tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31241275
30.07.2018
Mã Thiện Đồng
Bóc vỏ trái đất (4)

RẢI HƠI ĐỘC HÓA HỌC


            Trận càn Xêđaphôn đã sang đến ngày thứ 12.


Với hy vọng giết hết những người còn sống sót trong địa đạo, chiều nay quân Mỹ thực hiện một phương án mới.


Các đơn vị vừa nhận được tin báo chuẩn bị sẵn tinh thần, bằng mọi cách vượt vòng vây ra khỏi trận càn, qua sông Sài Gòn. Phải làm sao bảo đảm an toàn cho hàng trăm cán bộ, những hạt giống quý báu của cách mạng, di chuyển sang vùng căn cứ khác! Những căn hầm địa đạo tơi tả, những con người còn sống trong ấy cho đến hôm nay, không có gì phải chuẩn bị ngoài tinh thần và nghị lực, cùng với cái đói và sức đã gần kiệt.


 


Nhận được tin sẽ có người lo tổ chức cho tất cả vượt qua sông, ai cũng mừng. Nếu cứ tình hình như thế này, chỉ cần kéo dài vài ngày nữa, cho dù bom đạn và xe ủi có không khui được hầm, thì anh em cũng sẽ chết vì đói. Không còn một thứ gì có thể ăn được đã mấy ngày nay. Sự sống và cái chết lúc này như không còn ranh giới, không còn xa lạ, bởi khi ta nằm đây, còn đang thở, và không biết đến lúc nào nữa, hơi thở ta sẽ yếu dần đi và cuối cùng không còn thở được nữa!


 


 Khi nhận được tin tổ chức vượt vòng vây, ai ai cũng thấy sức sống trong tiềm năng vô tận của con người đang dồn về, phấn chấn, chân tay mạnh mẽ, sắc thái tươi tỉnh hẳn lên. Các đơn vị chờ mong liên lạc tới, nóng lòng cử người đi trinh sát bắt liên lạc với đơn vị Hai Thương. Đa số anh em, nhất là phụ nữ. Trong hoàn cảnh quẫn bách, thân hình tiều tuỵ, sức đuối vì đói khát, mặt đất thì bị xới sáo tung tành, mất hết phương hướng, lên mặt đất biết đường nào đi, coi chừng đụng giặc hay đụng lính phục kích, chắc gì còn sống sót mà vượt vòng vây. Đang lúc nguy nan, hay tin đơn vị Hai Thương cho người đến báo sẽ dẫn đường đưa họ vượt sông, Lúc này mà còn có người đến cứu giúp, ai cũng háo hức phấn chấn, mừng hết biết, lòng cảm động vô cùng.


 


Bên hầm địa đạo A36, Thương đang gói gém đồ đạc, sắp xếp máy móc điện đài xem có bao nhiêu tài liệu cần mang theo … Bỗng thoáng thấy mùi gì hăng hắc khó chịu, Thương thấy cảm giác khó thở. Giây phút đầu tiên này, không ai nghĩ ra thuốc độc hóa học. Nhưng ngay sau đó, không còn nghi ngờ gì nữa, điều đó đã xảy ra.


 


Ở trong các hầm địa đạo không ai có mặt nạ phòng độc. Những ai đã có kinh nghiệm, nhất là người chỉ huy vội vàng truyền lệnh:


 


- Địch thả hơi ngạt rồi! Lấy khăn ướt bịt miệng, không nói, không kêu, không vận động, nằm im ráng chịu đựng!


 


Thương nói nhỏ lại, nhưng anh em cũng đủ nghe:


 


- Nằm úp mặt xuống đất, cố gắng nhịn thở! Nếu không kịp có nước thì đái ra khăn hay miếng vải mà bịt miệng mũi lại!


 


Thật khó chịu vô cùng, đã thiếu dưỡng khí lại nhịn thở, khẽ thở một chút thì lại hít phải hơi hắc ghê người, không phải chỉ hắc mà là cái mùi ghê rợn của sự chết. Nước mắt ứa ra giàn giụa. Nồng độ hắc cay ngày càng tăng lên. Không hiểu chúng bơm vào địa đạo bằng ngách nào. Có cách nào đây để chặn bàn tay tội ác giết người của chúng! Có anh đã định chồm dậy, vơ súng, bật lên khỏi lòng đất, lia cho bọn giặc hết băng đạn rồi hy sinh luôn, nhưng không được, không được phép đánh liều để hy sinh, để lộ căn hầm, còn anh em đồng đội …! Vận động mạnh bây giờ không thể được, một hơi thở hít mạnh vào là ngất xỉu ngay.


 


Một lát sau, Thương thấy có cảm giác hơi thở dễ chịu dần. Thì ra hơi độc chui theo các lỗ thông hơi vào hầm, chúng di chuyển chậm và vì không thông khí nên hơi độc không chuyển vào sâu trong hầm được. Cũng có khi hơi độc rải xuống, rồi gió đưa đi, bay lên, bay xa, còn phần hơi độc chui xuống lòng đất thì khơi khó, vì vậy mà lại một lần nữa anh em thoát chết.


 


Thương thử ngồi dậy, bỗng đầu óc quay cuồng, choáng váng, ngây ngất như người say rượu. Anh lại nằm xuống thở nhẹ, thở nhẹ. Cũng may mà anh em không ai tắt thở, không ai bị ngất. Vũ khí hóa học của Mỹ nguy hiểm, giết người nhẹ nhàng thật. Chỉ cần ít phút nữa hay nồng độ hơi độc cao hơn chút nữa thì cả căn hầm, cả đơn vị tình báo A36 này không còn ai sống, không còn gì cả, điện đài tin tức chuyển đi nhận về đã ngưng hoạt động.


 


Điều may mắn là kẻ địch không phát hiện ra lối vào địa đạo, ngoài mấy cái cửa hầm chúng đã bơi móc thấy, đã bơm nước. Những bức tường ngăn nước mới đắp hôm trước lại tiếp tục ngăn hơi ngạt cứu anh em, Chỉ có ít hơi độc theo các lỗ thông hơi vào địa đạo và gió đã cứu những con người con trong lòng đất.


 


Thương lo lắng nghĩ tới các hầm địa đạo của các đơn vị bạn. Liệu có căn hầm nào hơi độc đã sát hại anh em mình trong đó không. Nỗi đau xót trào lên trong anh, lòng căm thù giặc thêm hằn sâu uất hận.


 


 


 


                                    BƠI QUA SÔNG TÌM XUỒNG


 


            Đêm trinh sát thứ hai, Thương, Mới, Thôn, Kiển, bốn người cùng đi làm nhiệm vụ trinh sát tìm đường đưa đoàn người vượt sông Sài Gòn. Kiển và Thương lẹ làng bơi qua bên kia sông, liên lạc với du kích bên Củ Chi, chuẩn bị ghe xuồng, phương tiện và nơi trú quân. Hai người mò mẫm trong đêm tối, vào mấy xóm bên sông, gặp được một tổ du kích, anh em bên này cũng vừa nhận được lệnh cấp trên chuẩn bị đón đoàn cán bộ vượt sông từ Nam Bến Cát qua, nhưng chỉ tìm được một chiếc ghe đánh cá của dân, chở được cỡ hai chục người. Thương phân công:


 


- Phải kiếm thêm một vài chiếc nữa, không có ghe lớn thì ghe xuồng nhỏ cũng được, số người qua sông đông lắm, nếu không đủ xuồng, thì cả đêm cũng không qua hết bên này sông, kẹt lại là vô cùng nguy hiểm, ngày hôm sau là chúng sẽ phát hiện ra, thật nguy hiểm cho người nào còn kẹt lại. Cuộc vượt sông này, phải là trong đêm mai, muộn hơn nữa sẽ thêm bao nhiêu nguy hiểm cho tính mạng nhiều người. Các đồng chí, cố gắng kiếm bằng được mấy xuồng nữa.


 


Lặn lội mãi, anh em cũng chỉ phát hiện được một chiếc ghe nhỏ của một nhà dân đang dấu kín trong bụi lau cỏ, khóa dây xích cột chặt vào một gốc cây. Thương nói với mấy đồng chí du kích:


 


- Trong ngày mai, các đồng chí canh chừng, đừng để họ cho xuồng đi đâu cả, để sẵn sàng ở đây, chập tối mai chúng tôi sẽ qua lấy.


 


Tạm xong việc tìm xuồng, Thương và Kiển bơi trở lại qua sông. Vừa vào đến gần bờ, một chiếc tàu tuần tiễu rú máy chạy băng băng xé nước giữa dòng sông, sóng xô rất cao, hai mảng lục bình của Thương và Kiển muốn tan ra, may mà chúng không nghi và bồi cho mấy băng đạn vào mấy bụi lục bình.


 


Vừa vào tới bờ, Thương nói nhỏ cho Kiển nghe:


 


- Phải canh chừng đúng lúc không có tàu chiến mới cho thuyền vượt sông, nếu không, sẽ không thể tránh khỏi tổn thất. Xuồng không được chở quá số lượng, nếu khẳm quá, gặp sóng tàu có thể làm chìm xuồng.


 


Bốn người gặp nhau bên bờ sông, cụm lại trao đổi một lát rồi cùng rút về hướng địa đạo. Bỗng một tràng súng nổ chát chúa, Thôn gục xuống tại chỗ, ba người lao vọt vào phía bờ cỏ. Mới vừa chạy khỏi chỗ phục kích thì gục xuống. Thương nằm xuống bắn về phía sau kiềm chế, chặn những bóng đen nhốn nháo rồi nhào tới ôm Mới, nhưng Mới đã trúng đạn nặng, anh giẫy lên oằn oại rồi tắt thở ngay trong tay Thương. Đêm tối, nhưng Thương vẫn nhìn thấy bóng mấy tên Mỹ cao to thấp thoáng khom khom chạy. Thương vẩy súng bắn vào đám phục kích đang lao về phía mình, rồi anh vụt chạy lao về phía trước. Hóa ra hồi xế chiều, bọn này đổ từ trực thăng xuống, nằm im lìm ở đây phục kích. Lúc tổ trinh sát của Thương qua sông tìm xuồng, không đụng ổ, nhưng lúc quay về thì vừa lọt giữa ổ phục kích. Bọn ăn đêm này đã lập được khá nhiều công trạng khi nằm phục kích bắn giết bên bờ sông.


 


Bọn biệt kích năm sáu thằng đuổi theo, bắn chéo chéo… bùm bùm… Thương trườn người phóng theo mép bờ vừa tránh đạn nhanh như rắn cỏ. Thương lo cho Kiển, Kiển có chạy thoát không. Bỗng người Thương rệu rạo chân tay đau đớn, mất hết tinh thần sức lực, chiến đấu suốt mười mấy ngày nay, đánh trận nào cũng giòn giã, cũng ngon, mấy anh em gắn bó gian khổ bên nhau, yêu thương nhau như ruột thịt tay chân. Từ ngày đầu trận càn, đánh trận nào cũng gọn gẽ thuận chiều không ai làm sao cả, hôm nay, các anh đang đi tìm đường để đưa mọi người trong cơn nguy nan giữa trận càn thoát ra ngoài, bị phục kích bất ngờ, Thôn và Mới đã hy sinh. Đang bước đi mà chân Thương khuỵu xống, không phải vấp té mà là đôi chân không nhấc lên được, hay mình bị thương! Không, anh không bị thương ở chân, tim anh đang bóp chặt, đang ứa máu, đang co thắt nhói đau như đứt từng khúc ruột vì mất đồng đội. Thôn, Mới hai người đồng chí, hai người em mới 22 tuổi, thân thương gắn bó như ruột thịt, chân tay, cùng ở cụm tình báo A36 đã mấy năm nay gian khổ từng ngày có nhau. Thương còn nhớ như in hình ảnh hôm nào ba anh em mình trần trụi, trét bùn kín mít, đen như lọ nghệ, ôm trái DH10 Thôn còn nhăn răng cười, hai hàm răng trắng hếu:


 


- Anh Hai coi em có giống con gấu ôm trái sầu riêng không, chứ em thì trông anh Hai giống như con khỉ đột ôm hũ mắm ấy!


 


- Mày trông thấy thứ đó bao giờ mà so giống?


 


- Em nghe kể chuyện thôi, chứ có thấy hồi nào…


 


 Hình ảnh, Thôn vừa nhao lên chạy thì bị trúng nguyên băng đạn gục chết, hình ảnh Mới bị thương chạy được một đoạn thì hy sinh ngay bên bờ ruộng, ngay trên tay mình, không nói được tiếng nào, lòng anh thắt lại quặn đau như đứt từng khúc ruột. Hai hàm răng cắt chặt đến tê dại.


 


Thương cố nhoai bước về đến địa đạo, nằm vật ra, anh không khóc nhưng toàn thân đờ đẫn, như người mất hồn.


 


 Đo vội bò lại lay người anh hỏi liên hồi:


 


- Có sao không anh Hai, có ai làm sao không?


 


Kiển cũng về tới cửa hầm, vừa nói vừa thở như sắp đứt hơi:


 


- Mới, Thôn hy sinh rồi… đụng ổ phục kích suýt nữa thì chết hết.


 


Mọi người im lặng rất lâu, không ai nói được câu nào, hình như tất cả đều nén đau thương, nuốt nước mắt vào trong nín lặng.


 


Nửa đêm hôm ấy, Thương và Đo bò ra ngoài, sử dụng những kinh nghiệm trinh sát tránh ổ phục kích, như cây gậy làm bù nhìn có buộc khăn, buộc cành lá, ném đất dò ổ phục kích… Hai người bò ra nơi Thôn và Mới hy sinh, bó xác các anh vào tấm nilông, đào hố chôn, làm dấu để sau này tìm. Giữa cuộc chiến đấu, người mất người còn, người nằm lại dưới lòng đất, người tiếp tục cuộc chiến đấu. Máu xương, sức lực, mồ hôi nước mắt của chúng ta đã đổ xuống ngay trên mảnh đất quê hương, không phải cho cuộc chiến tranh khắc nghiệt này, mà cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cuộc chiến đấu tiêu diệt kẻ thù để giải phóng dân tộc.


 


 


 


Trong hai đêm quan sát mặt sông, tính toán thời gian địa điểm tập trung quân, đổ quân, phương tiện, cách thức qua sông, anh em trong tổ trinh sát và liên lạc đã tìm ra con đường vượt sông qua đất Củ Chi cho các đơn vị. Việc thông báo tin tức số lượng người vượt sông, ngày giờ tập trung, đã được xắp đặt cẩn thận.


 


Để đảm bảo an toàn cho việc tổ chức qua sông, Thương họp tất cả anh em trong tổ và những người người phụ trách đoàn các cơ quan, ghi tên từng người, mỗi tốp tìm người khỏe phụ trách, người cầm vũ khí, người có nhiệm vụ kéo lục bình cài theo xuồng, người bơi xuồng… Trong một đêm, tất cả phải vượt qua sông sang đất Củ Chi. Khi có tàu chiến địch rọi đèn, phải ngồi im, không có lệnh không được làm ồn ào không được nhảy xuống sông, khi nào chiến đấu, khi nào nhảy xuống sông, đều có người điều khiển… Tất cả những công việc tổ chức vượt sông bằng ghe xuồng đều được phổ biến cho từng đơn vị. Mọi người đều tin tưởng vào tài xắp xếp tổ chức của anh Tư Hiếu (tên mọi người thường gọi anh Hai Thương).


 


 


 


CHUẨN BỊ VƯỢT SÔNG


 


Chị Ngân theo liên lạc tìm đến hầm Hai Thương, chị thật mừng khi nhận ra người quen cũ:


 


- Cậu Hai, cậu nhận ra con không?


 


- Con là Ngân, con má Tám bên Bến Súc đây mà, má con biết cậu Hai…


 


Thương ờ ờ… nhận đại chứ đầu óc lu bù nào có nhớ, lúc này còn thời giờ đâu mà thăm hỏi, Thương vào công việc ngay.


 


- Con ghi cho cậu đoàn bên ấy bao nhiêu người, tìm cho cậu người nào khỏe nhất phụ trách đi kèm với những người bị thương, ốm yếu. Cố gắng tìm bắt liên lạc với đơn vị nào ở gần khu vực, thông báo và chỉ dẫn cách thức cho họ cùng tập trung ra bờ sông, vượt khỏi vòng vây trong đêm mai.


 


Ngân vội vàng nói ;


 


- Tụi con vừa được mấy anh bên đơn vị cậu báo tin là chuẩn bị liền, con đã báo cho cánh bên phụ nữ tỉnh biết rồi, có gì đâu mà chuẩn bị, te tua tơi tả hết rồi, nay được tin có người dẫn đường ra khỏi vòng vây trận càn thì mừng hết biết, như được cứu sống trong lúc đang ngắc ngoái còn gì.


 


Lưỡng lự một lát, Ngân nói nhỏ:


 


- Cậu Hai, bên hầm tụi con có sáu người, đuối lắm rồi, đói bốn năm ngày nay, con sợ không còn đủ sức đi nữa.


 


Thương với bọc tay nải, cởi nút, lấy ra một bọc nhỏ nói:


 


- Đây, đưa cho bay gói bánh, mang về cứu đói cho anh chị em, lấy sức đêm mai vượt sông.


 


 Theo về tuổi Ngân cũng chỉ kém anh Hai Thương cỡ chục tuổi nhưng trong quan hệ công tác, các cô gái trẻ thường xưng hô với những anh chị lớn tuổi hơn là chú, dì, cô, cậu, xưng là con. Ngân mới 18 tuổi, cô đã vào công tác Ban Tuyên huấn tỉnh Bình Dương được hai năm, phụ trách văn thư đánh máy, cả làm liên lạc chuyển đưa tin tức.


 


Mấy ngày đầu, bên C9 (cơ quan Phụ nữ Bình Dương) còn ở chung bên hầm của Ban Tuyên huấn, sau đó tách ra sang khu địa đạo riêng. Đến ngày tập trung vượt sông, Ngân gặp lại đoàn Phụ nữ chỉ còn lại mấy người sống sót, bởi hầm bên ấy bị bom đánh trúng, mười mấy người đã hy sinh. Nay được tin bên anh Hai Thương tổ chức cho vượt vòng vây qua sông, họ tìm tới hầm có người định đưa họ thoát khỏi vòng vây, tìm được sự sống. Tìm không thầy hầm Hai Thương mà lại tới hầm bên Tuyên huấn, trong hoàn cảnh vô cùng tiều tụy, tơi tả vì vết thương vì trầy xước và mệt lả vì chịu đói đã lâu.


 


CÁI BỤNG BẦU


 


 


 


Đêm hôm ấy một cảnh tượng thật hiếm có diễn ra giữa trận càn.


 


Một toán người mò mẫm trong đêm tối tìm đường tới địa đạo A36 trú ẩn, vì hầm của họ đã sập gần hết, chơ vơ toàn đất và đất, chắc chắn khó tồn tại nổi một ngày càn nữa, không còn gì để ăn đã bốn năm ngày nay, chị em đói lả, quần áo tả tơi, người đầy đất, mà đúng là móc từ đất chui lên. Người tổ trưởng dẫn đầu trong đoàn lại là một chị ốm nhom mà đang mang cái bụng bầu khá to, áo rách rớt mất cả một bên vạt, lòi cả bụng ra. Cái bụng bầu khi loay hoay chui xuống hầm bị mắc kẹt không lọt, Thương nói như ra lệnh:


 


- Lùi lại cái đã.


 


Anh vội lấy lưỡi lê xén lớp đất quanh miệng hầm, nói đùa cho vui:


 


- Bộ muốn tăng thêm quân số hay sao mà xuống đây sanh. Cố để sang bên kia sông hãy ra nha con, sanh bây giờ kẹt dữ đó!


 


- Chưa sanh đâu anh Hai, còn lâu mà, em mới bầu được hơn bảy tháng.


 


Chị Năm Thu, người mang bụng bầu, là người lớn tuổi hơn cả, lại tháo vát nhanh nhẹn, đã mấy năm nay chị là đội trưởng đội sản suất và thu hoạch lúa cho đơn vị Hậu cần, dù lúc này bụng bầu to, anh em vẫn yêu cầu chị làm tổ trưởng, chị cùng một tốp chị em của mấy đơn vị khác sống sót, cùng cảnh ngộ hầm bị sập, vừa mới nhập vào cùng một đoàn, nghe được tin bên cánh anh Hai Thương đang tìm đường đưa người vượt vòng vây nên tìm đường tới đây.


 


Tìm được hầm của đơn vị bạn trú tạm là điều đáng mừng nhưng lại gây không ít khó khăn cho A36. Mọi người chỉ biết tìm đến chỗ để có thể được sống, để trú tạm chuẩn bị vượt vòng vây, nhưng địa đạo chỉ đủ cho người trong đơn vị trú, đâu có phải trên mặt đất mà cơi nới, nằm ngồi chỗ nào cũng được, mặt khác, việc liên lạc điện đài của A36 vẫn phải duy trì thường xuyên, hơn nữa trong hầm cũng không còn lương thực dự trữ. Trước cảnh đồng đội anh em như vậy, Thương xắp xếp tạm thời cứ để mấy người ở, còn lại cho sang khúc địa đạo dự trữ mà đơn vị Thương đã đào sẵn, cách đó hơn chục mét. Mọi người tạm thời nằm ngồi chật nêm vào nhau nhưng ai nấy yên tâm vững dạ khi gặp được tấm lòng che chở của đồng đội.


 


Trong lúc gian nguy, được lệnh vượt vòng vây ra khỏi trận càn, nhẽ ra ai còn sống, còn sức thì tự tìm cách tìm đường vượt vây, ai không đi nổi thì đành chịu, giữa cơn cùng khó, có người nào còn ở lại, còn dám xông pha tìm đường cưu mang cứu giúp mọi người đưa đi, người đó là vị thần cứu tinh, là vị anh hùng cao cả, là thần tượng ngưỡng mộ cho tất cả mọi người. Trong con mắt của những người đang đến trú tại hầm A36, anh Hai Thương, anh Kiển, Đo, Mới, Thôn… là những người anh hùng nhất, dũng cảm nhất. Khi thấy các anh, mọi người yên tâm tin tưởng rằng mình đã được cứu, mình còn được sống.


 


Ngân vô tình hỏi:


 


- Cậu Hai, anh Thôn, anh Mới ở đơn vị cậu, hôm rồi sang báo tin cho tụi con, nay sao không thấy hai anh ở đây?


 


Thương chợt rùng mình, anh lấy lại bình tĩnh trả lời:


 


- Hai đứa đó đi công tác rồi, đợt này không đi cùng đoàn.


 


Thương không muốn nói gì thêm nữa, cũng không muốn cho ai thấy thêm buồn đau mất mát vào lúc này. Anh mím chặt môi, nỗi đau nhói dội lên trong lòng.


 


Hai Thương ít nói mà hành động là chính. Người Nam bộ vốn nói ít làm nhiều, ngôn ngữ mộc mạc đơn giản vắn tắt, chân thật dễ chịu, lòng trung thành với cách mạng với Bác Hồ, chịu đựng gian khổ hy sinh và tinh thần chiến đấu dũng cảm thì khó nơi đâu trên trái đất này có được. Chính những đặc tính đó đã làm nên những kỳ tích trong lịch sử đấu tranh giành độc vẻ vang của dân tộc ta.


 


 


 


Thấy ai cũng đuối sức đói lả, Thương nói Đo:


 


- Mày lấy lon sữa vẫn để dành, pha ra bình to, mỗi người mấy ngụm uống tạm, cho lại sức cái đã.


 


Đo cầm bình dốc nước từ chai ra, khui hộp sữa đặc dốc vào, ngoáy đều, rồi rót chia cho mỗi người dưới nửa chén. Cảm động không nói được thành lời, đón chén sữa uống mà ngọt ngào mà ngon, thấm vào ruột gan mà thấm đượm nghĩa tình sâu nặng đến thế, những giọt sữa ngọt như dòng sữa mẹ cho đứa con đang khát lả, như giọt nước mát tưới cho cây sắp chết khô. Mọi người đón nhận tấm lòng của người anh, người đồng chí rưng rưng lệ. Trong cơn nguy nan, sự sống tưởng như không còn nữa, cái chết đã kề bên, những hớp sữa của tình đồng đội đồng chí ngấm vào lòng ngon ngọt mát lịm làm sao, thấm vào da thịt như hồi sinh trở lại, tinh thần, sức mạnh của lòng tin bừng dậy.


 


Chị Ngân thốt lên:


 


- Trời ơi, sữa ngon quá trời, uống sữa vào thấy khỏe hẳn người ra, cậu Hai, sao cậu Hai có sữa hay quá vậy?


 


- Sữa nào của cậu, sữa của mấy thằng Mỹ gởi tặng đấy.


 


- Sao vậy cậu Hai?


 


- Thì tụi tao đi lượm đồ hộp của Mỹ về, để dành đó.


 


Chị Năm Thu nghẹn ngào:


 


- Chúng em được tin bên đơn vị anh Hai đang tìm đường cho mọi người vượt vòng vây, định ráng chờ đến đêm mai, nhưng hầm bên ấy sạt lở hết rồi, trơ ra từng khúc, chỉ sáng ngày mai là bọn chúng khui ra, nếu không kịp qua bên này đêm nay, chắc gì ngày mai còn sống mà vượt sông! Gặp được anh Hai, chúng em chắc sống rồi. Em có còn thì con em mới được ra đời. Ba bốn năm nay chúng em xây dựng với nhau mà mỗi người một nơi, anh ấy ở bên quân chủ lực tỉnh, mỗi người một đơn vị, không ngờ nay mang bầu mà trúng ngay trận càn, mấy hôm rồi tưởng không ai còn sống sót qua nổi vì bom đạn quá trời quá đất, ngay ngày hôm qua, mấy chị em tưởng chết hết khi một chiếc xe ủi xúc trúng địa đạo. May mà chúng chỉ dũi đi qua một lần, không quay lại. Đất lấp kín cửa hầm, nên chúng không phát hiện ra, anh em ở trong hầm gần ngạt, cố chờ cho xe tăng qua rồi, moi đất cho thông hơi, ngồi chôn trong đất chờ trời tối, chui ra tìm đường sang đây!


 


Cô Hoa hiền lành bé nhỏ, lúc này cũng lên tiếng:


 


            - Chúng em hay được tin bên anh Hai đang tìm đường cho mọi người thoát khỏi vòng vây trận càn mà ai cũng khóc vì cảm động. Trong giờ phút cam go này lại có người cứu sống, thật là may mắn cho chúng em quá.


 


            Thương cười:


 


- Cứu gì, lo đưa nhau thoát ra khỏi đây sao cho an toàn thôi mà.


 


Thương cùng Đo, Kiển, tiếp tục đi tìm báo cho các đơn vị, chuẩn bị quân số, biết thời gian, địa điểm tập kết bên bờ sông.


 


 


 


NHỮNG CHUYẾN ĐÒ VƯỢT SÔNG TRONG ĐÊM


 


Khó khăn lắm, Thương mới cho tập hợp được một số anh chị còn khỏe, lãnh nhiệm vụ phụ trách và giao liên cho các đơn vị để phổ biến công việc vượt sông. Phổ biến những quy định, ám hiệu, cách thức sử lý mọi tình huống bất trắc xảy ra khi vượt sông. Người còn khỏe đi sát kèm dìu người yếu, người bị thương phòng ngất xỉu dọc đường, đi cặp men các bờ kênh nhỏ dẫn ra sông. Đường từ địa đạo băng qua cánh đồng ra đến bờ sông cũng phải xa đến hai cây số, ngoài việc nắm danh sách con số mỗi đoàn, Thương yêu cầu đoàn nào cũng cử những thanh niên khỏe, có súng đi trước trinh sát phía trước và cả phía sau đoàn. Mỗi người cách nhau chừng hai ba mét, giữ im lặng khi đi không được để lạc nhau.


 


 


 


Từ chập tối, tổ liên lạc của Thương cử hai người đi trước dò đường đề phòng lính phục kích như mấy bữa trước, còn Thương và Kiển nhanh nhẹn lao xuống dòng sông bơi qua bên kia tìm xuồng, đưa sang bên này. Dòng nước mát của con sông quê hương và mấy cọng lục bình vừa nhai vừa thấm vào lòng vào da thịt, như truyền thêm sức mạnh cho sức trai dẻo dai của những người con đất thép.


 


Thương đang bơi đến giữa sông thì đụng tàu chiến Mỹ. Vì vội vã khẩn trương và chủ quan nên anh không kịp căn giờ chờ cho tàu chiến chạy qua. Nhìn ánh đèn pha trên tàu quét gần tới, Thương lặn xuống sâu, một lúc sau, vừa nhoai lên thở, bất chợt tàu chiến địch ngay ở trước mặt, vội vàng Thương lặn ngụp xuống sâu. Đề phòng chân vịt loại tàu này cuộn chém rất mạnh, loạng quạng nhô lên đúng nó, tan xác như chơi, Thương níu chặt lấy mấybụi rong cỏ dưới đáy sông, nín thở thật lâu, chờ cho tàu vượt qua. Lúc sau nhoai lên, phải uống đến mấy ngụm nước vì ngạt. Tàu đã chạy qua khỏi, sóng đánh dồn dập, bóng tối lại bao phủ, an toàn cho Thương vượt qua, còn Kiển thì bơi đường nào không biết, nhưng Thương tin chắc Kiển còn nhanh nhẹn hơn con rái cá, vì khúc sông này là của anh ta.


 


 


 


Tổ trinh sát tìm đường đưa đoàn người qua sông lúc này là mấy anh em trong đơn vị A36, do Nguyễn Văn Thương phụ trách. Các anh em ở đơn vị khác cũng đã có một số rất ít tìm đựợc lối thoát ra khỏi vòng vây trận càn, nhưng những người còn lại, nhất là các chị phụ nữ thì còn khá đông. Đến lúc cam go căng thẳng này, ai còn ở lại với họ, ai là người còn chịu đứng ra tổ chức đưa họ vượt sông để thoát ra ngoài vòng vây thì người đó là anh hùng, là vị cứu tinh, là thần tượng, họ cảm phục và mang ơn. Các anh hành động không vì ơn nghĩa, cứu giúp, không vì nhiệm vụ, mà vì tấm lòng thương yêu đồng đội của người chiến sỹ cách mạng, họ không muốn mình sống khi nhìn thấy anh em đồng chí đồng đội nguy nan mà không xả thân lãnh trách nhiệm. Bởi việc đó chính là công việc của cách mạng mà hàng ngày hàng giờ họ đang làm.


 


 Thương nói với anh em:


 


- Tụi mình vốn có “phép tàng hình”, cho dù chúng vây cách nào cũng vượt qua, việc vận chuyển điện đài di chuyển ra khỏi trận càn này đối với chúng ta không khó, nhưng chúng ta hãy vì đồng đội, vì các đơn bị bạn còn có rất nhiều người trong các địa đạo. Vũ khí đã hết, lương thực không còn gì đã nhiều ngày nay rồi, chỉ cần mấy ngày nữa là chắc khó tồn tại, nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là phải đưa đoàn người này vượt qua sông nội trong một đêm nay, đó còn là lệnh của cấp trên giao cho chúng ta. Sẽ còn một số ít đồng chí thuộc đơn vị địa phương ở lại bám trụ không đi, còn thì tất cả đều theo chúng ta vượt sông, nên việc tổ chức đưa hàng trăm người qua sông hết sức khẩn trương và cẩn thận, đòi hỏi anh em đơn vị ta phải ráng hết sức lên.


 


Tám giờ tối, người của một số đơn vị theo liên lạc dồn ra phía bờ sông khá đông. Trong đêm tối, tốp ba bốn người, tốp bảy tám người, nằm rải rác từng cụm nép bên các bụi cây bên sông. Rất may làm sao đêm hôm ấy không đụng bọn phục kích. Có lẽ vì mấy đêm trước, tổ trinh sát của Thương ra bờ sông đều đụng địch, việc phục kích đã bị lộ và còn bị thiệt hại sinh mạng nên đêm nay chúng bỏ. Chỉ cần có tiếng súng nổ, chỉ cần một cú điện của bọn này báo về thì hàng trăm tấn bom và pháo nã về bờ sông, hàng trăm tàu chiến, trực thăng sẽ đổ quân xuống, kết cục sẽ ra sao đây. Những con người đi ra từ trong bom đạn tơi tả, sức đã gần cạn kiệt vì bom đạn, thuốc độc, vì đau thương cho đồng đội đã hy sinh, vì đói, nhất là chị em phụ nữ ở các cơ quan, nên chuyến hành quân lịch sử di chuyển tất cả những người còn lại trong trận càn Xêđaphôn vượt sông đêm nay thật là một chuyến đi đặc biệt.


 


 


 


Thương và Kiển bơi sang bên kia sông, tìm đến nơi có chiếc xuồng lớn, đã thấy một du kích ngồi chờ, nhận được ám hiệu, anh du kích đón Thương xuống. Thương nói nhỏ:


 


- Kiển đi cùng đồng chí ấy sang sông ngay, chú ý căn tàu chiến tuần tra, dặn dò kỹ anh em khi lên xuồng, ngụy trang và thực hiện đúng như kế hoạch đã bàn, tôi đi tìm thêm xuồng nữa.


 


Thương men theo bờ sông, tìm thấy được chiếc ghe nhỏ giấu trong bụi cỏ, vừa tính đẩy xuồng ra thì thấy dây xích cột chặt xuồng với gốc cây xăng máu bên bờ, ổ khóa to chắc chắn. Chắc chủ chiếc ghe này sợ mất nên khóa lại, trên xuồng có sẵn chèo và rựa, Không còn cách nào mở khóa, Thương thấy cây rựa trên xuồng, chặt gốc cây xăng máu gẫy gập, dỡ xích, mượn vắng mặt, lẹ làng đẩy xuồng qua sông.


 


Thương vừa cho xuồng nhỏ tới bờ thì đã thấy chiếc xuồng lớn chứa đầy người, do Kiển đưa sang, đang chờ trong cửa con rạch nhỏ, lục bình quấn kín cả xung quang, cành cây phủ lòa xòa trên thuyền. Kiển và Đo người đầu, người cuối xuồng đang chuẩn bị cho chuyến vượt sông đầu tiên, anh cho xuồng nhỏ ghé sát laị, nói khá lớn cho cả xuồng nghe:


 


- Tất cả nghe cho rõ đây: Các đồng chí mang vũ khí, khi nào thật cần thiết có lệnh mới được sử dụng; nếu bị địch phát hiện, được lệnh mới nhảy xuống sông bơi qua phía Củ Chi, lúc đó phải nhận chìm xuồng xuống sông, không được để địch phát hiện ra kế hoạch vượt sông của ta. Người khỏe đi kèm người yếu, mọi người chuẩn bị sẵn một cái bịch nilông đựng đồ, khi cần thiết làm phao, gác vũ khí lên, cái gì có thể làm phao đỡ cho khi bơi. Khi thuyền qua được bờ bên kia, lập tức tản vào các xóm ấp địa đạo, sẽ có người hướng dẫn nơi trú ẩn và đường đi, nhớ là im lặng, bình tĩnh và thật khẩn trương.


 


Tàu chiến trên sông đã xuất hiện từ xa, đèn sáng rực và những tia sáng chấp chới quét trên sông loang loáng. Trong đêm tối, trinh sát, do thám kiểu này thì ta không ngán, với những kinh nghiệm thiên biến vạn hóa trong đêm tối của các chiến sỹ cách mạng như cá dưới nước, như chim trên trời, quen làm bạn đồng hành với bóng đêm, thì cho dù địch có trăm phương ngàn kế, vũ khí có hiện đại đến đâu, chúng ta vẫn tồn tại và không ngừng phát triển. Chúng đã tuyên bố “đến một con chuột cũng không chạy thoát”, vòng vây Xêđaphôn xiết chặt là như thế; nhưng ngay lúc này đây hãy đợi xem, con người đang làm gì!


 


Chờ cho ánh đèn pha và tàu chiến vừa đi khỏi, con thuyền chở đầy người lao ra sông, cưỡi qua con sóng lớn của tàu chiến địch để lại. Thuyền nhẹ nhàng lướt trên mặt nước. Hai mươi người hồi hộp, căng thẳng, khẩn trương, tay chèo tay sào, tay gậy tay ván gỗ khỏa nước lại sau, mỗi người một tay, con thuyền lướt nhanh sang sông, rút ngắn khoảng cách với bờ bên kia. Dòng sông Sài Gòn ở khúc trung lưu này rộng chỉ khoảng gần hai trăm mét. Chưa đầy 10 phút sau, chuyến thuyền đầu tiên đã cặp bờ an toàn. Người lao lên trước, người dìu nhau bước lên sau, vội vàng, nhanh chóng biến vào bóng đêm và những lùm cây rậm bên sông. Mọi người vừa lên hết bờ thì đã thấy xuồng nhỏ của Thương ghé vào êm ru không một tiếng động. Thuyền nhỏ chỉ chở được sáu bảy người đã khẳm mấp mí nước. Hai con thuyền trong lúc này thật ý nghĩa vô cùng, nó còn giá trị hơn tất cả những con tàu lớn hiện đại bởi vì nó đang cứu sống cho bao nhiêu con người.


 


Thương phân công:


 


- Đo lên bờ lo thu xếp cho những người vừa dưới thuyền lên, tùy cơ ứng biến tình hình, phân tán lực lượng thật nhanh vào các xóm ấp, các hầm địa đạo trú ẩn, vì còn nhiều người sẽ tiếp tục được chuyển sang đây, sau đó ra đây chờ.


 


Thương và Kiển lại cho hai thuyền không lao thật nhanh sang sông khi tàu chiến địch vừa chạy qua. Chuyến thứ nhất đã trót lọt, với gần ba chục người đã ra khỏi vòng vây trận càn, lòng phấn chấn hẳn lên vì công việc vượt sông theo đúng như kế hoạch, cứ như thế này, trong đêm nay, chúng ta sẽ giải thoát được tất cả ra khỏi vòng vây. Thương không thấy mệt, dù mấy ngày nay, anh cũng như các anh em, ăn uống qua quýt miếng mỳ, ngọn rau, búp lục bình, hớp nước sông khi bơi qua bơi lại; cũng như con cá dưới sông, lo gì bụng đói, anh mừng vì mình đã làm được việc có ý nghĩa quan trọng, đưa đoàn người đưa anh em đồng chí mình vượt vòng vây nguy hiểm của trận càn Xêđaphôn khốc liệt.


 


           


 


ĐỤNG TRỰC THĂNG TRÊN SÔNG


 


Chuyến thứ ba của chiếc ghe nhỏ do Thương cầm chèo vừa lao ra sông được mấy con sào thì hai chiếc trực thăng từ phía bên Củ Chi lao tới. Thương biết ngay đó là trực thăng đi trinh sát dọc sông. Mấy ngày hôm trước đi trinh sát, anh em trong tổ A36 đã nắm được tình hình này, nhưng mấy chuyến vừa rồi mải mê lo căn tàu chiến đã đi qua trót lọt, không lường hết được việc máy bay trinh sát xuất hiện lúc nào nên chuyến này, thuyền đụng máy bay.


 


Thương kêu khá to:


 


- Máy bay trinh sát đấy, tất cả ngồi im không cử động, cúi áp sát xuống, bám chặt vào mạn thuyền, vín cành lá che kín cứ để thuyền trôi theo dòng nước.


 


Mọi người nghe theo, một thanh niên đang cầm sào, ép sát con sào vào mạn thuyền, Thương cũng ghì mái chèo nằm song song với mạn thuyền, còn một tay vín khóm lục bình che ốp lấy đuôi chiếc thuyền bé nhỏ. Hai ba người ngồi giữa nghe anh Thương hô, liền mỗi người một tay vin mấy cành cây xỏa ra gần kín mặt thuyền. Rất may là lúc còn trong lạch, Thương chạy lên bờ, nhanh tay chặt được hai ba cành cây đưa xuống thuyền để nguỵ trang, nếu không thì lúc này trơ vơ con thuyền có người ngồi đầy trên đó, tránh sao khỏi ánh đèn pha và con mắt của những tên lính đang quan sát rình rập, chỉ chực nhả đạn.


 


Chỉ một thoáng sau, ánh đèn pha trên trực thăng đã nhoang nhoáng quét qua quét lại. Thương thấy nóng ở hai bên mang tai, anh hô:


 


- Bình tĩnh, nằm im.


 


Chiếc trực thăng thứ hai bay tới, nó đã phát hiện ra lùm cây trôi trên sông. Ánh đèn pha rọi xuống, quét qua quét lại, rồi một tràng trung liên bắn xuống chéo chéo… bụp bụp… ngay mạn thuyền. Một tiếng: ối… kêu khẽ. Thương biết là có người bị thương. Anh nói lớn cho đủ nghe vì tiếng động cơ trực thăng đang phành phạch rất to:


 


- Cứ ngồi im, không ai được rời thuyền.


 


Một tiếng nổ: ùm… rất to, cả con thuyền bé nhỏ chao đảo như muốn chồm lên, lật úp, nước tràn vào lấp xấp, thuyền như muốn vỡ tung từng mảnh chìm xuống. Ngay sau đó chiếc trực thăng bay qua, ánh đèn pha cũng lướt qua hướng khác, trả lại bóng đêm cho con thuyền bé nhỏ tội nghiệp.


 


Thấy tình hình khá rồi, mọi người ngồi ngay dậy, nước đã tràn vào lấp sấp, hai người dùng tay tát nước ra, người vơ mảnh ván hắt té nước ra mau cứu con thuyền sắp chìm, hai mái chèo và con sào đạp nước mải miết, mải miết. Mọi người gồng mình như lấy sức mạnh vô hình nâng con thuyền, đưa con thuyền từ từ sang sông.


 


Trong cái không may vẫn còn cái may, bị đèn pha trực thăng phát hiện, bị hàng tràng trung liên, bị cả trái nổ bồi theo, nhưng có lẽ chúng chỉ nghi ngờ bụi cây có người và bắn hú hoạ, thải trái nổ qua loa như vậy, với một bụm cây, nếu có người bám vào thì cũng khó thoát chết khi có trái nổ, chúng có biết đâu rằng có cả một con thuyền trong lùm cây ấy và có tới bảy con người, cũng nhờ đấy mà thoát chết trong gang tấc.


 


Chỉ một người bị thương ở cánh tay do viên đạn bắn trúng, còn lại không ai làm sao, may mà con thuyền nhỏ, nếu lúc này mà là thuyền lớn hai chục người thì hẳn không thể thoát. Một anh thanh niên đạp nước bằng tấm ván, vừa thở vừa nói:


 


- Anh Hai, anh hay quá trời, anh bình tĩnh chỉ huy bọn em, nếu không tụi em đã nhảy xuống nước ngay sau loạt súng máy rồi, mà nhảy xuống thì sẽ chết vì trái nổ. Anh Hai, anh giỏi quá, nhiều kinh nghiệm, bố trí đâu đấy, chuyến này mà không có anh Hai, hẳn còn nhiều người phải hy sinh.


 


Một chị cũng nói theo:


 


- Nhờ có anh Hai giỏi mà chúng em thoát chết, thật chúng em không biết nói sao giờ!


 


- Nói gì nữa, ráng chuẩn bị lên bờ còn chạy, còn gian nan đang chờ chúng ta bên kia nữa.


 


 


 


CHUYẾN QUA SÔNG THỨ BẢY


 


Ngân và tốp các chị bên Hậu cần được xếp vào chuyến thứ bảy. Lệnh của Hai Thương là sau khi thuyền rời bờ, mọi người mới được tiếp tục tập trung ra bờ sông, tránh dồn người nhiều dễ bị lộ. Chưa thấy liên lạc quay lại đón, chị em nóng ruột chờ đợi, không ai dám chui lên khỏi địa đạo. Bụng đói đã quen chịu… chỉ thấy mệt rã chân tay khi chờ đợi. Những khuôn mặt hốc hác dính đầy đất, khắc khoải chờ mong và hy vọng.


 


Nắp hầm bỗng bật mở, có tiếng gọi: lên thôi, bám theo nhau đi, đừng để ai rớt lại.


 


Năm sáu người bước theo liên lạc băng qua cánh đồng. Thương đi trước trinh sát, yêu cầu người này đi cách người kia mấy mét đề phòng phục kích bất ngờ, cử một người đi sau cùng quan sát phía sau. Vừa đi vừa chạy, băng qua cánh đồng chỗ khô chỗ lội, lồi lõm nhấp nhô.


 


Trăng hạ tuần khuyết hơn phân nửa, nhưng cũng tỏa xuống mặt đất một luồng ánh sáng mờ mờ, Ngân đang bước nhanh bỗng chân đạp vật gì tròn tròn nhớt nhớt như hột vịt chị cầm lên, đúng rồi, nhưng lại nghi trứng thối, Ngân đập thử thấy trứng còn tươi, vội vàng lượm mấy hột bỏ vào túi vải. Thương quay lại giục:


 


- Lẹ lẹ mầy ơi, lo chạy đi đã, còn ở đó mà lượm…


 


- Con lượm vài hột để sang bên kia có trứng ăn.


 


Ngân lẩm bẩm nói mình nghe:


 


- Đói gần chết, thấy hột vịt ngon vầy không lượm sao được.


 


Dọc đường chạy, Ngân thấy xác người nằm chết la liệt vài chục mét lại thấy một xác người. Xác người chết đã lâu, trương sình thối rữa bốc mùi thật là kinh khủng. Trong đêm tối, có người đạp trúng cả xác người lùng bùng như đống sình thối rữa, xương trơ trắng hếu. Trong lúc nguy nan, không có tâm thần đâu mà khiếp sợ và thương xót cho những xác người xấu số nằm phơi không được chôn cất. Trong đau thương tàn khốc, hình như nỗi đau xót cho đồng loại và những giọt nước mắt đã rắn lại đã kết vón, kết thành trai thành đá, để không còn có thể ứa ra được nữa. Trên những gương mặt cũng đang đanh lại, khô đi vì khói bom đạn lửa và đói khát hàng chục ngay nay, hằn lên một sức sống mãnh liệt, một nghị lực mạnh mẽ thách thức với giam khổ, với bom đạn hiểm nguy.


 


 


 


Chuyến này hầu hết là phụ nữ, chỉ có ba thanh niên, trong đó có cái bụng bầu của chị Năm Thu.


 


 Thương nói với Ngân, Châu:


 


- Hai đứa tụi bay coi chừng, phụ kè bà ấy đừng để bả té trên thuyền nghe, không kịp đỡ sanh trên sông đâu.


 


Năm Thu nói ngay:


 


- Anh Hai yên tâm, em khỏe mà. Em ốm người nên coi bụng to vầy chứ chưa sanh đâu.


 


Năm Thu còn nhanh nhẹn, sự phấn chấn vì tin tưởng đã giúp chị không cảm thấy cái bầu làm cho mình nặng nề trong từng bước chạy. Nhưng để chắc chắn, chị vừa chạy vừa lấy hai tay bưng bụng, đỡ phía dưới giữ bụng khỏi bị sóc tưng, bị văng mạnh.


 


Thương vừa dẫn đường quan sát, vừa dặn dò mọi người chuẩn bị sẵn tinh thần khi vượt sông.


 


Ra tới bờ sông, Thương lệnh cho mọi người núp vào các bụi cây bụi cỏ chờ. Vừa nói xong, đã thấy bóng ánh đèn pha nhấp nhoáng của tàu chiến đi tuần trên sông. Mọi người ngồi im lìm, bóng đêm đang là bạn đồng hành với chúng ta, đèn pha của tàu tuần tiễu không thể biết ngay khúc sông này đêm nay đã xảy ra những việc gì. Cứ 15 hoặc 20 phút, tàu lại lượn một vòng, pha đèn chỉ thấy bóng đêm im lìm tĩnh lặng, chúng đâu có thể ngờ giữa những khoảng cách 15 phút ấy là một chuyến đò qua sông, chuyến đò chở đầy người lặng lẽ chỉ có tiếng khua nước, mải miết đưa thuyền lướt sang bờ bên kia, đưa con người trở về với cuộc sống, tiếp tục cuộc chiến đấu. Chuyến quay về thuyền nhẹ lướt dù chỉ một mái chèo, nhưng là tay chèo của những người chiến sỹ quả cảm, tinh thần nhân lên, niềm vui phấn chấn khi họ đã tìm được con đường sống cho mọi người, tất cả đã dồn thành sức mạnh, mạnh hơn cả những động cơ bao nhiêu sức ngựa, mạnh như sắt thép, vùng Tam giác sắt này kể cả ngọn cây, khí trời cũng thành thép, hai cánh tay chèo không ngơi, không biết mệt mỏi đang là những cánh tay thép đưa thuyền vượt sông.


 


Mười sáu phụ nữ, ba nam giới và Thương, vừa vặn hai mươi người đã sẵn sàng trên thuyền, con thuyền đăng cá của dân lúc này thật ý nghĩa biết bao. Hai thanh niên đang níu những khóm lục bình cột vào mạn thuyền. Cây lục bình ăn nước phù sa đỏ đẫm của đất miền Đông đưa xuống sông Sài Gòn, xanh tốt, cao gần sải tay che khuất mạn thuyền. Cây lục bình của quê hương thật gần gũi đáng yêu biết bao. Thương còn cầm rựa lên bờ chặt mấy cành cây chia cho mọi người. Con thuyền được ngụy trang đang đậu ngay cửa rạch, chuẩn bị vượt sông. Khi Thương thông báo cho mọi người cách thức đối phó nếu bị địch phát hiện lúc đang băng qua sông, mọi người im lặng, trong lòng không tránh khỏi lo sợ, nhưng ngay sau đó, Thương nói cho mọi người yên tâm:


 


Những chuyến trước, ta căn đúng lúc tàu chiến vừa tuần qua, thời gian ấy đủ cho thuyền ta bơi gấp được sang tới bờ bên kia, vì vậy ta cứ yên tâm, không sợ đụng địch giữa dòng đâu. Mọi người ngồi im, vì thuyền chở nặng, không được để thuyền chòng chành, người ngồi sát mạn thuyền có nhiệm vụ phụ bơi thuyền qua sông. Tất cả đều phải nghe theo sự điều khiển của tôi.


 


Ánh đèn pha đã xuất hiện từ xa, mọi người hồi hộp căng thẳng. Những cành cây trên thuyền, những khóm lục bình bên mạn thuyền quả là hữu hiệu, ánh đèn pha của tàu chiến quét qua quét lại, mọi người đã ngồi cả trên thuyền, nhìn rõ mặt xạm đen của nhau, rõ cả nét lo lắng trên từng ánh mắt. Nhưng từ trên tàu chiến, bọn chúng chỉ nhìn thấy cây cối um tùm im lặng, vì vậy ánh đèn pha cứ lướt qua, không một sự nghi ngờ, không một tiếng súng nổ.


 


Con thuyền bắt đầu lướt ra sông theo tay sào của Thương và tay chèo của một thanh niên thành thạo, con thuyền như một đám lùm lùm bụi cây cỏ lục bình kết dính đang trôi trên mặt sông.


 


Ngân ngồi sát chị Thu, hai người tay níu chặt như dựa vào nhau, truyền cho nhau sức mạnh, bởi cái đói đã lấy đi mất nhiều sức khỏe, lúc này đây, chỉ còn nghị lực và niềm tin khiến cho mọi người có đủ sức bước đi. Từ ngày hôm qua, khi chị em trong đơn vị tập trung sang hầm bên Hai Thương, được uống mỗi người nửa bát sữa và chứng kiến những người anh, người đồng chí thân thương, dũng cảm nhanh nhẹn, không ngại gian khổ hy sinh, tình nguyện ở lại tìm đường đưa họ thoát khỏi vòng vây, ai cũng xúc động cảm phục. Nếu còn ở lại đây, chắc chắn chỉ mấy ngày nữa trong cảnh bom đạn xe tăng cày xới, hơi độc hóa học, xăm moi, bơm nước tìm diệt của giặc, cảnh đói khát, bị thương, kiệt sức có lẽ sẽ chết hết. Niềm tin tưởng, niềm hy vọng còn sống đã khiến cho mọi người thêm sức mạnh, đầu óc sáng suốt trở lại, họ tin vào sự tháo vát tài ba của những con người dũng cảm, đang vì họ, vì sự sống của đồng đội mà xả thân đưa tất cả qua sông. Lúc này là chuyến đò thứ bảy, trên 150 người đã vượt qua sông ra khỏi vòng vây. Còn những chuyến nữa… Các anh đang gồng người lên, dồn hết sức lực cùng với con thuyền đưa người vượt vòng vây. Ngân nói nhỏ với chị Năm Thu:


 


- Cậu Hai giỏi thật, em thấy cậu tính toán xếp đặt đâu đấy, chu đáo quá chừng, nếu không có cậu Hai, đợt này chắc khó qua khỏi. Chị Năm, sau này sanh con, phải cho thằng nhỏ nhận cậu Hai là ba đỡ đầu nghen.


 


            Năm Thu xúc động:


 


            - Anh Hai là người anh hùng dũng cảm, tao coi ảnh là thần tượng, là vị cứu tinh của của tất cả mọi người ở đây. Chuyến đò này tới thứ bảy rồi mà còn thấy nhiều người nữa, từ chuyến thứ nhất tới giờ hơn cả trăm người rồi. Chúng ta thoát ra khỏi vòng vây trận càn này cũng nhờ anh Hai, nhờ các anh của đơn vị anh Hai Thương, anh Kiển, anh Thôn, anh Mới Đo… Các anh ấy dũng cảm và giỏi quá chừng.


 


            Day qua Hai Thương, chị nói to:


 


            - Em ổn rồi anh Hai, không sao đâu, con nhà nông lao động từ trong bụng mẹ, nó không dại gì ra sớm cực chết!


 


Thương nghe câu được câu mất, anh cũng nói cho vui:


 


- Ừ ráng đi qua sông đã rồi hãy chui ra nghe con, nằm yên trong đó cho êm, ra ngoài này nguy hiểm lắm đó, kẹt má mày dữ nghe con.


 


Mỗi người một tay, cả ván, cả gậy cả bàn tay khỏa nước phụ với mái chèo của Thương và một thanh niên khác, con thuyền lướt nhẹ trên sông Sài Gòn. Dòng sông quê hương quen thuộc, dòng nước ngọt ngào thân thương đang ôm ấp, che chở và đưa những người con ra khỏi cơn nguy nan, khỏi làn bom đạn đẫm máu của giặc thù. Vớt những giọt nước mát của quê hương uống rồi vã lên mặt, cảm giác khoan khoái trở lại như những ngày tự do bơi lội trên sông, giây phút thoáng quên đi trận càn khốc liệt. Thuyền chở nặng mà lướt đi êm ru, chỉ nghe tiếng nước khỏa nhẹ nhàng đều đặn, những cánh tay chèo chống mạnh mẽ, rẽ nước về phía sau.


 


Thuyền gần tới bờ thì tàu tuần tiễu lại thấy xuất hiện đằng xa, ánh đèn pha loang loáng, cả đoàn người trên xuồng nhìn ánh đèn lo lắng. Lợi dụng lúc ánh đèn đã lướt qua, Thương cố đẩy mạnh con sào vừa vặn cho thuyền cặp vào giữa lùm cây lòa xòa xuống mặt nước gần bờ, anh hô:


 


- Tất cả hãy ngồi im.


 


Ánh đèn pha quét ngang quét dọc loang loáng, mọi người nhìn rõ ánh mắt lo lắng của nhau, ánh mắt đang dõi theo con tàu đang rẽ sóng ngay giữa dòng sông.


 


Chỉ một phút sau, con tàu tuần tiễu của giặc đã lướt qua. Hai bên bờ vẫn im lìm. Những ánh đèn pha sáng chói kia làm sao nhìn thấu bóng đêm bao phủ giữa sông nước và những lùm cây bụi cỏ quê hương ta đang che chở ôm ấp rất chặt, rất kín lấy những người con.


 


Thương cho một thanh niên quay thuyền trở lại bờ bên kia. Anh dặn dò:


 


- Cậu cho thuyền sang, đón tiếp người sang sông, nếu thấy còn người mà thuyền khẳm rồi, phải quay sang chuyến nữa, đừng chở quá hai mươi người, đừng để ai muốn sang mà không có thuyền nghe chưa. Hai chuyến nữa vẫn còn kịp thời gian trước khi trời rạng sáng. Cậu nhớ kỹ việc căn tàu chiến trên sông đấy.


 


Người thanh niên trả lời:


 


- Anh Hai yên tâm, em đã đi cùng anh Hai một chuyến rồi, em biết mà.


 


 


 


                                    LÊN BỜ BÊN KIA SÔNG


 


Thương tiếp tục đưa đoàn người lên bờ. Đo đã báo cho Thương biết, quanh vùng này không còn hầm hào nào trú được người nữa, tất cả những người đã lên bờ, người nào yếu quá hay bị thương nặng thì được trú dưới hầm, còn lại hầu hết là đi tiếp, vì chính bên Củ Chi cũng đang bị càn. Ngay trong khu vực cánh đồng ấp Phú Hòa Đông cũng có hai cụm quân Mỹ đang đóng, chỉ cách bến đổ quân của ta hơn cây số. Trong đêm tối, lại lạ đường, đám chị em này liệu sẽ ra sao?


 


Mọi người đang quây bám theo Thương, anh vẫy tay, lao nhanh lên phía trước. Dáng cao cao, bước chân dài, bước chân giao liên của người chiến sỹ đã hàng chục năm băng lộ lội bưng, đối phó né tránh các trạm kiểm soát của địch, bước chân dày dạn kinh nghiệm đang dẫn dường cho mọi thoát hiểm, Nguyễn Văn Thương như một người chỉ huy đưa đoàn quân vượt vây, xông pha dũng cảm mưu trí, mọi người đang chạy theo anh, dựa vào anh tin cây. Đoàn người băng qua con đường lộ 15 cặp bờ sông Sài Gòn, tản vào dãy cây cối nhà cửa lụp xụp lưa thưa đổ nát. Thương gõ cửa một căn nhà nhỏ, không thấy ai ra mở cửa, chờ một lát, Thương gõ cửa mạnh hơn, cánh cửa từ từ hé ra, một ông già cất tiếng hỏi:


 


- Gì đó?


 


Nhìn thấy quá trời người, ông già hoảng sợ, toan thụt đầu vào đóng cửa. Thương chặn lại:


 


- Chúng tôi chạy từ Bến Cát sang đây, nhờ ông chỉ đường giúp cho mọi người ra khỏi khu vực địch đang đóng quân.


 


Ông già run cầm cập:


 


- Chúng đang càn quét quanh đây dữ lắm, tôi không biết chỗ nào cả.


 


Thương nói to dõng dạc:


 


- Chúng tôi là người của cách mạng, yêu cầu ông giúp đỡ, giữa đêm tối, chúng tôi chưa kịp trinh sát, nếu ông không dẫn đường, đoàn người dễ đụng địch phục kích, đụng cụm quân địch, ông hiểu không?


 


Bỗng từ trong nhà có hai thanh niên bước ra:


 


- Ông già không đi được đâu, để tôi dẫn đường.


 


Một anh nói:


 


- Để tôi chỉ đường, bên này cũng bị càn lớn lắm, nhà cửa cây cối cháy ngả bằng trụi hết, tôi cũng mới về hồi qua, tính đón ông già lên Sài Gòn mà ổng chưa chịu đi. Tôi biết nơi Mỹ đang đóng quân, chỉ cách đây hơn nửa cây số, mọi người tính đi tới đâu?


 


Thương nói:


 


- Anh đưa chúng tôi về hướng Gót Tràng.


 


Người thanh niên vẫy tay:


 


- Theo tôi.


 


Hai thanh niên đi trước, Thương và mọi người theo sau, vừa khom khom chạy, vừa bước nhanh vừa dìu nhau men theo bìa cây, băng qua đồng trống. Hơn hai chục người mải miết đi trong đêm tối. Nhìn thấy ánh đèn mờ mờ bên trái, người thanh niên chỉ:


 


- Chỗ đó là cụm quân Mỹ đang đóng, ta cứ đi thẳng hướng này sẽ an toàn


 


Đoàn người vội vã bước đi. Thương vừa đi cạnh chị Năm bụng bầu vừa dặn dò các chị:


 


   - Trời cũng sắp sáng rồi, ta cứ đi, đến đoạn nào trời gần sáng rõ thì tìm vào hầm hào nhà dân trú ẩn tạm, liên lạc với du kích địa phương, xem tình hình có thể được thì tranh thủ mua đồ, gặp gì mua nấy ăn cho đỡ đói cái đã, chắc chắn sẽ có liên lạc đưa chúng ta đi tiếp về căn cứ.


 


            Người thanh niên dừng lại nói:


 


- Đây là địa phận Gót Tràng, Củ Chi, phía trước là khu vực có nhà dân, các anh chị có thể vào liên lạc hay mua đồ được.


 


Thương nói:


 


- Rất cám ơn hai cậu, tốt lắm rồi, hai cậu có thể quay về được rồi.


 


Bầu trời đêm tĩnh mịch, tiếng dế, tiếng ếch nhái vọng lại như gần như xa, âm thanh quen thuộc của đồng quê bên tai thật ấm áp làm sao. Đã mười mấy ngày nay bom đạn tơi tả, người chết, côn trùng tiếng dế tiếng ếch nhái cũng tan biến cả, còn ai sống sót cũng đói cũng đuối sức, mặt mũi hốc hác xơ xác. Nhưng lúc này đây, niềm tin vào sự sống biến thành sức mạnh khiến họ bước đi vững vàng. Trên trời đã có hừng sáng phía đông, Thương đã liên lạc được với mấy người du kích địa phương, lo chỉ dẫn cho mọi người tìm nơi trú ẩn. Ngân và Châu lúc chạy dọc đường cũng vội vã túm được ít trái đậu bắp, cái ruột tượng hột vịt Ngân lượm được từ bên Bến Cát thấy ướt bét ngang người bốc mùi tanh rình, trứng bể gần hết, chỉ còn lại ba hột nguyên và mấy hột dập vỏ, chị vội tìm vào ven xóm đó tính cách luộc hột vịt.


 


Thương dặn dò mọi người xong, anh đưa cho Ngân tập tiền:


 


- Con Ngân mày cầm số tiền này, lát sáng, nhờ anh em du kích dẫn đường, tìm mua các thứ cần thiết cho mọi người, nhất là đồ ăn, gặp gì ăn được là mua mang theo. Nhớ canh chừng chăm sóc cho Năm Thu nghe.


 


Cậu Hai, cậu không đi cùng tụi con nữa sao?


 


Tao phải quay trở lại, còn nhiều việc lắm, sang được bên này là sống rồi, chỉ còn tìm nơi trú tạm, khi nào thấy yên lại về.


 


- Cậu Hai tin tưởng đi tụi con lo được mà.


 


Lại gần Năm Thu, Hai Thương vừa nói vừa cười:


 


- Chị Năm yên tâm và chuẩn bị sắp tới sanh cháu nghe, tìm liên lạc báo tin cho cha nó mừng, chúc chị sanh mẹ tròn con vuông và sanh con trai nghe.


 


Năm Thu mếu máo chùi nước mắt:


 


- Anh Hai, thật không biết nói sao cám ơn anh Hai bây giờ, sau này tôi sẽ kể mọi chuyện ngày hôm nay và anh Hai cho con tôi nghe.


 


Chị em cùng nhìn theo bóng Hai Thương, người chiến sỹ anh hùng dũng cảm, xông xáo ngang dọc, đưa đoàn người qua sông, cứu sống hàng trăm con người, những đồng đội đang đói lả, đang sắp bị bom đạn giết chết, lúc này tất cả đã được đưa qua sông, đã được cứu sống, lòng nghẹn ngào, nước mắt trào ra lan dài trên gò má bết đầy đất cát khói bom.


 


Thương quay trở lại phía bờ sông Phú Hòa Đông, đôi chân giao liên sải những bước dài gấp rút, chạy băng qua cánh đồng, qua những lùm cây xóm ấp, quay về đến bờ sông, lặng nhìn về phía ấp Phú Hoà Đông quen thuộc, nơi ấy đang có vợ con anh, có má Hai Kiều, anh nhớ cồn cào thằng con trai mới sanh mà anh chỉ gặp mặt nó một lần vào đêm đi công tác ghé qua. Lúc này dù đang ở rất gần, anh chỉ chạy mươi phút là có thể gặp mặt con trai, nhưng không có thời gian cho nó, anh phải qua sông ngay bây giờ. Bờ bên này không thấy có thuyền, anh bơi ngay sang sông.


 


Lên bờ, Thương nằm im quan sát tình hình, xác định phương hướng, anh chạy dọc bờ sông một đoạn nữa thì vừa nhìn thấy thuyền của Đo đang chuẩn bị vượt sông. Thương lại gần:


 


- Hết người chưa Đo?


 


- Không còn ai nữa anh Hai, đơn vị mình và mấy người này là chuyến cuối cùng, anh Hai xuống đây thôi.


 


- Chờ chút đã.


 


Thương quan sát hết lượt bên bờ sông, anh chạy ngược lại một đoạn, nằm xuống quan sát, nép đất, thấy im lặng, anh cất tiếng gọi nho nhỏ:


 


- Có còn ai nữa không?


 


Im lặng … Anh quay trở lại sông, đi xuống mé xuồng, lội dưới nước, đẩy con thuyển nhỏ thật mạnh ra sông, đu người nhấc bổng lên trên, con thuyển nhỏ nghiêng nhẹ một bên tiếp tục lao ra giữa dòng, anh khỏa nước bằng một cánh tay tiếp sức cho mái chèo, một tay vốc nước uống, xoa lên mặt đẫm mồ hôi, tâm trạng khoan khoái như chưa bao giờ thấy. Giờ đây anh mới thấy nhẹ cả người. Anh nằm vật ra xuồng vì lúc này mớithấm mệt, tự thưởng cho mình phút khoan khoái, hít khí trời đầy lồng ngực. Bao nhiêu tính toán lo toan sức lực anh dồn cho công việc quan trọng, mà công việc ấy đã thành công mỹ mãn. Thật may mắn làm sao đêm nay không có lính phục kích, không có pháo bắn như những đêm khác, nếu không thì đoàn người đêm nay sẽ ra sao, anh như muốn reo lên sung sướng. Hàng trăm con người đã thoát khỏi vòng vây trận càn khốc liệt, trận càn hủy diệt sự sống, xương máu của chúng ta đã đổ xuống quá nhiều. Nhưng làm sao chúng có thể tìm diệt được hết những người theo cách mạng, họ vẫn còn đang sống và tồn tại, rồi lực lượng sẽ nhân lên gấp nhiều lần. Lớp người này ngã xuống, có lớp khác nối theo, lớp cha trước lớp con sau, người dân miền Nam sinh ra và lớn lên trong khói lửa chiến tranh thì lại chính khói lửa chiến tranh đã cho ta dày dạn kinh nghiệm, chịu đựng gian khổ hy sinh, không bao giờ chịu khuất phục. Anh nhớ đến cha mẹ mình đã đổ máu hy sinh trong nhà tù cũng vì cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và chính anh đang nối tiếp bước. Tim anh nhói đau khi nghĩ đến Thôn và Mới, chuyến vượt sông này đã thành công lớn rồi các em ơi, chỉ tiếc rằng không có hai em cùng ngồi trên thuyền cùng anh Hai đưa máy móc điện đài của đơn vị mình di chuyển đến nơi khác. Thương cắn chặt môi xót xa thương tiếc hai người đồng chí!


 


Thương hỏi Đo:


 


- Tổng số bao nhiêu người qua sông vậy Đo?


 


- Bảy chuyến thuyền lớn là được hơn trăm rồi, tám chuyến xuồng nhỏ chắc khoảng năm chục, chắc được tất cả trăm sáu trăm bảy người đó anh Hai.


 


- Tao và Kiển ghi danh sách hồi hôm qua là 175 người, chắc khoảng đó.


 


- Có lẽ hơn đấy anh Hai ạ! em thấy có một số người hồi nãy mới chạy ra bờ sông, xin được đi theo, chắc con số hơn danh sách đã ghi đấy.


 


            Thương nói to:


 


            - Chúng ta thắng rồi, nhiêu đó người vượt sông ra khỏi vòng vây là chúng ta thắng rồi! Dù có mất mát hy sinh, nhưng như vậy là chúng ta còn tồn tại, là chúng ta đã chiến thắng rồi, Mỹ có càn nữa, bom đạn ngày mai có trút xuống bao nhiêu nữa thì cũng vô ích thôi, chúng ta vượt ra ngoài vòng vây này là thắng rồi.           


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bóc vỏ trái đất. Ký. Mã Thiện Đồng. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhớ anh Dương Đức Quảng - Châu La Việt 11.02.2020
Nhạc sỹ Nguyễn Thành, nhà thơ Tạ Hữu Yên - Không thể nói trời không xanh hơn…. - Châu La Việt 11.02.2020
Rượu với văn chương (2) - Trần Thanh Phương 07.02.2020
Một tháng tôi làm công tác Đảng - Tạ Duy Anh 04.02.2020
Súng đã nổ trong buổi chiều im lặng - Vũ Hữu Định 02.02.2020
Học trong bụng mẹ - Trần Quốc Toàn 02.02.2020
Một ngày về Tây Yên Tử - Nguyễn Hữu Sơn 18.01.2020
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
xem thêm »