lần dúng nước, tắm rửa chắt ở Trường Giang, chào mừng đất nước Việt Nam anh hùng đổi mới.


 Người Hà Nội, số 19 / 1996


 


Người phun kiếm


Hôm nay nói đến nghề xuất bản sách báo, cách in ấn và phát hành sách báo tại Hà Nội những năm trước cách mạng, tôi nhân danh một người đã cộng sự với một tài năng lớn trong nghề này là ông Vũ Đình Long, không ngần ngại gì mà không nhắc đến tên ông với tấm lòng chân thật và cũng không thiếu ít nhiều suy nghĩ đắng cay.


Qua nhiều năm nay, mỗi lần có dịp nói đến cái nghề xuất bản cao quý này, tôi lại ngậm ngùi nhớ tới ngôi nhà 93 phố Hàng Bông, trong đó có một người tầm vóc to lớn, da ngăm đen, bước những bước đi lạch bạch quanh bàn giấy đồ sộ luôn tỏ ra bực bội, đăm chiêu, tính toán. Đó là ông Vũ Đình Long, một trí thức bỏ vốn ra kinh doanh văn chương chữ nghĩa, làm giàu. Ông Long từ đâu đến trong cái Hà Nội ngàn năm văn vật quay cuồng qua bao cuộc hưng vong lịch sử này? Lúc còn là một ông giáo dạy lớp phổ thông, không ai biết đến ông. Ông giáo họ Vũ đang an phận gõ đầu trẻ nhỏ, bỗng có lệnh đổi ông lên tận Hà Giang tiếp tục “Godautre” (gõ đầu trẻ - nhà văn Nguyễn Công Hoan, bạn đồng nghiệp của ông Long, chơi chữ). Ông Long ở Hà Giang tận dụng mấy năm sống với núi rừng, ngày đêm trau dồi chữ Hán. Ông bắt đầu thử năng khiếu văn chương, dịch pho tiểu thuyết Tàu Anh hùng náo. Pho truyện kiệt tác. Sách gửi về Hà Nội, xuất bản, được độc giả nhiệt liệt hoan nghênh. Sau đó, đến Mảnh trăng thu, một truyện tình nổi tiếng của nhà văn lãng mạn Tàu là Từ Trẩm Á. Ông Vũ Đình Long nổi danh trong làng văn bút Hà thành hoa lệ.


Rồi thì, gió đã lên, cờ đến tay Vũ, Tây lại chuyển ông giáo Long về Hà Nội. Ông tự thấy ngấm say men văn học, xin thôi nghề dạy học, bắt đầu mở nhà in. Họ Vũ vẫn bản chất cơ mưu, nói chắc nịch, làm ăn cũng chắc nịch lại thêm cái nết điềm đạm, khiêm tốn, vui vẻ với mọi người, luôn lấy câu “thu phục nhân tâm” làm chuẩn đích trong nghệ thuật xã giao.


Khởi đầu, vừa làm, vừa nghe ngóng, thử sức mình, nhà in Tân Dân chỉ vẻn vẹn có một máy in cỡ nhỏ, vài máy công tử đạp chân, nhận in thiếp cưới, danh thiếp, sổ sách nhà buôn... Công việc chạy đều, có thu có nhập. Họ Vũ nghĩ ngay đến việc làm lớn. Ông lân la bước vào nghề xuất bản. Hãy làm chú mèo con bắt chuột chí, ông cho ấn loát loại sách ít trang, giá rẻ - 25 xu một cuốn: sách Phổ thông bán nguyệt san. Số lượng 2.000 cuốn, bán quanh Hà Nội. Chỉ độ mươi hôm, sách bán hết. Ông Long xuýt xoa thầm nhủ: “Thế này thì phi xuất bản bất phú”. Loại phổ thông bán nguyệt san ra đều, cứ nửa tháng cái máy in cũ kĩ chạy “cà xịch cà tàng” lại thòi ra một quyển, số lượng nhích dần lên.


Thời vận đến rồi. Họ Vũ đã ngồi phác họa một xí nghiệp ấn loát, một xưởng in cỡ lớn, với một máy hiện đại Minerve gửi mua bên Pháp quốc.


Cứ như một trận đổi đời. Một sớm, nhà in cũ bị phá, cái máy cũ thảm hại như chú ngựa già, chưa bị chủ nhân mổ thịt, vẫn được chủ tận dụng sức tàn, khiêng vào một xó chạy đều đều. Máy hiện đại Minerve từ Pháp đã đến Việt Nam, chủ nhân được giấy hải quan mời xuống cảng Hải Phòng nhận máy, xe về Hà Nội.


Họ Vũ phải thuê hai chục thợ phá nền nhà, đào móng, hạ bệ cái máy tối tân, to như hai cỗ xe tăng chập lại. Tây không quên cử một kĩ sư Tây theo sang Hà Nội lắp máy, thu một số bạc trả công rất lớn.


Cái máy xe tăng bắt đầu khoe oai lực. Nó chạy êm như ru. Một phút nhả ra năm chục tờ giấy in khổ báo, tự nó gấp rất ngon lành.


Như đã nói, ông Vũ Đình Long lắm cơ mưu, lại giỏi cả Hán văn lẫn Pháp văn. Về tài giao dịch thì ít ai bì kịp. Ông vén tay áo, dồn cả trí tuệ vào công việc: chính thức dựng nhà xuất bản. Nhưng muốn tung hoành trên mặt trận văn hóa, văn học, phải có tướng quân, đó là những con người văn nghệ, con người trí thức, những con người áo vải, dễ nắm tóc đấy, mà cũng khó chơi, khó trị.


Họ Vũ tự tin bản lĩnh của mình, như Tống Giang Lương Sơn Bạc, chịu khom mình vái lạy thì tức khắc thu nạp được hầu hết anh hùng hảo hán bốn phương.


Quả vậy, họ Vũ đã công thành như Tống Công Minh. Muốn thu phục bọn áo vải kiếm ăn bằng cây viết, ông chủ nhà xuất bản phải có tài chiếm lĩnh lòng tin bọn người hàn sĩ qua thư từ trao gửi. Thời cũ, người mua văn, kẻ bán chữ, thoạt đầu ít khi tiếp diện. Giao dịch bằng thư từ, chữ nghĩa. Có cảm tình với người mua chữ, thì viết cái chơi, không cảm tình thì... hoa rơi lá rụng! Thế đấy! Cái bệnh chung của người áo vải bán văn, sống nghèo, chết thảm, không chịu ai cưỡng chế.


Vũ Đình Long sinh hoạt khắc khổ, không thích xuống xóm “Kính thiên” (Khâm Thiên), không ưa gái nhảy. Rất thích chơi bát đũa thượng hạng của Trung Quốc, khoe bát đĩa lạ với khách mời dự tiệc, ăn món lạ, uống rượu lạ. Thật vậy, ông hào phóng trong việc mời khách ăn. Thực khách đó, tất nhiên không phải các anh nhà văn áo vải đủ danh, đủ tài, đủ đức như Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Lê Văn Trương, J.Leiba Thanh Tùng Tử, Hiên Chi... Chỉ có một bạn văn, một bạn cùng nghề “Godautre” mỗi lần từ Thái Bình, Nam Định lên chơi Hà Nội là được Vũ Đình Long cho xe hơi đi đón về dự tiệc vô cùng thịnh soạn, đó là Nguyễn Công Hoan.


Nhà in mang danh hiệu Tân Dân, nhà xuất bản Tân Dân đứng ngạo nghễ ở phố Hàng Bông, như thách thức đọ kiếm với mọi nhà in lớn, như nhà in TB Cay của Hoa kiều ở phố Sinh Từ, nhà in Minh Sang ở Bờ Hồ, nhà in Ngô Tử Hạ phố Nhà Thờ, nhà in Lê Văn Tần phố Hàng Bông, nhà in và cũng là nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh 112 Hàng Bông và còn chục nhà in nhỏ khác. Nhưng địch thủ ghê gớm nhất của những nhà in Việt này là xí nghiệp in của người Pháp IDEO (Imprimerie d'Extrême Orient - Nhà in Viễn Đông). Nói là địch thủ ghê gớm là nói về ấn loát tân kỳ của nhà in Pháp. Ngoài ra, họ không hề cạnh tranh gì với nhà in người Việt.


Ông Vũ Đình Long có đầu óc làm ăn lớn và ấn loát tối tân, tổ chức nhà xuất bản có khoa học. Xu hướng của ông là cố gắng noi theo tổ chức văn học của Editions Flammarion và Librairie Hachette, nhà xuất bản vĩ đại, kỳ cựu của Pháp. Đã có trí cầu tiến như vậy, họ Vũ duy trì cách đối xử khéo với đội ngũ nhà văn hồi ấy đã tỏ ra khá mạnh.


Đội ngũ nhà văn của nhóm Tân Dân (đối lập với Tự Lực văn đoàn mà chủ lực chỉ có bốn anh em họ Nguyễn Tường) gồm hai thành phần: bút lông và bút sắt, đào tạo bởi hai thế hệ.


Bút lông: Cụ bảng Mai Đăng Đệ, cụ cử Phan Kế Bính, sở bảo Doãn Kế Thiện, các ông Nhượng Tống, Nguyễn Can Mộng, Phan Khôi, Tản Đà, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nguyễn Đỗ Mục... Các ông không khoa bảng như Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, thi sĩ Lê Bái (bút danh: J.Leiba Thanh Tùng Tử, tuổi trẻ tài cao Hán học, Pháp học đều uyên bác)...


Bút sắt: Hiên Chi Nguyễn Văn Chất (viết báo Pháp nhiều hơn báo Việt), Lan Khai (tiểu thuyết gia nổi tiếng), Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Như Phong, Tchya, Phùng Tất Đắc (Hán học, Pháp văn cũng vào bậc uyên thâm), Lê Văn Trương (tiểu thuyết gia, người hùng, viết khỏe nhất, nhiều độc giả nhất miền Nam cũng như miền Bắc), Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và tôi.


Còn lạ gì trò đời ghen ăn, ghét ở. Hai tờ báo tuần Phong hóaNgày nay của nhóm Tự lực văn đoàn thẳng tay lôi Vũ Đình Long lên mặt báo. Họ sử dụng tranh trào phúng, thơ văn hài hước để đả kích ông. Đặc biệt bức biếm họa vẽ Vũ Tiên ông hếch mũi lên trời, kiếm ở hai lỗ mũi phun ra tơi tới, bạc tiền như nước vỡ đê ào ào chảy vào tay áo thụng của Vũ Tiên ông... Nhưng ông Vũ không những không giận nhóm Nhất Linh, mà còn tỏ ra thích thú.


Tôi, tuổi thọ khá cao rồi, cầm bút viết hồi kí này, bút rời tay, cảm thấy lòng buồn.


Cho đến ngày nay, tôi còn tồn tại. Các ông bạn cầm bút của tôi, cùng thời với tôi, tất cả đã ra khỏi cái quá khứ văn bút đau thương kệch cỡm này.


 Người Hà Nội, số 29 / 1996


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đến già mới chợt tỉnh (3) - Tống Văn Công 22.06.2019
Đến già mới chợt tỉnh (2) - Tống Văn Công 22.06.2019
Đến già mới chợt tỉnh (Trích: 1) - Tống Văn Công 22.06.2019
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
xem thêm »