tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29940126
15.12.2008
Trần Huyền Trang
Đại đường Tây vực ký (3)

 TỪ NƯỚC A KỲ NI


 ĐẾN THỦY THÀNH TỐ DIỆP 


 Căn cứ sách “Từ Ân truyện - quyển I và quyển II ” thì Sư Huyền Trang được vua nước Cao Xương viết thư giới thiệu với khả hãn nước Tây Đột Quyết, cũng như viết thư giới thiệu với vua chúa các nước trên đường đi thỉnh kinh. (Thời bấy giờ họ Khúc làm vua nước Cao Xương có quan hệ thông gia với họ A Sử  Na nước Tây Đột Quyết. Các nước Cao Xương và Tây Đột Quyết đều thần phục nước Đột Quyết ). Huyền Trang còn được khả hãn Thống Diệp Hộ tại Thủy thành Tố Diệp nhiệt tình tiếp đãi.


        Hiển nhiên, Huyền Trang Tây hành, được người Đột Quyết giúp đỡ và bảo bọc. Sở dĩ Ngài đi qua nước Bạt Lộc Già rồi theo hướng Tây Bắc, đánh một vòng đến thủy thành Tố Diệp xa xôi rồi mới đi bộ về phía Nam, có lẽ là ngài được khả hãn Tây Đột Quyết giữ lại chơi hơi lâu.


Điều đó cho biết rằng cống hiến của các dân tộc du mục trong sự nghiệp giao lưu văn hóa Trung Quốc - Tây Vực là to lớn vậy.


                                       


NƯỚC A KỲ NI


(AGNI)


Rời Cao Xương(1) cố địa bắt đầu vào nước gọi là A Kỳ Ni(2), xưa gọi là nước Yên Kỳ (Agni).


Nước Agni, chiều đông tây dài hơn sáu trăm dặm, chiều nam bắc dài hơn bốn trăm dặm. Chu vi đại đô thành dài sáu bảy dặm. Bốn bề dựa vào núi, đường đi hiểm trở, dễ việc phòng thủ. Sông suối chằng chịt thuận lợi cho việc dẫn thủy nhập điền, Thổ nhưỡng thích hợp với các loại cây trồng : lúa mì, lúa mùa, lúa mạch, hương táo, bồ đào, lê, hoa hồng. Khí hậu ôn hòa, phong tục chơn chất. Văn tự là chữ Ấn Độ(3) có phần thêm bớt chút ít. Y phục bằng len dạ, tóc cắt ngắn, đầu trần, không quấn khăn. Tiền tệ có tiền vàng, tiền bạc, tiền đồng lẻ(4). Nhà vua là người bản xứ, dũng mà ít mưu, thích khoe khoang. Nước thiếu kỷ cương, pháp luật không nghiêm.


Già lam(5)(Chùa) có mười mấy ngôi, tăng(6) đồ khoảng hai ngàn người, theo phái Tiểu thừa(7) thuyết Nhất Thiết hữu bộ(8) . Kinh sách luật nghi ở đây theo An Độ cho nên người ta nghiên cứu học tập đều dùng kinh sách nguyên văn An Độ.


Tín đồ tuân thủ giới, hạnh, luật, nghi(9) giữ mình trong sạch, siêng năng tu trì. Song không ăn chay mà ăn cả thịt, cá miễn là tam tịnh(10) theo Tiểu thừa tiệm giáo(11).


Theo hướng đông nam mà đi hơn hai trăm dặm, trèo qua một quả núi nhỏ, vượt qua hai con sông to thì gặp một vùng đất bằng phẳng, đi tiếp khoảng bảy trăm dặm nữa đến nước Khuất Chi.


          ___________________________________________________


Chú thích:


1. Cao Xương: tên gọi vùng đất bao gồm mấy mươi thành trì thuộc Tây Vực đại quốc nay là thung lũng Thổ Lỗ Phiên tỉnh Tân Cương. Sách “Tân Đường thư” (Cao Xương truyện ) viết : “ Cao Xương ở phía tây kinh sư, cách kinh sư trên 4.000 dặm, chiều ngang 800 dặm, chiều dọc 500 dặm. Nước Cao Xương gồm 21 thành, kinh đô là thành Giao Hà. Vào năm Trinh Quán thứ 14 ( năm 640 ), nước Cao Xương bị nhà Đường diệt. Sách này soạn sau khi nước Cao Xương bị diệt nên mới gọi là cố địa.


2. A Kỳ Ni : còn gọi là Yên Kỳ, Ô Kỳ, Ô Triền, Ý Ni. Phiên âm từ tiếng Phạn Agni, nghĩa là lửa, có thể đây là tên một vị thần lửa trong thần thoại An Độ cổ đại. Địa danh này có khả năng tên là Yên Kỳ đúng hơn là A Kỳ Ni, gốc là chữ Kiếp Lộ (Argi: nghĩa là lửa). Phân tích ngôn ngữ thì chữ Argi gọi là Yên Kỳ theo sử nhà Hán. Trong “Đại Đường Tây Vực ký” Huyền Trang phỏng theo âm Argi (lửa) rồi phụ chữ Phạn, không đủ tin”. (xem  Lâm Mai Thôn trong sách “Kiếp Lộ văn thư thích địa” trang 78”


Nước A Kỳ Ni bao gồm khu tự trị dân tộc Hồi thuộc huyện Yên Kỳ và vùng phụ cận thuộc tỉnh Tân Cương ngày nay là một khu vực xung yếu phía bắc của “Con đường tơ lụa”. Phía tây thông với rặng Thiên Sơn tại lưu vực sông Du Lặc Đô Tư, lại giáp lưu vực sông Y Lê phía đông, kéo đến địa khu sông bác Tư Đằng. Thời Hán Đường, nước A Kỳ Ni (Yên Kỳ) cùng các nước Xa Sư (Cao Xương), Quy Tư, Sơ Lặc đồng loạt xưng hùng ở bắc đạo Tây Vực, đồng thời là một trong các trung tâm văn hóa sáng lạn của vùng Tây vực cổ đại.


Qua nhiều triều đại đến nay di tích đô thành nước A Kỳ Ni không xác định được. Tác giả Tuệ Lâm trong sách : “Âm nghĩa” quyển 82 viết : “Nước A Kỳ Ni là nước đầu tiên phía tây hai sa mạc... tức là một trấn trong An Tây trấn, cách An Tây 700 dặm về phía tây. Thời Hán các thành Lâu Lan, Thiện Thiện, Nguy Nhan, Úy Lê đều thuộc vùng này. Hoặc dời đô đổi ấp, hoặc ở thành này hoặc cư trú vùng kia, hoặc tùy chúa mà đặt tên, hoặc tiêu diệt lẫn nhau nên có  nhiều tên ... đều ở một nơi nay đã thành bình địa.”


Tác giả Hoàng Văn Bật cho rằng : “ Thời Đường, thủ đô nước Yên Kỳ có quy mô tương đương với miêu thuật của Huyền Trang  (xem Hoàng Văn Bật trong tác phẩm : “Luận Nghiệp” trang 249).


3. Dân tộc nói tiếng Đột Quyết: Dân Đột Quyết theo đạo Hồi, trước kia sống rải rác rồi sau định cư ở Tân Cương, chịu ảnh hưởng văn hóa và ngôn ngữ An Au, trong đó có nước A Kỳ Ni (Yên Kỳ). Kết quả khảo cổ phát hiện từ cuối thế kỷ 19 đến nay đã chứng thực điều đó. Người Yên Kỳ cổ đại sử dụng phương ngữ Thổ Hỏa La thuộc ngữ hệ An Au. Ngôn ngữ Thổ Hỏa La với  ngôn ngữ Phạn của An Độ có cùng nguồn gốc xa xưa nên Huyền Trang viết rằng văn tự nước A Kỳ Ni  là chữ An Độ có phần thêm bớt.                                             [Tr. 4]


4. Tiền lẻ: Huyền Trang đi về phương Tây, qua các xứ phần lớn sử dụng các loại tiền vàng, tiền bạc, tiền đồng. Sách “Từ  An truyện” ghi chép rằng vua nước Cao Xương tặng Huyền Trang ba vạn tiền bằng bạc. Các nước sử dụng các loại tiền trên, ngoài A Kỳ Ni, còn có các nước Khuất Chi, Đổ Hoá La, Già Tất Thí, Ba Lạt Tư. Tiền vàng, tiền bạc lúc bấy giờ truyền đến từ các nước lớn như Ấn Độ, Ba Tư, Bái Chiêm Đình. Hiện đại, tại các vùng Thổ Lỗ Phiên, Khố Xa ở Tân Cương đều phát hiện nhiều tiền bạc của Vương triều Tát Sang ở Ba Tư và tiền vàng của đế quốc Đông La Mã vào thế kỷ thứ 6, 7. riêng tiền đồng lẻ có khả năng là của nước Qui Tư (Khuất Chi ) trong phạm vi Tân Cương, tự đúc loại tiền ngũ thù làm tiền phụ. Tiền đồng lẻ hình tròn, lỗ vuông nhỏ, ngoài có viền, trong rỗng dày 0,7 – 1,8mm. (xem Trương Bình trong “Ngũ thù chú tệ” trang 34). Từ Tây Á, Tiểu Á đến Tân Cương một loại tiền tệ cùng lưu thông, thể hiện vùng đất này đã giao lưu kinh tế với các nước phồn vinh ngoại quốc.


5. Già lam: Tiếng Phạn Sangharama phiên âm đầy đủ là:Tăng già lam ma, Tăng già la ma, Tăng già lam có nghĩa là chúng viên (vườn chung), thường dịch là Tăng viên, Tăng viện. Sư Huyền Ứng trong sách “Âm nghĩa - Quyển 1” viết: “Tăng già lam, ngày xưa dịch “ thôn “, là sai. Tăng già lam nghĩa là chúng viên mới thật đúng”. Trước kia đầu tiên Tăng già lam dùng chỉ nơi ăn ở của người đi tu, về sau bao quát cả khuôn viên, vật kiến trúc bên trong tự viện.


6. Tăng : gọi tắt của từ Tăng già, phiên âm tiếng Phạn Sangha, nghĩa là hòa, chúng. Nguyên từ này chỉ cả đoàn thể tăng nhân. Thông thường có từ 4 tỳ kheo trở lên. Những dịch giả mới thì cho là từ 3 người trở lên.  Sách “Trí độ luận- Quyển 3” viết  : Tăng già  chỉ số đông, nhiều Tỳ kheo hợp lại một chỗ, thì gọi là Tăng già. Ngày nay, phần lớn dùng chỉ riêng người tu đạo Phật mà không phải chỉ chung chung là tập thể tu hành.


7. Tiểu thừa : Thế kỷ thứ I công nguyên sau khi phái Phật giáo Đại Thừa lưu hành, thì Phật giáo nguyên thủy và một bộ phận giáo phái Phật Giáo bị gọi biếm là “Tiểu thừa” (Phạn : Hinayana) – giới học thuật hiện đại sử dụng từ ấy song không phải theo ý gọi biếm như xưa.


8. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ : là một trong hai bộ phái Tiểu Thừa. Gọi tắt là Hữu bộ, hoặc “thuyết Nhân bộ”, chủ yếu là “Thuyết Nhất Thiết Hữu ”, bao quát hai phương diện :


         - Thứ nhất : Nhất thiết “pháp”, tức là quy nạp tất cả các sự vật và hiện tượng là “hữu vi pháp” với siêu thời không: không sinh, không diệt, không biến hóa là “vô vi pháp” đều có thực thể gọi là pháp hằng hữu.


         -  Thứ hai : nhất thiết “thời” tức là quá khứ, hiện tại, vị lai chỉ là một dạng, đều có thực thể.


9. Giới : ngũ giới : sát sinh, tà dâm, trộm cắp, nói bậy, uống rượu, là 5 việc cấm làm.


     Hạnh : sửa mình trong sạch để thờ Phật, gọi là tu hạnh.


     Luật : khuôn phép người tu đạo Phậtphải theo.


     Nghi : nghi lễ  người tu đạo Phật phải thực hành.


1. Tam tịnh : tức là ba loại tịnh nhục. Phật giáo Tiểu thừa cho phép tăng đồ ăn các loại thịt. Kinh “Thập tụng luật” quyển 34 viết : “Ta cho phép ăn ba loại tịnh nhục. Ba là thế nào ? Là không thấy, không nghe, không nghi. Người không thấy là không tự mắt thấy người ta giết con vật ấy. Người không nghe là không từng nghe người đáng tin nào nói là đã giết con vật ấy. Người không nghi là người giết mổ, phát từ tâm không giết con vật ấy”.


Về sau còn có thuyết “Ngũ chủng tịnh nhục” là ngoài tam tịnh còn thêm : tự tử và điểu tàn ( chỉ thịt các loài chim đã chết)”.


11. Tiệm giáo : chỉ phái Phật giáo Tiểu thừa, khác với “đốn giáo”. Theo giáo nghĩa phái Phật giáo Đại thừa phải qua nhiều kiếp tu hành mới thoát ra khỏi sinh tử gọi là Tiệm giáo. Còn tu thành chánh quả ngay gọi là Đốn giáo.   


                      


                NƯỚC KHUẤT CHI       


  Nước Khuất Chi(1), chiều đông tây dài hơn một ngàn dặm, chiều nam bắc dài hơn sáu trăm dặm. Chu vi đại đô thành dài mười bảy , mười tám dặm. Đất đai thích hợp các loại cây trồng : lúa mì, lúa mạch, lúa canh, lúa đạo(2). Sản xuất bồ đào, thạch lựu, lê, hoa hồng, đào, hạnh. Khoáng sản có : vàng, đồng, thiếc, sắt, chì. Khí hậu ôn hòa, phong tục chơn chất. văn tự bằng chữ An Độ cải biến. Âm nhạc Khuất Chi(3)   trình độ đặc biệt cao hơn các nước khác, y phục bằng vải dệt từ lông lạc đà, tóc cắt ngắn, đầu đội khăn. Tiền tệ có tiền vàng, tiền bạc, tiền đồng lẻ. Nhà vua người dân tộc Khuất Chi, kém trí mưu, bị quyền thần kèm chế.


Dân tộc ở đây có tục sinh được con trai thì dùng ván gỗ áp đầu, muốn đỉnh đầu trẻ không tròn.


Chùa hơn trăm ngôi, tăng đồ hơn năm nghìn người, theo thuyết Nhất Thiết Hữu bộ phái Tiểu thừa. Kinh, giáo, luật, nghi theo Phật giáo Ấn Độ. Người học đạo trực tiếp đọc Kinh sách chữ Ấn Độ(4). Giới tăng đồ đương nhiên tu theo thuyết Tiệm Giáo(5) từ từ từng giai đoạn, ăn cả thịt theo thuyết Tam tịnh(6). Người ta nghiên cứu kinh Phật, giữ thân trong sạch là điều mà người ở đây cho là chính yếu.


__________________________________________________


Chú thích:                                                     


(1)  Khuất Chi : còn gọi Quy Tư, Khuất Tỳ, Cưu Tư, Khâu Tư, Khuất Tư, Khổ Tiên, Khúc Tiên, Khổ Xoa. Ngôn ngữ Quy Tư cổ đại là Kutsi, chữ Phạn là Kuci, nay xưng là Khố Xa. Nước ấy nay là vùng đất thuộc huyện Khố Xa và vùng phụ cận thuộc tỉnh Tân Cương. Nhà Hán sau khi thông với Tây Vực, thì sáp nhập nước Quy Tư thuộc vào Tây Vực Đô hộ phủ. Năm Trinh Quán thứ 22 ( năm 648 ), nước Quy Tư cùng với các nước Vu Điền, Sơ Lặc, Yên Kỳ ( hoặc Túy Diệp) đồng loạt thuộc vào An Tây tứ trấn của nhà Đường. Nước Khuất Chi (Qui Tư) nơi phân nhánh của “ con đường tơ lụa “ dưới chân núi Thiên Sơn nên là địa thế xung yếu trong giao lưu kinh tế và là nơi dung hợp văn hóa An Độ với văn hóa Hán. Thời Đường, tên thủ đô nước Khuất Chi là Y La Lô. Di chỉ Y La Lô  ngày nay là thành cổ Ba Lãng nằm cách thành Khố Xa tỉnh Tân Cương 3km về phía đông.


(2) Lúa canh : một loại lúa chín muộn, ít nhựa.


      Lúa đạo   : lúa nước, cấy 2 vụ mỗi  năm


(3) Âm nhạc Khuất Chi : âm nhạc Khuất Chi rất nổi tiếng, điều ấy có liên quan mật thiết với vị trí địa lý của nước này vốn là cái nút cổ chai giao lưu đông tây. Am nhạc Trung nguyên từ phía đông truyền đến các dân tộc Tây Vực tập trung ở Qui Tư nên âm nhạc ở đấy rất thịnh hành. Thời sơ Tùy, định chế 7 bộ nhạc, đến niên hiệu Đại Nghiệp (Tùy Dượng Đế) phát triển thành 9 bộ nhạc, trong đó có âm nhạc của các nước Tây Vực như : Thiên Trúc, An Quốc, Qui Tư, Sơ Lặc, Khang Quốc, Đột Quyết. Nhạc của Qui Tư, cũng rất thịnh hành ở Trung nguyên. Sách “Tùy Thư – thiên Am nhạc chí “ viết : “Đến thời Tùy có 3 bộ : “Tây quốc Quy Tư”, “Tề triều Qui Tư”, “Thổ Qui Tư”. Niên hiệu Khai Hoàng, nhạc khí Quy Tư rất phổ biến ở làng thôn nên gọi là Lý Hãn”. Sách “Thông Điển - Nhạc lục - Thanh nhạc” viết: “Từ nhà Châu Tùy đến nay, có đến mấy trăm bài nhạc dây, phần nhiều dùng nhạc Tây Lương, nhạc trống, còn múa thì phần nhiều dùng nhạc Quy Tư”. Sách “Tây Dương Tạp trở - Ngữ tư “ viết: “ Huyền Tông thường khảo xét các vương. Ninh vương thường vào mùa hạ toát mồ hôi căn da bịt trống theo sách Nhạc phổ nước Quy Tư).


(4) Chữ An Độ : vùng Khuất Chi thông dụng tiếng “At phương ngôn” thuộc ngôn ngữ  “Thổ hỏa la” nằm trong ngữ hệ Ấn Âu. Chữ Ất phương ngôn và chữ An Độ có cùng nguồn gốc thời xa xưa nên Huyền Trang ghi như thế.


(5),(6)Tiệm giáo, Tam tịnh : xem chú thích nước A Kỳ Ni.


(còn tiếp)


Nguồn: Đại đường tây vực ký. Trần Huyền Trang. Tiến sỹ Lê Sơn dịch, gửi  www.trieuxuan.info


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »