tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31379908
Truyện ngắn
14.01.2020
Ngọc Toàn
Ngọc đá nước Việt


 I-


Cuối năm Mậu Thân (1788), vào đến Thăng Long, ngay buổi đầu gặp vua Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị đưa ra yêu cầu của hắn:


- Vua chúng tôi là Càn Long Hoàng Đế muốn mượn Quốc vương hai vật quý là ngọc tị hỏa[1] của nhà vua và kì thạch của chúa Trịnh để xem cho biết.


Vua Lê Chiêu Thống vốn ươn hèn lại đụt khẩu không biết trả lời ra sao, ấp a ấp úng:


- Cái đó… cái đó…


Lê Hân, người hầu cận bên cạnh nhà vua nói hộ:


- Cái đó khó chiều ý được đại nhân. Ngọc tị hỏa là báu vật của Đại Việt, mỗi khi mang ra dùng, nhà vua phải trai giới ba ngày và vào Thái miếu xin tổ tông cho phép. Còn đá thiêng ở phủ chúa Trịnh cao tới hai trượng, to như một trái núi nhỏ, làm sao mà mang đi được? Tốt nhất là đại nhân mời vua Càn Long sang đây chiêm ngưỡng.


Tôn Sĩ Nghị tái mặt:


- Ông là ai mà dám nói ngang hàng với ta?


- Ông là tôi của vua phương Bắc, còn ta là tôi của vua phương Nam, chỗ đứng ngang hàng với nhau trên cùng một cái bệ.


- Ông nói bậy, vua của ta là Thiên tử, còn vua Lê chỉ là vua chư hầu.


- Ông chớ quên quốc thư của vua Càn Long đã gửi, nói rõ tình bang giao giữa hai nước nên cho quân sang đây giúp đỡ vua Lê đánh dẹp quân Tây Sơn. Có chỗ nào nói là Thiên tử và chư hầu đâu?


Tôn Sĩ Nghị cứng họng. Hắn đe đọa:


- Ta mang sang đây hai mươi vạn quân và chín vạn dân phu, muốn mượn hai vật đó mà không được hay sao? Nếu ta bỏ về, quân Tây Sơn đến thì ngọc, đá tan tành. Liệu các ngươi có giữ làm của riêng được hay không?


Sầm Nghi Đống đứng sau Tôn Sĩ Nghị hầm hầm tức giận. Gã muốn dùng sức mạnh dọa nạt triều đình nhà Lê, nhưng nhìn thấy các võ sĩ Đại Việt khoanh tay trước ngực, chằm chằm nhìn mà thấy chờn chợn. Sầm Nghi Đống không muốn bị hạ nhục một lần nữa, cách đây một khắc đã bị một võ sĩ nhà Lê chỉ bé bằng nửa cơ thể gã dạy cho bài học về võ nghệ.


Theo sau Tôn Sĩ Nghị, gã nghênh ngang vác lang nha bổng[2] bước qua cửa Ngọ môn vào Hoàng thành. Một võ sĩ người Việt yêu cầu gã, muốn vào cầu kiến vua Lê phải bỏ lại khí giới. Sầm Nghi Đống quát lên một tiếng và phang ngay lang nha bổng vào người lính. Với cái thân hình nặng gần hai trăm năm mươi cân[3] và chiếc gậy nặng sáu mươi cân bằng sắt, gã muốn đánh bẹp người lính để giương oai. Võ sĩ người Việt cười nhạt, né bổng, tiến sát vào Sầm Nghi Đống, tung ra một nhát kiếm thật nhanh vào mặt gã. Sầm Nghi Đống lùi lại, đối thủ nhảy đứng lên chiếc gậy. Lang nha bổng oằn xuống. Để cứu mạng, gã phải buông vũ khí. Viên võ sĩ tra gươm vào vỏ, rồi hai tay cầm ngang lang nha bổng theo thế võ tề mi, tươi cười đưa trả:


- Cảm ơn tướng quân đã nhẹ tay!


Sầm Nghi Đống tái mặt. Chiếc mặt bự đầy những múi thịt giật giật từng hồi. Gã hậm hực giằng lấy vũ khí và biết rằng nếu đánh nữa thì càng mang thêm nhục. Gã tự hỏi, một viên võ sĩ mà võ nghệ còn như thế thì các tướng của Đại Việt sẽ mạnh đến thế nào?


Vua Lê sợ bọn Tôn Sĩ Nghị nổi giận rút quân về thì cái họa Tây Sơn ra Bắc lần nữa sẽ đạp đổ cái ngai vàng của ông ta, nên run run nói:


- Xin các đại nhân về để tôi trai giới ba ngày rồi cho các ông mượn ngọc tị hỏa. Còn kì thạch, tôi sẽ cho người đưa các ông sang phủ chúa Trịnh bây giờ.


Tôn Sĩ Nghị ra khỏi cung vua Lê thì đã có kẻ đứng ngoài cửa Ngọ môn đón hắn. Đó là Nguyễn Công Tạc, tên lý trưởng cũ của làng Thụy Khuê. Tên Tạc có một cái lai lịch dơ bẩn. Cha y là ác bá ức hiếp, bóc lột người nghèo. Quận He Nguyễn Hữu Cầu bắt sống, cho lập công đường ở bờ sông kể tội, chặt đầu cắm sào trên một chiếc bè nứa trôi sông để răn đe những tên cường hào khác. Nguyễn Công Tạc ăn chơi lêu lổng, theo Đặng Mậu Lân là em ruột Tuyên phi Đặng Thị Huệ, cướp bóc giữa kinh thành. Y được Đặng Mậu Lân cho làm lý trưởng Thụy Khuê. Khi Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ ra Bắc trừng phạt chúa Trịnh, Nguyễn Công Tạc biến mất. Y chờ thời. Tôn Sĩ Nghị đến Thăng Long, hắn thu thập những loại người như Nguyễn Công Tạc làm chỉ điểm cho quân Thanh.


 II -


Nhà sư Nguyễn Minh Không được vua Lý phong là Lý Quốc Sư, cho lập chùa cùng tên ở huyện Thọ Xương, giữa Thăng Long. Nhà sư thường đưa học trò đi du ngoạn. Khi đến Đông Triều, Lý Quốc Sư tìm được một tảng đá kì dị nơi lưng chừng núi. Đá cao hai trượng, nặng vài ngàn cân. Nhà sư sờ vào hòn đá, nó thu nhỏ lại chỉ còn cao hai thước. Ông ném chiếc nón tu lờ đang đội xuống sông rồi nhẹ nhàng đặt đá lên trên. Ông đi thuyền đến đâu, nón lướt sóng bơi theo đến đó.


Tảng đá vừa đặt giữa sân chùa Lý Quốc Sư, nó hiện nguyên hình, rêu phong cổ kính. Màu rêu nâu đỏ mượt như nhung, giống thứ rêu trên đỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ khe đá nhô ra những cây thông La Hán nhỏ xíu và có tất cả hai mươi mốt hang động. Khi trời nồm đá thu hơi nước, khi trời hanh những cái hang nhả ra trông như khói tỏa mây tuôn. Lâu ngày, người ta phát hiện thêm ra nhiều sự kì diệu của tảng đá.


Đặt cây nến vào trong hang động, ngọn lửa lung linh, ánh sáng lờ mờ hiện ra đủ bảy sắc cầu vồng. Những khi gió to lùa, đá phát ra tiếng kêu như một dàn nhạc cung đình, nghe rõ cả tiếng kim, tiếng thạch, tiếng ti, tiếng trúc… nhưng không ồn ào mà êm dịu hơn nhiều, đưa hồn người ta lạc vào chốn hoang vu, tịch mịch như tiếng suối reo, tiếng thác chảy ở chốn rừng thiêng. Nếu lấy nắm sỏi thả từ hang cao nhất xuống thì một khúc nhạc khác rộn ràng phát ra từ lòng đá. Mỗi lần sỏi chạm vào đá là một âm thanh huyền diệu vang lên. Cuối cùng tất cả những viên sỏi lăn ra từ cửa hang thấp nhất.


Hàng năm đến rằm tháng Tám, các vua nhà Lý, nhà Trần, từ đời này qua đời khác đều đến chùa Lý Quốc Sư cùng với trụ trì ăn bánh dẻo chay, trông trăng, ngắm đá.


Hơn năm trăm năm sau, kì thạch cũng bị kiếp nạn của cuộc sống trần tục quấy phá. Tuyên phi Đặng Thị Huệ, vợ yêu của chúa Trịnh Sâm đòi mang đá về phủ để ngày nào cũng được xem những điều kì diệu.


Trịnh Sâm báo cho trụ trì chùa Lý Quốc Sư biết là chúa mượn tạm đá thiêng về phủ cho tuyên phi thưởng lãm. Sư cụ cúi đầu không trả lời.


Chúa cho đóng xe tám bánh sắt và cho bốn con voi chia làm hai cặp kéo xe, kèm thêm năm trăm tên lính đi mở đường và giúp sức cho voi. Bọn chúng phải phá cửa chùa mới mang được đá ra ngoài. Từ chùa về phủ chúa chưa tới mười dặm mà phải đi mười ngày mới đến. Hai lần xe gãy trục. Một con voi bị đứt xích, lỡ đà, lăn xuống sông. Nó bị gẫy một ngà và hai chân. Bọn lính không làm thế nào kéo voi lên được. Nửa ngày voi chết cùng với trên chục tên lính bị thương.


Hôm kì thạch ra mắt tuyên phi nhằm ngày rằm tháng Tám. Phủ chúa rực rỡ cờ, hoa, đèn, nến… sáng chói một góc trời. Trịnh Sâm ngồi trên ngai, tuyên phi ngồi bên cạnh ôm thế tử Trịnh Cán. Cung nữ dâng bánh trái lên. Tuyên phi thích nhất là bánh phục linh, một loại bánh làm bằng bột sắn dây và đường hoán. Khi cho vào miệng, bánh tan hết, không còn một chút cặn, để lại trong mồm thoang thoảng mùi hoa bưởi.


Bốn cây bạch lạp được đưa vào hang đá. Ánh sáng lung linh hắt ra rực rỡ như cầu vồng chắn cơn mưa. Tuyên phi vỗ tay khen. Bỗng thái tử Trịnh Cán giằng ra khỏi tay mẹ rồi tìm cách chui đầu vào hang đá xem nến cháy. Cả chúa và tuyên phi hét lên, cung nữ đuổi theo thế tử. Trịnh Cán vấp ngã, bị va đầu, máu chảy chan hòa. Thế tử nằm thiếp đi trên tay mẹ. Thái y tìm mọi cách cầm máu. Buổi ra mắt đá thiêng mất hứng, chúa cho dẹp bỏ.


Thế tử sốt liền bốn ngày mới ngớt, mỗi bữa chỉ uống một cốc sữa nhỏ của những vú em nuôi trong phủ chúa. Sữa người là thức ăn hàng ngày của thế tử và cũng là món khoái khẩu của chúa và tuyên phi.


Từ khi mang kì thạch về, phủ chúa gặp quá nhiều biến cố. Thế tử bình phục thì tuyên phi lên đậu mùa. Nhìn bộ mặt hoa trắng nõn mà bị những nốt đậu phá hủy, chúa đau lòng quá. Toàn bộ thái y phủ chúa và cung vua được huy động để chữa chạy cho tuyên phi. Hai mươi mốt ngày sau, Đặng Thị Huệ bình phục. Nhìn những nốt rỗ hoa trên mặt tuyên phi, Trịnh Sâm đành an ủi người đẹp:


- Lên đậu hóa ra lại có cái hay, trông tuyên phi đẹp hơn hẳn ngày trước.


Đặng Thị Huệ chùi giấu hai hàng nước mắt. Tuyên phi chỉ lo, chúa kiếm được những người đẹp mới, sẽ quên ngay cái mặt rỗ của mình.


Tuyên phi vừa khỏi thì thế tử Trịnh Cán lại lây bệnh. Khắp người chú bé chi chít nốt đậu. Chúa an ủi:


- Trẻ con qua khỏi lên sởi, lên đậu thì mới yên tâm. Sau này không còn gì phải lo nữa.


Trịnh Sâm cho người chạy ngựa trạm vào Hương Sơn, Nghệ An triệu Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ra chữa bệnh cho thế tử. Cụ già gần bảy mươi tuổi chống gậy vào bắt mạch cho Trịnh Cán. Trước cái thân thể gày như cây sậy, Hải Thượng Lãn Ông cho thuốc tống nọc độc đậu mùa ra ngoài và nói với chúa:


- Thế tử uống quá nhiều sâm nhung, ăn quá nhiều cá thịt nên…


Tuyên phi Đặng Thị Huệ khẽ gắt:


- Ông nói gì mà lạ thế? Người ta không ăn nhiều chất bổ và bồi dưỡng thảo dược quý hiếm thì sống sao được? Các quan thái y đều cho thế tử dùng nhung hươu, nhân sâm, linh chi trăm tuổi mà còn như vậy, nếu…


Trịnh Sâm khẽ bảo:


- Thôi tuyên phi để cho Hải Thượng tiên sinh bốc thuốc. Nếu các thái y làm tốt công việc của mình thì ta đã không triệu người từ Nghệ An ra đây.


Đặng Thị Huệ quầy quả bỏ đi.


Hải Thượng Lãn Ông tâu với chúa Trịnh:


- Xin chúa cho thế tử ăn nhiều rau, hoa quả tươi. Tuần sau, thế tử sẽ bình phục. Lão thần quá già rồi, nhiều khi lú lẫn. Xin chúa cho về quê dưỡng lão.


Đặng Thị Huệ trở lại hỏi các cung nữ:


- Lão già lẩn thẩn đó đi rồi hả? Không biết mỗi năm lão giết chết bao nhiêu bệnh nhân?


Trịnh Cán khỏi bệnh. Đậu mùa để lại trên mặt thế tử những nốt rỗ chằng rỗ chịt.


Phủ chúa lại xảy ra một trận dông bão lớn. Tuyên phi xin Trịnh Sâm gả công chúa Ngọc Lan cho em ruột mình là Đặng Mậu Lân. Trịnh Sâm há hốc mồm, mãi mà không nói được. Chúa còn lạ gì Đặng Mậu Lân, một tên du đãng nổi tiếng khắp kinh kì. Hằng ngày, gã cùng bọn tay chân cầm gậy gộc sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm ở Thăng Long. Nhà nào có kì hoa dị thảo, gã đều cướp về làm của riêng. Thậm chí, gã còn quây màn giữa chợ, bắt con gái nhà lành hãm hiếp. Thấy Đặng Mậu Lân và tùy tùng từ đằng xa, dân chúng đã đóng cửa nhốt con gái lại để tránh hậu họa…


Hồi lâu, Chúa lắc đầu nói:


- Em nàng to lớn, còn công chúa yếu ớt. Ta không thể gả cho hắn được.


Đặng Thị Huệ khóc gào lên:


- Thiếp không ngờ chúa khinh thường chị em thiếp đến thế! Cha mẹ thiếp chết sớm, không ai dạy dỗ thằng Lân. Thiếp mong cho nó sớm có gia đình, rồi chúa quản lí nó giúp thiếp, cho nó sớm nên người.


Đặng Tuyên phi giẫm hai chân bình bịch, tay tháo hoa tai, châm cài tóc vứt xuống đất:


- Thôi, đã thế thiếp xin về quê, lại đi hái dâu nuôi tằm, trông coi mấy nếp nhà cũ như trước. Con ơi! Cán ơi, mẹ về quê đây! Con phải ngoan, nghe lời chúa. Hậu vận của con sau này đừng đau khổ như mẹ.


Tuyên phi tiếp tục xé quần áo, giật tóc, cào cấu, lăn lộn. Trịnh Sâm đau lòng cố nén một tiếng thở dài:


- Thôi được… Ta nghe lời nàng… gả công chúa cho Đặng Mậu Lân.


Đặng Thị Huệ lập tức tạ ơn chúa, hai mắt ráo hoảnh không một giọt lệ.


Đám cưới công chúa Ngọc Lan buồn như một đám ma, chỉ khác là tiếng kèn xuân nữ chứ không phải tiếng kèn lâm khốc. Trịnh Sâm cho nhiều thái giám, cung nữ theo hầu công chúa, có sự cố bất thường nào thì phải báo ngay cho chúa xử lí. Đưa dâu hôm trước, ngày hôm sau thái giám, cung nữ về tâu với chúa, họ bị Đặng Mậu Lân lấy gậy đánh đuổi về. Họ còn cho biết cả đêm chỉ nghe tiếng công chúa la khóc. Trịnh Sâm thở dài, thua cuộc. Mười ngày sau, Ngọc Lan trốn được về phủ chúa trong bộ quần áo xộc xệch, mặt mũi võ vàng. Trịnh Sâm đau lòng nhưng không dám nổi giận.


Công chúa khóc:


- Con về đây để vĩnh biệt chúa. Tên du côn ác ôn hãm hiếp con suốt ngày. Có hôm gã bắt con phải hầu hạ gã đến mười lần. Con sắp chết. Kiếp sau xin vào nhà thường dân để đỡ bị kiếp nạn nhục nhã này.


Công chúa gục xuống chân Trịnh Sâm. Chúa đỡ được nàng lên thì hơi thở của Ngọc Lan chỉ còn thoi thóp. Qua hôm sau, công chúa qua đời.


Triều đình vua Lê có lục bộ, còn phủ chúa Trịnh có lục phiên. Các đại thần lục phiên luận tội Đặng Mậu Lân. Tên du đãng bị đày lên Cao Bằng xa xôi, nơi rừng thiêng nước độc. Hôm gã đi đày, nhiều quan lại đưa tiễn đông như trảy hội để lấy lòng Đặng Thị Huệ.


Một năm tang tóc bao trùm phủ Chúa. Từ kinh kì đến phố Hiến, ai cũng nói: Cướp của chùa thì bị thần phật trừng phạt là thích đáng, họ Trịnh sắp đến ngày diệt vong.


Trịnh Sâm hoảng sợ, cho xây một ngôi chùa ngay trong phủ chúa trước tảng đá thiêng, xung quanh có tường bao bọc, cắt mấy cung nữ già ra đèn nhang quanh năm.


Mấy năm sau, Trịnh Sâm chết, rồi nạn kiêu binh, rồi Đặng Thị Huệ chết, Trịnh Cán yểu mệnh, rồi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất phò Lê diệt Trịnh… Cả cơ đồ nhà chúa sụp đổ. Vua Lê Chiêu Thống nhớ đến lúc bị họ Trịnh lấn áp liền trả thù, cho người đốt phủ chúa. Mười ngày sau, ngọn lửa vẫn còn âm ỉ cháy. Riêng hòn đá thiêng và ngôi chùa vẫn y nguyên.


 III -


Nguyễn Công Tạc đưa Tôn Sĩ Nghị đến xem kì thạch. Nghị đi quanh hòn đá, y khen: “Đẹp quá!” và hỏi Nguyễn Công Tạc:


- Ngươi thấy hai cây tùng La Hán ở mỏm đá này thế nào?


Tạc thưa:


- Tiểu nhân thấy có dáng lưỡng long chầu nguyệt.


- Ngươi khá lắm! Còn cây Cần Thăng này có đẹp không?


- Dạ, nó có dáng phượng hoàng hiến ngọc.


- Thôi được. Ngươi hãy biểu diễn những điều kì lạ ngươi giới thiệu lần trước đi.


Tạc leo lên cái hang cao nhất và đổ vào đó một rổ sỏi. Âm thanh trong lòng đá nổi lên, nghe như tiếng binh khí chạm nhau giữa một trận kịch chiến đầy máu lửa, khác hẳn khúc nhạc nhẹ nhàng, hòa bình, trung chính mọi ngày.


Tôn Sĩ Nghị khen mãi:


- Ở cung Lạc Thọ tại kinh đô Thanh triều, vua Càn Long cũng có một tảng đá rất lạ, to hơn tảng này, nhưng phải thừa nhận nó không đẹp bằng. Chuyến này dâng nhà vua, thế nào ta cũng kể công của ngươi để hoàng thượng khen thưởng.


Tạc sung sướng nói:


- Chỉ xin đại nhân tâu với vua Càn Long cho tiểu nhân được làm người Mãn, để tóc đuôi sam là tiểu nhân mãn nguyện lắm rồi.


Nhưng hắn chợt thấy lời nói của mình cực kì vô duyên. Tôn Sĩ Nghị được để đuôi sam, làm đến tổng đốc hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây mà vẫn không được công nhận là người Mãn Châu.


May cho gã, Tôn Sĩ Nghị còn mải nghĩ cách mang đá về Tàu nên không để ý. Hắn nói:


- Ta sẽ cho ngươi được toại nguyện!


Nguyễn Công Tạc quỳ xuống lạy tạ Tôn Sĩ Nghị. Gã cảm thấy tóc mình cứ dài ra thành cái đuôi sam. Tạc sung sướng tột độ:


- Cảm ơn đại nhân! Tiểu nhân không bao giờ dám quên ơn tài bồi của người, kiếp này và cả kiếp sau xin làm trâu ngựa báo đáp.


- Ngươi thử làm cho đá hiện ra màu sắc cầu vồng ta coi!


- Dạ… dạ…


Nguyễn Công Tạc luồn cây nến vào hang đá. Gã chưa kịp gắn nến đã la toáng lên như bị rắn cắn. Cả bọn hoảng hốt hỏi nhau:


- Trong hang có rắn rết à?


Nguyễn Công Tạc hốt hoảng:


- Tiểu nhân bị hang đá giữ tay lại rồi!


Tôn Sĩ Nghị hất hàm bảo tên Bách hộ trưởng:


- Ngươi kéo nó ra!


Tên Bách hộ trưởng vừa cho tay vào hang đá liền la to hơn cả Nguyễn Công Tạc:


- Tay tiểu nhân cũng bị cửa hang giữ chặt… Hãy cứu tiểu nhân… Hãy cứu tiểu nhân…


Mười tên lính tranh nhau kéo hai nạn nhân ra. Nhưng cả mười tên đều bị dính chặt vào chúng, muốn gỡ ra mà không được. Chân tay chúng bủn nhủn, đầu óc hoảng loạn, sinh lực mất hết, tiếng kêu cũng nhỏ dần. Một khắc sau, cơ thể mười hai nạn nhân co quắp lại, mắt trợn ngược, mặt đen sẫm như bị đá hút hết máu. Tất cả bọn chúng đều chết, hang đá cũng nhả tay Nguyễn Công Tạc và tên Bách hộ trưởng. Tôn Sĩ Nghị cho dọn dẹp xác chết và cấm không được ai tiết lộ chuyện này ra ngoài.


Hắn nghĩ mưu, cho gọi một tên Thiên hộ trưởng đang bị giam ở đại lao đến gặp mặt. Kẻ tử tù mặc áo trắng, ngực và lưng có in chữ “tử”, chân đi đất, đuôi sam cuốn quanh cổ.


Tôn Sĩ Nghị hỏi:


- Ngươi có học hai mươi điều quân lệnh của nhà Đại Thanh khi sang nước Việt chưa?


Kẻ tử tù lí nhí:


- Dạ… dạ… tiểu nhân đã học thuộc.


- Ngươi phạm điều thứ mấy, về tội gì?


- Tiểu nhân vi phạm điều sáu về tội hãm hiếp dân lành.


- Còn gì nữa không?


- Thưa đại nhân, đó là điều thứ ba, giết người vô tội.


- Theo quân lệnh thì ngươi phải chịu hình phạt gì?


- Phạm điều thứ sáu thì bị cung hình[4], phạm điều thứ ba thì bị tử hình.


Tôn Sĩ Nghị nhướng cao cặp lông mày chổi xể nói:


- Nếu ta tha tội cho ngươi thì sao?


Thiên hộ trưởng quỳ ngay xuống:


- Đại nhân là cha mẹ sinh ra tiểu nhân lần thứ hai. Tiểu nhân kết cỏ ngậm vành hầu hạ đại nhân suốt đời.


- Được! Tốt lắm! Bây giờ ngươi thắp vài ngọn nến và gắn chúng vào trong cái hang đá kia để ta xem những điều kì diệu của kì thạch.


Kẻ tử tù chui vào hang đá cắm bốn ngọn bạch lạp. Y chui ra chui vào mà không có sự gì xảy ra. Ngọn lửa dao động trong hang tạo ra những màu sắc kì ảo. Tôn Sĩ Nghị thầm nghĩ: Xem ra không phải lúc nào đá cũng gây tai nạn cho con người. Hắn quyết định mang đá về Tàu và nói với kẻ phạm tội:


- Ta tha chết cho ngươi để ngươi đái tội lập công. Ngươi chuyên chở hòn đá này về dâng vua Càn Long. Đá được đặt lên xe tám bánh sắt với một trăm con ngựa, một trăm tên mã phu thay nhau vận tải. Ngươi mang một nghìn lính đi mở đường, làm cầu phía trước. Cho ngươi chỉ huy toàn bộ người, ngựa của cả hai đội. Còn gần một tháng nữa là đến tết Nguyên Đán, kì thạch phải qua biên giới trước đêm giao thừa.


- Tiểu nhân dốc sức khuyển mã để đền ơn của đại nhân!


Tôn Sĩ Nghị đắc chí, tự thưởng cho mình bữa đó thêm năm mươi điếu thuốc phiện.


 IV -


Vua Lê Chiêu Thống cầm ngọc tị hỏa trên tay mà lòng đau muốn khóc. Báu vật của Thái tổ Lê Lợi mà phải dâng cho ngoại bang, thật là nhục nhã. Biết làm thế nào được! Ai bảo nghe những tên nịnh thần, những kẻ bất tài bán nước xúi giục thì phải chịu. Ngọc này đã để thờ ở viện Kính Thiên đúng ba trăm sáu mươi năm (1428 – 1788).


Ngày Bình Định Vương Lê Lợi mới khởi binh ở Lam Sơn, lực lượng non yếu, hay bị bại trận. Trong một lần bị giặc rượt đuổi đến sông Chu, Lê Lợi chưa biết vượt sông chạy trốn như thế nào thì dưới nước nổi lên một con rùa to như cái nong, đầu bằng cái gộc tre, miệng ngậm một thanh kiếm. Lê Lợi biết đó là quy thần dâng kiếm để ông diệt giặc. Bình Định Vương quỳ xuống nhận gươm và lễ tạ rùa. Thanh kiếm cổ kính, chuôi bằng đồng, thân kiếm đen sì, lưỡi không sắc nhưng chém sắt như bùn. Đúng là bảo kiếm!


Mười năm đánh giặc, chém Liễu Thăng, đuổi Vương Thông, Lê Lợi phục quốc. Ông đổi thành Đông Quan trở lại tên cũ là Thăng Long, nối tiếp nhà Lý, nhà Trần lấy Thăng Long làm kinh đô Đại Việt.


Một ngày rảnh rỗi, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi đi chơi thuyền trên hồ Tả Vọng. Từ dưới nước, một con rùa to như rùa ở sông Chu, miệng ngậm một hòn ngọc dâng vua. Lê Lợi nhận ngọc, tạ ơn rùa. Nhưng con rùa mãi không chịu lặn xuống nước. Nó ngước nhìn thanh kiếm vua đeo bên mình. Lê Lợi hiểu ý, hai tay cung kính trao kiếm trả rùa. Quy thần ngậm ngay thanh gươm lặn xuống đáy hồ. Nhà vua nói:


- Từ nay, trẫm đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Hoàn Kiếm để tỏ lòng tôn kính rùa thần.


Nguyễn Trãi đồng tình ý với kiến sáng suốt của Lê Thái Tổ.


Viên ngọc đẹp lạ lùng, tròn như một quả cầu, hai nửa bán cầu màu hồng nhạt, ở giữa có một vành đai trắng, điểm xuyết những sợi xanh. Nếu soi trước nguồn sáng như mặt trời, ngọn đuốc thì ngọc lung linh, rực rỡ. Vua Lê Thái Tổ đặt ngọc ngay trước án thư của ông ở điện Kính Thiên. Một đêm trời khô hanh, cung điện bị hỏa hoạn, ngọn lửa cách bàn để ngọc chừng năm trượng thì tắt. Quần thần vào vấn an nhà vua. Hành Khiển Nguyễn Trãi nói:


- Chúc mừng bệ hạ được quy thần tặng ngọc tị hỏa. Báu vật này là khí thiêng trời đất của Đại Việt hun đúc. Ngàn năm không tìm được viên thứ hai.


 V -


Đủ ba ngày, Tôn Sĩ Nghị vào gặp vua Lê Chiêu Thống để nhận ngọc. Hắn chỉ vái chào, không chịu quỳ lạy nhà vua. Lê Quýnh nói:


- Vua chúng tôi trai giới đã xong, xin đại nhân quỳ xuống nhận ngọc.


Tôn Sĩ Nghị tức giận:


- Theo lệ của thiên triều, ta không phải hành đại lễ trước vua chư hầu.


- Đại nhân nhầm rồi, đây là lễ ngọc thần. Nếu không quỳ lạy, chúng tôi không trao ngọc.


- Ngươi dám không dâng ta?


- Đại nhân có nhớ chuyện Lạn Tương Như của nước Triệu thời Xuân Thu đổi ngọc lấy mười lăm thành trì của nhà Tần không? Lạn Tương Như sẵn sàng chết cùng ngọc chứ không để vua Tần ăn hiếp. Tôi cũng sẽ đập tan ngọc quý rồi đập đầu vào cột đá tuẫn tiết cho đại nhân xem.


Tôn Sĩ Nghị đành phải quỳ trước án có hộp nhung đựng ngọc.


Lê Quýnh hô to:


- Xin đại nhân bỏ mũ, bỏ giày, lạy bốn lạy.


- Sao dám làm nhục ta quá thế?


- Đây là luật lệ của Đại Việt. Người ta nói nhập gia tùy tục, chắc đại nhân không quên.


Hành lễ xong, Tôn Sĩ Nghị đứng lên định nhận ngọc thì Lê Hân hô to:


- Xin đại nhân kí vào văn tự mượn ngọc. Bay đâu, lấy nghiên bút ra đây!


Như Tòng và Ích Hiển, hai người hầu cận của vua Lê Chiêu Thống, đem ra một tờ văn tự bằng giấy xuyến chỉ và một nghiên mực bằng ngọc lục bảo.


Tôn Sĩ Nghị tức giận đến cực điểm, nhưng thua trí đành phải kí vào văn tự. Lê Hân nói:


- Xin đại nhân điểm chỉ mười ngón tay.


- Tại sao lại phải điểm chỉ? Kí vào văn tự là quá lắm rồi.


- Xin đại nhân hiểu cho, nước tôi bị thiên triều lừa dối quá nhiều rồi. Phải cẩn thận với những người như đại nhân thì vẫn hơn.


Lê Hân cầm cả hai bàn tay Tôn Sĩ Nghị ấn vào nghiên mực và in lên tờ văn tự to tướng.


Tôn Sĩ Nghị yêu cầu:


- Cho ta chậu nước rửa tay!


- Áo đại trào của đại nhân màu đen, chùi tay vào đấy cũng không ai thấy mực đâu.


Ông ta vừa nói vừa tủm tỉm cười, nheo mắt rất khôi hài. Vua Lê Chiêu Thống mặt tái ngoét, chỉ sợ Tôn Sĩ Nghị nổi giận thì đại sự hỏng bét.


Tuy bị nhục nhưng được ngọc tị hỏa, Tôn Sĩ Nghị thích lắm. Hắn ngắm đi ngắm lại cả ngày không chán, cắt năm mươi tên lính canh gác suốt đủ mười hai canh giờ.


 VI -


Ngày 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn tràn vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị, Lê Chiêu Thống vượt cầu phao ở sông Nhị Hà, chạy bán sống bán chết sang Tàu.


Đến hẻm núi, chỗ Liễu Thăng bị chém chết cách đây gần bốn trăm năm, quân sĩ bị dồn cục lại. Tiếng người nhao nhao: “Đá chặn đường rồi. Người chết nhiều quá!”. Tôn Sĩ Nghị giục ngựa lên quan sát. Chỗ hẻm núi nhỏ nhất, kì thạch bị kẹt cứng, đá thiêng không chịu sang Tàu, hai bên sườn núi sạt lở như bị sét đánh. Hết đường đi. Đoàn người ngựa vận tải không còn một mống. Xác người, xác ngựa nằm la liệt dọc đường. Hàng ngàn con quạ gọi nhau đến thưởng thức thịt thối, đen kịt cả một góc trời.


 VII -


Cuối cùng, đạo quân hai mươi chín vạn người của nhà Mãn Thanh cũng chạy thoát về Tàu hơn một vạn. Tôn Sĩ Nghị nhìn đạo binh bại trận ngao ngán, cờ xí rách nát, quần áo tả tơi, những bộ mặt hoảng sợ và đói ăn không còn huyết sắc.


Việc đầu tiên là hắn gửi ngay hai xe lễ vật cống nạp về Bắc Kinh cho vua Càn Long và Phúc Khang An. Hắn tin Phúc Khang An đủ tài cán lo liệu giùm hắn dẹp cơn thịnh nộ của Càn Long.


Hai xe cống phẩm giống nhau, gồm vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, mã não, san hô đỏ… Riêng xe của vua Càn Long có thêm viên ngọc tị hỏa.


Phúc Khang An là đại thần, lại là con tư sinh của Càn Long được nhà vua tin dùng. Hắn chỉ tán ngọt vài câu là Càn Long bỏ qua chuyện hai mươi chín vạn quân Thanh bị tiêu diệt ở Đại Việt. Tôn Sĩ Nghị còn được triệu vào biểu diễn sự kì diệu của ngọc tị hỏa ở ngay điện Thái Hòa, ngôi điện to nhất của nhà Thanh.


Giữa điện đặt một chiếc hỏa lò bằng sắt chứa được mười gánh than hoa. Vua Càn Long ngồi trên ngai vàng, chung quanh đủ các hoàng hậu, quý phi, bối lặc, a ka, cách cách… Phía đối diện đủ bá quan văn võ. Các cô cách cách nhỏ tuổi khúc khích cười, cấu véo nhau chí chóe. Không mấy khi các nàng được vua cho họp mặt đông đủ như đi xem kinh kịch. Còn mấy cậu a ka đóng bộ mặt nghiêm nghị như tượng gỗ hòng hy vọng sau này được phong hoàng thái tử.


Phúc Khang An giơ tay cho Tôn Sĩ Nghị biểu diễn. Nghị trịnh trọng bê chiếc hộp gỗ đàn hương, lót da hồ li trắng đựng ngọc tị hỏa, dâng cho vua Càn Long xem, rồi đi qua từng hàng ghế cho mọi người chiêm ngưỡng. Ánh sáng phản quang của ngọc phát ra chói chang. Mọi người đều xuýt xoa khen báu vật hiếm có, ngàn năm khó có một lần được xem để mở rộng tầm mắt.


Trời tháng hai âm lịch rất lạnh. Gió từ sa mạc vượt qua Vạn Lí Trường Thành kèm theo mưa tuyết thổi vào điện Thái Hòa. Cả triều đình Mãn Thanh quên cả rét. Họ sắp được thưởng thức điều kì diệu của ngọc tị hỏa.


Tôn Sĩ Nghị bỏ ngọc vào lò than. Ngọc lửa xanh lè tự nhiên đỏ lại như sắp tắt. Hàng trăm tiếng ồ lên và tiếng vỗ tay khen ngợi. Bỗng, một tiếng nổ như sét đánh. Điện Thái Hòa rung chuyển. Ba trăm cân than hoa và cái hỏa lò khổng lồ bằng sắt vỡ tung từng mảnh, bay ra tám phương bốn phía. Những người đứng phía trước đều bị bỏng, một số mù cả hai mắt. Mậy cậu a ka, mấy cô cách cách khóc thét lên. Vua Càn Long bị cháy một mảnh long bào, con rồng thêu trên áo cụt cả hai sừng. Tôn Sĩ Nghị trụi cả râu tóc và lông mày. Hắn phát điên, chạy ra cửa điện la hét:


- Ngọc nổ rồi. Ta lại sang Đại Việt kiếm viên khác. Ta sẽ dạy cho bọn An Nam một bài học nhớ đời. Ha ha… ha ha…


Cuộc thưởng thức ngọc tị hỏa trở nên một thảm kịch. May mắn, chỉ có mấy tên thái giám đứng gần bị chết và mấy chục người bị thương.


 VIII -


Tôn Sĩ Nghị phát điên, suốt ngày chạy ra nhìn xuống chiếc giếng trong khu quý tộc nhà Thanh, gọi là Vương Phủ Tỉnh. Mỗi lần mặt trời in hình trong giếng, hắn lại vỗ tay reo: “Ngọc kia rồi! Ngọc kia rồi!”.


Vua Càn Long cho người đưa hắn về quê quán để hắn đỡ đi lang thang mơ ngày sang Đại Việt kiếm ngọc.


Riêng vua Lê Chiêu Thống được nhà Thanh phong cho tam phẩm và an trí ở Quế Lâm. Các quan đại thần nhà Lê tòng vong khá đông nhưng dần dần bốc hơi, trốn về nước hết.


Vài năm sau, Lê Chiêu Thống chết vì đau buồn, chung quanh chỉ còn bốn người quan chức nhỏ là Lê Hân, Lê Quýnh, Như Tòng, Ích Hiển[5].


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info







[1] Trong Thanh cung mười ba triều, tác giả Hứa Tiểu Thiên viết: “Tôn Sĩ Nghị sang Đại Việt có kiếm được một viên ngọc tị hỏa rất quý.




[2] Lang nha bổng: gậy răng sói.




[3] Mỗi cân bằng 0,6 kg.




[4] Cung hình: theo luật lệ nhà Thanh, nạn nhân bị thiến.




[5] Theo Đại Nam Quốc sử diễn ca:


Lê Hân, Lê Quýnh mấy người


Như Tòng, Ích Hiển mấy lời thệ minh.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
Đôi mắt - Nam Cao 16.02.2020
Dành dành cánh kép - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 11.02.2020
Rượu bốn mươi năm - Bích Ngân 11.02.2020
Tháng tư trôi qua - Bích Hạnh 10.02.2020
Hai mươi đô la - Bích Hạnh 10.02.2020
xem thêm »