tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27191655
Truyện ngắn
16.05.2019
Xuân Thiều
Truyền thuyết về Quán Tiên


 I


Những người lính lái xe Trường Sơn vào nhưng năm 65, 66 bây giờ mỗi lần có dịp gặp nhau trong quán bia, đều say sưa nhắc lại kỷ niệm chiến trường. Trong câu chuyện của họ có niềm vui nỗi buồn, có lòng căm thù và tình yêu thương, có khí phách kiên cường cùng những bồi hồi xúc động. Hãy soi vào tận đáy mắt họ mà xem, những cặp mắt đầy từng trải vốn ưa nhìn thẳng, vậy mà khi đã luống tuổi lại pha đôi chút ưu tư mơ màng. Cái nhìn của họ trở nên xa xăm, tựa như lưu luyến một thời trai trẻ xông pha, lại tựa như xót xa trước mọi vẻ hy sinh của đồng đội. Bởi thế, câu chuyện của họ về "Quán Tiên" cũng trở nên hư hư thực thực, câu chuyện như ẩn hiện giữa một lớp sương mù, hoặc như chập chờn trong ánh lửa đêm rừng rét mướt. Câu chuyện của họ thực ra không có chỗ bắt đầu. Hoặc là bắt đầu từ một ý niệm mơ hồ nào đó rất khó bắt nắm. Tuy nhiên xin hãy vui lòng chấp nhận cho một cái mốc thời gian. Ấy là một buổi sáng mùa hè bình thường năm 1966.


 


Buổi sáng ấy, đột nhiên cô Mùi choàng tỉnh dậy. Cảm giác như ai đó hú gọi mình. Mùi lắng nghe. Không! Hoàn toàn yên tĩnh. Chỉ có tiếng gió lọt vào vòm hang qua một lối hẹp nghe vo vo trầm trầm. Và tiếng một đôi chim nhồng hót líu lo ngoài bờ suối. Mùi vòng tay ra sau gáy cặp mớ tóc dài lại cho gọn và chợt hiểu ra. Cảm giác có tiếng hú gọi mình chính là sự yên tĩnh. Quả thật, yên tĩnh đến kỳ diệu. Trong chiến tranh đôi lúc sự yên tĩnh trở thành khác thường, khiến người ta giật mình. Mọi hôm vào tầm này, máy bay phản lực đã gầm rú nhức tai. Không đánh ở đèo Tà Muộn thì đánh ở ngã ba Xì La Phù hoặc trên trục đường đi Huội Phan, đi Xê Khoóng. Cái "Quán Tiên" của cô Mùi nằm giữa hình tam giác của các trục đường vận chuyển. Dù đánh ở điểm nào thì tiếng máy bay xé gió, tiếng bom, tiếng rốc két cũng dội vào vòm hang và cái tiếng ầm ào ấy cứ âm vang mãi hồi lâu mới thoát ra ngoài. Tiếng ầm ào ấy quen thuộc đến nỗi dường như chúng càng ru Mùi thêm ngon giấc. Đêm nào chị em trong quán cũng thức đến ba giờ sáng mới được ngủ, nên dậy muộn... Vậy mà hôm nay... Mùi mỉm cười, khẽ khàng rời khỏi sạp nằm để yên cho cái Phượng nó ngủ. Nom Phượng ngủ thật dễ thương, đôi má phinh phính như má trẻ con, đôi môi thật thắm chúm chím như đang trong một giấc mơ vui. Dưới chiếc chăn dù pháo sáng còn nguyên màu trắng là bộ ngực nở nang của tuổi hai mươi đang phập phồng theo nhịp thở đều đều. Là con gái, Mùi vẫn mê huống gì tay Quỳnh. Chẳng riêng gì Quỳnh. Mùi xem ra cánh lái xe trẻ anh nào gặp nó cũng xoắn xuýt vồ vập làm quen. Phượng ngoan nết, vui tính, chỉ phải tội còn vô tâm. Cái nết ngủ thì đến khiếp. Chỉ có dựng mới dậy. Có lúc dựng dậy rồi, nó còn nằm vật xuống, co rúm người như con tôm, mắt vẫn ríp lại không mở ra được. Nó thì bom đạn không thức nổi, yên tĩnh cũng vậy thôi. Biết thế, nhưng Mùi vốn có thói quen ý tứ, đi đứng nhẹ nhàng tránh gây tiếng động. Mùi nhìn đồng hồ, mới sáu giờ rưỡi sáng. Cô đi ra suối đánh răng rửa mặt, nhân thể đãi mớ đỗ để tối thổi xôi làm hàng.


 


Dòng suối Nậm Bu khi sương tan muộn thường mang vẻ ngái ngủ. Trên mặt nước chảy lững lờ, những đám sương bay la đà, chỗ đậm đặc như khói đốt rạ, chỗ mỏng tang như dải khăn voan. Vẻ ngái ngủ của con suối còn ở tiếng róc rách khe khẽ của dòng nước luồn qua các kẽ đá về mạn hạ lưu, chỗ ấy lúc này chỉ thấy lờ mờ một dãy rì rì đổ nghiêng xuống mặt nước. Bên kia suối, hòn núi đá Phun Kha sừng sững như chàng lực sĩ khổng lồ, lưng chừng núi trở lên quang cảnh đã hiện rõ nét nhưng về phía dưới hãy còn nhòa trong sương, cây cối ẩn hiện như cảnh trong giấc mơ. Trong không khí mát mẻ ban mai, thoang thoảng có mùi hoa lan rừng lẫn vào trong gió nhẹ.


 


Ngắm nhìn quang cảnh yên tĩnh bên dòng suối Nậm Bu, Mùi thẫn thờ mất một lúc như còn lưu luyến điều gì rồi mới xắn quần lội xuống suối đánh răng rửa mặt. Nước trong leo lẻo soi rõ những viên đá cuội màu trắng và đàn cá niên bơi tung tăng. Dòng nước mát lịm vuốt ve trên bắp chân trần, và khi cúi xuống đãi mớ đỗ xanh, Mùi bỗng nhớ cái bến sông La ở quê mình. Chiều chiều Mùi cùng các cô gái trong xóm thường ới nhau gánh gạo đi ngâm về làm miến - một nghề thủ công cổ truyền của quê Mùi. Khi những rá gạo đã đặt chìm trong nước, chỉ còn chừa những tao gióng khẽ run run theo dóng nước chảy, đám con gái thường tụ tập quanh gốc bàng trên bến, rì rầm với nhau đủ các thứ chuyện trên đời. Đợi lúc nhá nhem tối, họ bắt đầu hát, thoạt đầu khe khẽ càng về sau càng vang hơn. Bao giờ cũng thế, đám con trai trong xóm nghe tiếng hát là kéo nhau ra. Và dĩ nhiên, những chàng trai mới lớn chẳng tha gì mà không trêu chọc. Tiếng cười đùa ồn ĩ bến sông. Trong đám con trai nghịch như quỷ nhà giời ấy có anh Hân, bấy giờ đã học hết lớp 10, người hay để ý đến Mùi. Một buổi tối sau lúc đùa vui, trêu chọc chủ yếu là ghép đôi với nhau, đến lúc ra về, thì Mùi mất đòn gánh. Cả đám con gái quả quyết là chỉ anh Hân cầm thôi, chứ còn ai vào đấy. Trong tiếng cười, tiếng đấm lưng nhau thùm thụp, chúng nó hè nhau gánh gạo về trước để mặc Hân và Mùi ở lại.


- Giả em đây! - Mùi van vỉ.


- Giả là thế nào? Mùi phải chuộc cơ!


- Em chẳng có gì để chuộc cả.


- Mùi có ối cái để chuộc!


- Em không có.


- Có!


- Thôi giả em, kẻo về muộn mẹ mắng chết.


- Mẹ mắng, có anh xin.


- Thật không?


- Anh thề.


Anh Hân bạo dạn nắm tay Mùi kéo lại chỗ gốc sồi nơi anh thu đòn gánh. Và chiếc hôn đầu xảy ra ở đó, chiếc hôn làm Mùi run lẩy bẩy cả tay chân. Rồi anh đi nghĩa vụ quân sự. Anh hẹn ba năm trở về sẽ cưới. Vậy mà chỉ sáu tháng sau anh đã cưới vội trước lúc đi B. Ôi, thế mà đã hơn hai năm trôi qua kể từ ngày anh đi xa. Mùi chỉ nhận được vài lá thư trong mấy tháng đầu rồi sau đó chỉ là mong đợi. Mùi viết thư cho anh, viết hoài mà chức gì anh đã nhận được. Anh vào tận miền tây Nam Bộ xa lắc. Lúc này anh đang làm gì hở anh Hân? Người ta bảo lúc nhớ nhau hai người đều có cảm giác sốt ruột. Dù anh có đang sốt ruột, anh cũng không thể hình dung nổi lúc này Mùi đang đứng trên dòng suối Nậm Bu tuyệt đẹp này. Không phải đi ngâm gạo làm miến mà là đãi đỗ về thổi xôi bán hàng...


 


Đi thanh niên xung phong ra tiền tuyến mà làm nghề bán hàng hẳn ai cũng ngạc nhiên. Quả thật, giữa đường Trường Sơn bom đạn như vãi trấu, cây cối cháy khô vì chất độc hóa học mà vẫn có một chiếc quán bán cái ăn đêm cho cánh lái xe cũng là chuyện độc đáo. Đấy là sáng kiến của binh trạm trưởng Lâm. Ông thiếu tá này đã ngót nghét năm mươi tuổi, vẫn nổi tiếng là "chuyên gia lùng sục". ít khi ông ở binh trạm. Cứ đánh một đôi ủng cao tận gối, khoác khẩu ca bin, giắt con dao găm, tay chống gậy hèo, cùng với Ku Xê, anh chiến sĩ bảo vệ người dân tộc Pakoh, ông lùng hết cánh rừng này sang cánh rừng khác suốt cả đoạn đường dài hàng trăm kilômét thuộc phạm vi binh trạm của ông. Hôm ấy, cay cú vì đoàn xe thường bị đánh ở đèo Tà Muộn, ông quyết định tìm mở đường tránh. Và ông chợt phát hiện ra chiếc hang xinh xắn này. Kỳ lạ thay, chiếc hang được thiên nhiên cấu trúc như một chiếc quán. Phía trong cửa hang, sau một phiến đá dựng đứng như tấm bình phong che chắn là một chiếc bàn đá hình bán nguyệt cao đến ngang ngực, trông hao hao như bàn "bar" ở các khách sạn sang trọng. Dưới vòm hang hình bán cầu, một hàng thạch nhũ màu lam hệt như có bàn tay nào cố tình trang trí sẵn những chùm đèn. Hang chia làm hai ngăn, một phiến đá dính liền vào mé hang bên trái, còn bên kia vẫn chừa một lối đi thoải mái. Từ ngăn trong dẫn qua một hành lang hẹp là lối thông ra ngoài. Ngoài ấy, lúc thiếu tá Lâm nhìn ra đang là một mảng nắng đung đưa trên đám lá lụi bắt gió. Qua đám lá lụi, đã có thể thấy rõ dòng suối Nậm Bu chảy lững lờ giữa hai bờ đỗ quyên đang mùa hoa đỏ rực. "Chà, chà! Một nơi tuyệt vời". Thiếu tá Lâm sắm súi đi nghiêng ngó xung quanh, và khi trở lại chiếc bàn đá, ông áp ngực vào chỗ hình vòng cung phía trong, hai tay xoa xoa trên mặt bàn tuy lồi lõm nhưng nhẵn thín và reo lên: "Chà! Cái quán Tiên các cậu ạ!" Các trợ lý và chiến sĩ bảo vệ đi theo ông đềuu có chung một cảm giác nửa tin nửa ngờ rằng, lẽ nào đây đúng là cái quán Tiên. Thiếu tá binh trạm trưởng quyết định nghỉ đêm lại đấy. Khi ngọn lửa bắt đầu cháy lên trong hang, trên cánh võng mắc rết khéo vào các mấu đá, thiếu tá Lâm nằm ngửa mặt nhìn lên vòm hang nơi có vài giọt nước tụ lại bắt ánh lửa lóng lánh. Dường như từ trong sắc màu lóng lánh ấy vụt ra một ý nghĩ lóa sáng làm ông bật nhổm dậy, ông kêu lên như cháy nhà, khiến đám tùy tùng sửng sốt:


 


- Chết cha! Trời đất ơi! Ngu thật! Chính là mình ngu chứ phải ai? Tại sao lại không lập cái quánn ở đây? Một cái quán Trường Sơn hẳn hoi! Tại sao lại nỡ để anh em lái xe chạy một lèo từ cửa Rừng đến tận tít Huội Phan, Xê Khoóng mà đêm nào cũng chỉ giắt theo mấy thỏi lương khô và một bình toong nước nguội ngắt? Chà, chà giá anh em được dừng lại đây, chén một cái gì đó cho ấm bụng lại đèo thêm một bình toong nước nóng nữa, rồi sẽ tiếp tục vượt qua các trọng điểm đánh phá. Được như vậy thì tay lái càng vững chắc chứ sao? - Ông làm như ông đang tranh luận với ai đó. Thực ra đám tùy tùng sau lúc sửng sốt, đều hoan nghênh sáng kiến của ông. Họ còn tán thêm, nào là cái quán Tiên này phải chọn các cô gái bán hàng thật đẹp, nào là không những chỉ bán xôi, bán bánh chưng mà có thể bán cháo lòng tiết canh, và thêm tí "lẩu" nữa thì... cứ gọi là hết "ý thơ". Ông Lâm thật thà phản đối: Không được đâu, lái xe mà lại cho uống rượu à? Để mà lao xe xuống vực! Bậy! Còn các cô gái bán hàng càng đẹp càng rắc rối, cánh lái xe đi không dứt là hỏng. Không cần thiết phải đẹp! Tiêu chuẩn đầu tiên là phải đứng đắn! Cứng gân một tí thì chả anh nào dám ho he nhất là đối với các tay lái xe, anh nào cũng đều có máu gấu ngựa, nên càng phải...


- À đúng rồi!


Ông Lâm chợt nhớ ra...


Người con gái đầu tiên ông nhớ ra chính là cô Mùi lúc đó đang làm trung đội trưởng thanh niên xung phong mở đường ở Suối Cạn. Ông nhớ ra Mùi không phải chỉ vì cô là chiến sĩ thi đua kiện tướng chặt gỗ lát "rông đanh" mỗi ngày lên tới 100 cây. Cũng không phải vì cô tuy không sắc sảo, nhưng thật có duyên, đặc biệt cô có mái tóc dài quá gấu áo và đôi mắt đằm thắm của một người đàn bà sinh ra để lo toan. Thiếu tá Lâm nhanh chóng nhớ ra cô, là vì cô đã cho tay đại đội phó công binh ăn một cái tát. Anh chàng đại đội phó ấm ớ này lợi dụng lúc ban đêm trên đường đi làm về đã tán tỉnh rồi ôm choàng lấy cô. Thoạt đầu vì tế nhị, cô chỉ ẩy anh ta ra. Nhưng anh chàng máu gái thấy quả đỏ tưởng chín, cứ lao vào và liền bị trừng phạt bằng một cái tát nhớ đời. Câu chuyện lan đi khá nhanh và khi đến tai binh trạm trưởng thì ông ra lệnh hạ tầng công tác tay đại đội phó xuống trung đội trưởng và thuyên chuyển đến đơn vị khác. Chỉ riêng một cái tát cũng đủ để ông đánh giá Mùi là người con gái đúng như tiêu chuẩn ông chọn vào phụ trách cái quán vừa hình thành trong đầu ông.


 


Trở về binh trạm, thiếu tá Lâm gọi trợ lý quân lực lên và chọn thêm được hai cô gái khác nữa. Phượng và Tuyết Lan đều là con các gia đình bán quán cơm, quán nước. Dăm hôm sau các cô gái đã lựa chọn được lệnh về Binh trạm nhận công tác mới. Với tâm trạng thấp thỏm, các cô gái được trang bị đầy đủ từ súng ống đến thức ăn vật dụng, chỉ biết trèo lên chiếc xe com măng ca, ngồi sau lưng binh trạm trưởng. Ông cho xe chạy ban ngày thẳng một lèo tới cây số 97 trên đoạn đường tránh đèo Tà Muộn vừa mở, rẽ qua một vạt cây đại thụ mới dừng lại. Ông dẫn các cô gái vào chiếc hang tuyệt đẹp này và bấy giờ mới giao nhiệm vụ. Các cô gái sững sờ trước vẻ đẹp của chiếc hang, và công việc mở quán giữa đường Trường Sơn cũng hấp dẫn, nên họ đều vui vẻ hứa với binh trạm trưởng sẽ cố gắng hoàn thành công việc thật tốt đẹp. Trước khi ra về, thiếu tá Lâmm bảo các cô gái kiếm củi khô chụm lại để ông nhen ngọn lửa coi như khởi công dựng quán. Khi ngọn lửa đã bén, ông trao chiếc bật lửa của mình cho cô Mùi với tư cách là chị cả và là chủ quán. Với giọng vui vẻ, ông nói:


- Nó giống như trong chuyện cổ tích vậy. Ba cô công chúa bị vua cha thả vào rừng sâu: chỉ trao cho một ngọn lửa... Thế đấy! Làm sao cho ngọn lửa đừng tắt!


Ông cười hà hà và xiết chặt tay các cô gái.


Quả thật, chiếc quán tồn tại đã gần một năm và ngọn lửa ở trong hang không lúc nào tắt. Ban đêm nổi lửa lên để đồ xôi, luộc bánh chưng và để sưởi ấm đã đành, ban ngày bếp lửa được ủ giữa ba cây gỗ chụm đầu lại với nhau, than rực hồng mà không bao giờ có khói. Bây giờ thì cánh lái xe trên đường Trường Sơn dù từ ngoài chạy vào hoặc từ phía trong chạy ra đêù biết chiếc quán độc đáo này. Họ gọi nó bằng đủ các thứ tên: quán Trường Sơn, quán cô Mùi, quán ba cô, nhưng họ vẫn khoái nhất là gọi bằng "quán Tiên". Ban đêm từ khoảng chín, mười giờ đến hai ba giờ sáng thỉnh thoảng lại có khách. Cánh lái xe thường đi đoàn, nên mỗi lần dừng lại ở quán, được dịp xả hơi, họ cười nói ồn ĩ vang động cả cánh rừng. Được chén một nắm xôi hoặc chiếc bánh chưng, uống bát nước chèn nóng đã tỉnh người, mà được gặp các cô gái thanh niên xung phong bán ở "quán Tiên" họ còn coi là niềm vui mong đợi, một thứ tình cảm tự nhiên mà ngay khi đặt tay lên vô lăng chuẩn bị xuất phát họ đã nghĩ tới. Ba cô gái ở "quán Tiên": Mùi, Phượng, Tuyết Lan cũng vậy, chỉ vài tháng sau chẳng những họ thông thaoj công việc mà còn thuộc hết cả tiếng xe: tiếng nổ bành bành là đội xe "Star" của anh Quân, tiếng vo vo tròn và ấm là loại "IFA" mới cứng của đội anh Toàn, tiếng rên rỉ khổ sở và gầm xe run lật bật là đội xe "Gát" già lão của cậu Luyến, tiếng gào tưởng nổ máy kèm theo mặt đất rung chuyển là xe ủi của ông Bảo, tiếng ì ì nặng nề - một thứ tiếng gợi không khí chiến tranh đích thị là anh "Zin 157" dầu tời của tay Quỳnh... Chỉ nghe tiếng xe từ ngoài bãi đổ, các cô gái đã biết là khách nào. Cũng có lúc nghe tiếng xe lạ và họ biết đấy là đoàn xe chạy thẳng từ Hà Nội vào và sẽ còn đi rất xa. Ba cô gái, thực ra thì chưa phải sắc nước hương trời gì, mỗi người một vẻ chỉ đều là loại coi được, nhưng sống giữa rừng núi heo hút lại được cái hang đẹp đẽ trời ban cho, nên thường được khách hàng gọi là ba "nàng tiên". Cùng với ngọn lửa không bao giờ tắt, ba "nàng tiên" sống với nhau vui vẻ, êm đẹp, công việc trôi chảy đúng như đã hứa với binh trạm trưởng. Tưởng như họ sẽ sống với nhau đến khi nào đánh thắng thằng Mỹ. Thế mà chưa đầy một năm, cô gái có cái tên kép đã phải ra đi, chỉ còn Mùi và Phượng.


II


Với dòng suy nghĩ miên man, Mùi đã đãi xong mớ đỗ và khi lên bờ cô mới nhận ra sương tan từ lúc nào. Đã có một mảng nắng chói lòa trên triền núi Phun Kha. Ô, lại một cây đỗ quyên nữa ra hoa, một chùm hoa đỏ rực nom vui mắt quá thể khiến Mùi muốn reo lên. Cô đi lại phía xảy ra sự đột nhiên đó, vuốt ve chùm hoa và ngắm bóng chúng ngâm mình dưới đáy suối. Có lúc như thế đấy: niềm vui không được chia sẻ cùng ai, người ta muốn nhảy múa, muốn hát to lên hoặc làm cái gì đó cho thỏa thuê. Lúc này Mùi chợt nảy ra một cảm hứng, muốn xuống suối tắm. Chỗ này bây giờ vắng bóng đàn ông, thôi thì tha hồ thoải mái. Trút bỏ quần áo, Mùi ùm xuống suối bơi lội vẫy vùng. Mát mẻ quá, trời ạ.


 


Nhưng chỉ một lát sau cái cảm giác để thân trần cho dòng nước chảy vuốt ve mơn trớn làm Mùi hơi xấu hổ. Cô vội vàng lên bờ. Trong lúc hấp tấp bận quần áo, Mùi linh cảm thấy có đôi mắt nào đó đang nhìn mình. Chiếc nịt vú cài chưa xong, chợt nghe tiếng "khẹc, khẹc" giống như một tiếng cười đểu, Mùi hoảng hốt vơ chiếc áo che ngực, miệng há hốc, xuýt rũ lên. Từ trên cây vả bên kia bờ suối, một con khỉ đen, ức có chùm lông trắng, giương đôi mắt hau háu nhìn sang. Chao ôi! Lại chính là nó! Con khỉ này vắng bóng lâu lâu rồi, nay lại xuất hiện... Nét mặt Mùi tái đi, song cô trấn tĩnh để che giấu nỗi hoảng sợ. Trong lúc cô bận áo vào, con khỉ kêu lên những tiếng lí nhí như làm nũng. Kỳ quái thay, khi Mùi đưa mắt nhìn sang, lại thấy nó lim dim cặp mắt, hai tay vòng trước ngực, khuỷu tay tựa vào một cành ngang, mồm giẩu ra, môi chu như người ta hôn gió.


- Đúng là đồ khỉ!


Mùi kêu lên và cúi xuống nhặt một hòn đá nhằm nó tương sang. Chú khỉ có vẻ nhờn không bỏ chạy, chỉ né người tránh. Đến viên đá thứ ba thì nó giơ tay ra bắt lấy và lên giọng cười "khẹc khẹc", nó ném trở lại phía Mùi như cố tình đùa rỡn. Viên đá rơi vào mé suối làm nước bắn lên tung tóe. Mùi lùi lại vài bước chân, và con khỉ trên cành vả cũng bò ra chỗ mút cành, bất thần nó đứng thẳng dậy. Trời đất ạ, một con khỉ đực! Nó làm một động tác tục tĩu khiến Mùi vừa thực sự sợ hãi, vừa ngượng ngùng. Cô lùi vài bước nữa và vụt bỏ chạy. Lên đến đầu dốc, Mùi càng chạy nhanh hơn không dám ngoái cổ lại, vừa chạy vừa la: "Phượng ơi! Phư...ợng!"


Trong hang Phượng vẫn ngủ. Cho đến lúc Mùi chạy thốc vào, ôm choàng lấy ngang người Phượng, thở hổn hển, Phượng mới nhổm dậy, vẫn còn mắt nhắm mắt mở. Mùi kêu lên, giọng trách móc và hờn dỗi:


- Ngủ lấy chết à Phượng? Dậy mau lên! Trời ơi tao sợ quá!


- Gì mà chị hốt hoảng thế? - Phượng vừa hỏi vừa vặn lưng răng rắc.


- Nó lại về đấy!


Phượng ngơ ngác không hiểu nó là ai, đến khi biết chuyện thì Phượng phá ra cười:


- Thế mà chị cũng mất hồn! Nó nhớ chị đấy!


- Chỉ được cái lếu láo - Mùi gắt.


- Ô hay! Em nói thật, chị không nhớ cái dạo trước, hồi chưa có anh Ku Xê, nó vẫn mò về bên kia suối luôn. Chú khỉ mà tụi em vẫn đùa là chàng hiệp sĩ, bận đồ đen thắt nơ trắng í mà, nó chỉ trêu chị chớ có bao giờ nó dám trêu em và cái Tuyết Lan. Chị có nhớ hôm ba chị em mình đi tắm, em và cái Tuyết Lan về trước, chị chỉ nán lại sau một chút xíu là chú chàng xuất hiện...


- Thôi đi, đừng có ba hoa nữa. Tao còn vất vả mớ đỗ và bàn chải đánh răng ngoài suối, mày không sợ thì ra lấy hộ chị!


Vẫn bận nguyên bộ đồ ngủ, chiếc quần dệt màu nước biển và chiếc áo may ô trắng có in con số 4 sau lưng. Phượng xách khẩu A.K, lên đạn, khóa chốt an toàn cẩn thận, vừa đi vừa huýt sáo miệng. Ra đến cửa hang, cô còn ngoái lại nói vọng vào.


- Chị Mùi ơi! Chị không sợ em cuỗm mất người yêu của chị à?


Phượng cất tiếng cười khanh khách, nụ cười hồn nhiên tươi trẻ cứ vang mãi trong vòm hangn khiến Mùi cũng mỉmm cười theo. Phượng đi rồi, Mùi ngồi một mình trong hang, chợt cảm thấy chống chếnh. Biết đâu nó lại lẻn sang bên này suối mò đến đây. Cảm thấy lạnh. Mùi đến bên bếp đẩy ba khúc gỗ chụm đầu vào nhau cho sát hơn và chỉ vài hơi thổi, ngọn lửa bén lên cháy lem lém. Cô hơ tay lên bếp, mắt ngước nhìn cái mấu đá trên vách, nơi treo toòng teng khẩu AK của mình, ý định sắn sàng tự vệ. Quái lạ! Lẽ nào cái Phượng lại nói đúng! Con khỉ này biệt tăm đã vài ba tháng, nay lại trở về. Giống khỉ vốn thính nhậy thế. Chắc là nó biết trong cái quán này đã vắng bóng anh Ku Xê, nó chỉ sợ đàn ông chứ không sợ đàn bà. Nhưng không hiểu sao, trong ba chị em nó chỉ nhằm trêu Mùi? Mấy lần cả ba chị em gặp nó, lấy đá ném hoặc giương súng lên dọa là chú chàng không dám nhờn, chú nhẩy chuyền cành này sang cành khác, hoặc có lúc đứng rung cây một chặp, miệng kêu "khẹc khẹc" rồi cuối cùng cũng bỏ chạy. Cái Phượng và cái Tuyết Lan đã vài phen đi lẻ gặp nó, nhưng nó vẫn ngại ngại các cô ấy. Chỉ có lần Tuyết Lan về kể chuyện là "chàng hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng" giở đúng trò khỉ là chổng mông lên vỗ bành bạch, cáu sườn cô mới rẹt cho một loạt AK, chú chàng chạy biến. Riêng Mùi, bao giờ gặp nó, Mùi đều phát hiện ra là dường như nó đón đợi Mùi từ lâu. Nó không dọa mà có ý mơn trớn đùa bỡn. Cũng đã vài lần như sáng nay, nó làm Mùi vừa sợ vừa ngượng mà không dám nói với ai, kê cả Phượng và Tuyết Lan. Là gái có chồng, dù chỉ ở với chồng được đúng năm hôm trước lúc anh đi B. Mùi đã hiểu thế nào là đàn ông. Hai năm đã trôi qua, cái cảm giác rạo rực trong vòng tay chồng, mỗi lần nhớ lại dậy lên trong lòng Mùi một nỗi khao khát và bao giờ Mùi cũng cố xua đi bằng nhiều cách, mà cách tốt nhất là công việc nặng nhọc. Bởi thế cô không muốn tự gợi cho mình, và cũng thật không nên gợi sự tò mò cho Phượng và Tuyết Lan.


 


Chúng nó còn trẻ còn trinh trắng. Điều làm cho Mùi băn khoăn là tại sao con khỉ đột ấy lại nhận biết ra Mùi, dường như chỉ lưu ý tới Mùi? Có thể Mùi có một bộ tóc dài, đen bóng, bộ tóc gợi lên một nét mềm, duyên dáng trái hẳn với mái tóc cắt ngắn cũn cỡn của Phượng và mái tóc uốn của Tuyết Lan? Hay là nó biết Mùi, dù có mang súng đấy cũng chưa bao giờ giương lên dọa? Hoặc nó chính là Tề Thiên Đại Thánh, có đôi mắt thần nhìn thấy nỗi khát khao của một cô gái xa chồng? Ôi chao, nghĩ vậy Mùi cảm thấy muôn phần sợ hãi. Chính nỗi sợ hãi ấy đã ám ảnh Mùi, và cách đây ba tháng, Mùi đã bàn với Phượng và Tuyết Lan rằng, cái quán này nhất thiết phải có một người đàn ông. Mùi biết rằng, chung đụng với đàn ông là sự phiền hà, nhưng nếu chọn một người đứng đắn tử tế thì cũng yên tâm. Với lại còn hơn là để Mùi và các bạn gái khác bị ám ảnh vào những truyền thuyết từ xưa, rằng giống khỉ có thể hiếp đàn bà con gái. Mùi về binh trạm, gặp thiếu tá Lâm. Thoạt đầu người binh trạm trưởng ngần ngừ, ông vốn nổi tiếng nghiêm khắc, không bao giờ nới tay trong xử lý các vụ kỷ luật quan hệ nam nữ bất chính. Ông ngại một điều gì đó lèm nhèm sẽ xảy ra. Nhưng sau ông chợt nhớ tới Ku Xê, chiến sĩ bảo vệ của ông, người mà ông tin cậy. Ku Xê ít nói, hiền lành và là tay săn bắn giỏi vào bậc nhất ở binh trạm này. Hơn nữa ông tin Mùi. Thẳng thắn đề xuất một ý kiến như vậy, Mùi đã tỏ ra một người con gái có bản lĩnh vững vàng.


- Thôi được! Tôi cho cậu Ku Xê về dưới đó. Nhưng cô vẫn là người phụ tráh.


Thực ra Ku Xê không thích về quán. ở binh trạm, thỉnh thoảng anh còn được đi công tác để tạt về với vợ cách ba ngày đường núi, còn lên trên này càng xa và chỉ quanh quẩn một nơi. Chỉ vì lệnh của ông Lâm, không chấp hành không được. Có Ku Xê về, chị em trong "quán Tiên" yên tâm hơn, riêng cánh lái xe - những khách hàng quen thuộc là lên giọng trêu chọc châm biếm rằng, cái "quán Tiên" đã mất vẻ tiên. Quán Tiên mà để người trần lọt vào giống như truyện "Thiên thai" ngày xưa. Nhưng ngày xưa là hai chàng họ Lưu, họ Nguyễn còn bây giờ chỉ một anh chàn họ "Ku" ha ha! Những câu châm chọc tai ác thường nhằm vào anh chiến sĩ người dân tộc khiến Mùi nổi giận. Nhiêm mặt lại, cô thường nói những lời lẽ cứng rắn bắt cánh lái xe phải chấm dứt trò đùa tếu. Những lúc ấy, Ku Xê không nói gì. Cái tẩu ngậm trên miệng bốc những vòng khói xoăn tít như chính mái tóc của anh. Còn đôi mắt màu gio lại chỉ chăm chú nhìn vào đám bọt củi đang phồng lên xẹp xuống.


- Đồng chí Mùi1 mình làm việc chi?


Anh chấp nhận sự chỉ huy của Mùi như thế. Công việc rong quán không có gì nhiều, ba chị em là đủ, nếu như cái Tuyết Lan thỉnh thoảng không lên cơn "ít-tê-ri". Mùi chỉ giao cho Ku Xê nhiệm vụ săn bắn cải thiện. Quả thật đã xách súng đi, Ku Xê ít khi về tay không. Hôm thì gà lôi, cheo, cầy hương, có hôm được hoẵng, nai, gà rừng, nhiều nhất là doộc. Ăn uống trong nhà trở nên khấm khá đã đành, lại còn có thức ăn bán kèm theo xôi hoặc bánh chưng cho anh em lái xe. Có hôm, được những con thịt lớn, Mùi gửi về binh trạm hoặc san sẻ cho trạm giao liên đóng cách "quán Tiên" chừng dăm cây số. Điều quan trọng nhất của Mùi, khi đưa Ku Xê về là để xua tan cái ám ảnh về "chàng hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng". Cô hy vọng với tay súng cự phách của anh, Ku Xê sẽ hạ thủ chú khỉ đột nguy hiểm kia. Nhưng nó chỉ thành công ở dáng vẻ khác. Mấy buổi liền, Mùi dẫn Ku Xê đi ven suối để nhận mặt "kẻ thù", nhưng khi bắt gặp là chú chàng kêu thét lên một tiếng và bay từ cành này sang cành kia, hốt hoảng chuồn thẳng. Ku Xê lắc đầu bảo rằng, con khỉ này tinh khôn quá rồi, nó đánh hơi được anh là tay sát thú, nên sợ hết vía nó "hết muốn" tha thẩn quanh đây nữa. Lạ nhỉ, nó đánh hơi được ư? Nhưng đấy lại là điều có thật. Sau ngày hội ngộ đầu tiên với Ku Xê, "chàng hiệp sĩ bận đồ đen thắt nơ trắn" biệt vô âm tín luôn. chị em băn khoăn, tại sao Ku Xê nặng hơi sát thú mà săn doộc lại vào tay tổ thế? Doộc thì cũng là giống khỉ thôi. Có hôm anh khiêng về hai con một lúc. Hỏi, anh chỉ cười: "Mình muốn bắn nhiều nữa cũng được nhưng mình phải để dành". Anh coi đàn doộc như đàn gà trong chuồng nhà mình. Tuyết Lan là cô gái tò mò. Cô tình nguyện đi theo Ku Xê một hôm và đánh cuộc với anh là phải hạ được ba con để có phần cho cô gùi về, chị em mới thực sự phục anh sát ván. Ku Xê đồng ý. anh bảo cô gái bỏ túi một củ tỏi thì không thú gì đánh hơi được mình nữa. Sáng sớm ra đi, anh trèo lên trên đỉnh hangn lấy tay làm loa che tai, anh xoay bốn phía nghe ngóng như một chiếc ra đa điện tử. Tuyết Lan không nghe thấy gì, nhưng Ku Xê đã nhận ra tiếng hú của một đàn doộc từ rất xa. Anh nhằm theo hướng ấy, đạp rừng mà đi. Gặp được đàn doộc có đến hàng trăm con, Ku Xê chỉ rút tẩu ra nhồi thuốc hút ngồi đợi. Tuyết Lan giục anh bắn, nhưng anh vẫn ung dung nhìn theo khói thuốc. Đàn doộc đi đâu anh theo tới đó, vẫn chưa bắn. Anh bảo hãy đợi đến lúc chúng nó ngủ trưa đã. Quả thật, đến lúc đứng bóng, đàn doộc ngồi im phăng phắc, con nào con nấy nép vào cành lá để che mặt. Chả hiểu có phải chúng nó ngủ hay không, nhưng chúng hoàn toàn không biết gì khi Ku Xê lom khom di chuyển để lựa một tư thế bắn xuyên táo. Anh bình tĩnh nâng khẩu K.44 lên. Phát thứ nhất hai con doộc cùng rơi. Đàn doộc mở choàng mắt vẫn chưa hiểu ra chuyện gì thì Ku Xê nã tiếp một phát nữa. Bấy giờ đàn doộc mới kêu ầm ĩ và chuyền cành thoăn thoắt, chạy biến. Thế là xong, gùi một lúc ba con doộc về, và sự nổi tiếng về tài săn bắn của Ku Xê đã lên tới tỉnh.Từ đó, Tuyết Lan thường hay đi theo Ku Xê hái măng, hái nấm và các loại lá cây có thể ăn được, nào là dương xỉ, tai nai, môn thục, đoác... Phượng là đứa tinh nghịch, thường trêu Ku Xê và Tuyết Lan là hai anh em, bởi Tuyết Lan có nước da ngăm ngăm đen, hơi tái tái, và mái tóc uốn tuy lâu ngày không làm lại đã có phần duỗi ra, nhưng vẫn còn lưu lại vẻ loăn xoăn. Ku Xê chỉ cười và cũng biết nói một câu đùa: "ừ nó là người dân tộc Pakoh mình đó". Tuyết Lan vui vẻ thực sự, đôi mắt ướt của cô long lanh vui vẻ hẳn lên. Từ ngày Ku Xê về, rõ ràng Tuyết Lan giảm hẳn căn bệnh "ít-tê-ri". Hồi trước cứ dăm bảy ngày, cô lại lên cơn. Phượng vào dỗ dành xoa bóp thường bị xua đuổi, có lúc Tuyết Lan còn ôm lấy bạn mà cấu xé. Vậy mà nay Tuyết Lan lại thích hát, vừa gói bánh chưng vừa hát đã đành, chặt gỗ, gùi nếp ở trạm giao liên về, nặng nhọc toát mồ hôi, cô vẫn hát. Mà nào hát có hay gì đâu, giọng cứ the thé như mèo cái động tơ, cái Phượng thường trêu là đài "Be be xe" đã lên tiếng. Tuyết Lan thay đổi và việc gì lo ngại sẽ xảy a, đã xảy ra. Tuyết Lan chợt biếng ăn, người gầy đi, trên cổ nổi rõ những đường gân xanh, đôi lúc nôn oẹ, triệu chứng của người có nghén. Mùi và Phượng thực sự lo ngại thì thầm với nhau. Hỏi gần hỏi xa, Tuyết Lan lắc đầu kêu là mệt mỏi mấy hôm thôi. Hôm ra suối tắm, Mùi đành bắt Tuyết Lan cởi áo trong ra. Nhìn thấy đôi núm vú đen xỉn lại, Mùi thốt lên "Chết mẹ mày rồi em ơi!". Buổi tối Tuyết Lan trùm chăn khóc thút thít. Ku Xê ngồi bên bếp lửa đan cái Ate (1)bằng mây để gửi về làm quà cho vợ. Mùi hỏi thẳng Ku Xê, giọng nghiêm túc:


- Đồng chí có biết vì sao nó khóc không?


Mắt vẫn để trên đường mây trong tay. Ku Xê đáp:


- Biết.


- Vậy đồng chí có nhận là mình phạm lỗi không?


- Có nhận. Mình có khuyết điểm.Nhưng cũng tại đồng chí Mùi bảo mình...


Mùi trố mắt ra, chưa kịp ngạc nhiên về sự đổ vấy như thế, đã sực nhớ ra hôm Tuyết Lan lên cơn "ít-tê-ri".


Hôm ấy, nó cười sằng sặc như con điên, rồi úp mặt xuống sạp khóc rưng rức, sau đó lên cơn run giật từng hồi. Mùi đã từng hỏi bác sĩ và được biết "ít-tê-ri" là căn bệnh thuộc hệ thần kinh mà các bậc lương y thường gọi là "chứng uất". Thường là do thất tình quá độ làm tâm thần rối loạn gây nên. Mùi không hiểu rõ mối tình của Tuyết Lan, bởi nó là đứa ít bộc bạch tâm sự. Chỉ biết nó đang ở tuổi hai ba và đã từng yêu một anh nào đó hồi còn học sinh phổ thông với nhau. Có khi cũng chẳng phải thất tình, dạo ấy đám thanh niên xung phong ở Trường Sơn bị bệnh này khá phổ biến. Nó chỉ lên từng cơn, xong lại thôi. Nhưng bao giờ cũng thế, khi lên cơn, có đàn ông vào săn sóc là cơn bệnh ui ngay, ít tổn hại thần kinh. Hiểu như vậy Mùi bèn gọi Ku Xê đến săn sóc Tuyết Lan. Thoạt đầu ku Xê ngồi đức ra không biết làm gì. Mùi phải bảo anh hãy xoa tay chân mặt mũi cho nó, vậy mà anh vẫn ngượng ngùng lóng ngóng làm sao ấy. Mùi và Phượng bèn kéo nhau ra ngoài để cho anh được tự nhiên. Thế đấy, chả lẽ lầm lỗi của Ku Xê và Tuyết Lan lại bắt đầu từ sự từ tâm chính đáng ấy? Dù sao, cũng là sự đã rồi. Biết ăn nói làm sao với Binh trạm trưởng đây? Và Mùi đã chọn cách nói thật nói thẳng, nhưng nói với chính ủy trước, để chính ủy liệu đường nói với ông Lâm. Thế mà thiếu tá Lâm vẫn nổi trận lôi đình. Ông xạc Mùi một chặp làm như chính Mùi là đầu têu của câu chuyện bất chính này. Đôi mắt đỏ ngầu, tấm lưng gù xuống như lưng gấu, ông gầm lên gọi Ku Xê là thằng "ôn dịch", gọi Tuyết Lan là con "đĩ rạc" - "Bắt chúng nó về đây, trói mẹ chúng nó mỗi đứa một gốc cây, cho mỗi đứa nếm năm chục roi hèo, làm gương cho thiên hạ. Như các cụ ngày xưa, có khi lại hóa hay". Ông gầm lên như thế cho hả giận, chứ cuối cùng ông chẳng hề giở cái luật man rợ ấy ra được. Tuy nhiên ông vẫn không nới tay, ông gọi ku Xê về bắ làm kiểm điểm, chịu kỷ luật cảnh cáo, hạ tầng từ binh nhất xuống binh nhì và thuyền chuyển vào trạm giao liên số 41. Đấy là trạm giao liên ở vùng nước độc nhất lại ác liệt nhất bởi vì luôn phải dẫn khách qua sông xê Công. Còn Tuyết Lan, thoạt đầu ông đòi đuổi về địa phương cho họ hàng làn nước ỉa vào mặt. Chính ủy can thiệp, ông mới chịu cho Tuyết Lan đi viện nạo thai, xong sẽ về đội thanh niên xung phong xung kích lấp hố bom ở ngầm Tà Khống, nơi suốt ngày suốt đêm không mấy khi ngớt bom đạn. Binh trạm trưởng thường có cái nết như thế: Ông coi nơi gian khổ ác liệt là nơi rènn luyện, thử thách con người cao nhất. Giáp mặt với cái đói khát, cái chết chóc con người sẽ tự bộc lộ mình ra. ở đấy không dung nạp được những con người mập mờ, chung chung, ông không ưa loại người này. Là binh trạm trưởng một tuyến đường dài hàng trăm kilômét, nhưng ông chưa bao giờ là kẻ tìm nơi ẩn núp an toàn. Nơi nào ác liệt nhất là ông có mặt, ông tự bảo hoặc là mình chết hoặc thằng Mỹ phải thua, máy bay nó bị hạ, đường sẽ phải thông, hàng phải ra tận tiền tuyến. Mỗi lần ở chỗ ác liệt trở về, cái tự hào của người chiến thắng như những chất men kích thích, ông càng tin vào sự cứng rắnn của mình. Nhưng đằng sau cái lý lẽ đẹp đẽ ấy, chính ông Lâm cũng không nhận biết ra một thói xấu khác đang ẩn náu. Bởi muốn bộc lộ uy quyền của mình, nên ông coi nơi gian khổ ác liệt là nơi trừng phạt con người, một nơi để thi hành bản án khổ sai, thậm chí cả bản án tử hình nữa. Ku Xê cắp ba lô đi là đi thẳng luôn, không ngoái cổ lại. Còn Tuyết Lan, trước khi đi Tà Khống nó trở về "quán Tiên" để chia tay vói Mùi và Phượng. Con bé đến là nhơn nhơn, nó coi như không có chuyện gì xảy. Nó còn trắng trợn nói thẳng ra rằng nó có yêu gì Ku Xê, anh chàng "cù lần" ấy đâu. Chẳng qua, chậc... - no tặc lưỡi, giá có thuốc uống chống thụ thai thì đâu đến nỗi. Tuyết Lan ăn nói bạo mồm, khiến Mùi kinh ngạc. Nó tìm ở đâu ra được cái lý lẽ như thế không biết? Có thể nó nói đúng chăng, đôi lúc Mùi phân vân. Nhưng dù sao, cái ấn tượng của Tuyết Lan để lại là ấn tượng xấu. Mùi còn một nỗi lo khác. Tuyết Lan đã đành phận nó, nhưng còn cái Phượng, nó là đứa con gái xinh xẻo, trẻ nhất đám, lại có văn hóa. Nó yêu Quỳnh, một mối tình chính đáng. Quỳnh là tay lái xe "Zin 157" đầu tời, một thanh niên đẹp, khỏe mạnh và dũng cảm. Quỳnh và Phượng lại là đồng hương với nhau. Thực ra, đồng hương cũng là do cô cậu nhận nhằng. Phượng quê Kỳ Anh thuộc Hà Tĩnh mà quỳnh quê bên Quảng Trạch thuộc Quảng Bình. Tuy nhiên, hai huyện lại giáp giới với nhau, chỉ băng qua cái Đèo Ngang cao vời vợi và dài dằng dặc thế kia, họ vẫn cãi là chỉ cách nhau chút xíu. Họ còn đem cái nghề làm nón cổ truyềnn của Ba Đồn và Kỳ Anh ra để chứng minh là hai miền đất này cùng chung một gốc. Dẫu cho bạn bè có trêu họ là "đồng hương ngoại lệ" thì họ vẫn yêu nhau. Mỗi lần nhe tiếng ì ì nặng nề thỉnh thoảng xen vào tiếng gầm xe kêu kèn kẹt, biết chiếc "Zin 157" đầu tời của Quỳnh tới, là Phượng cuống quít lên, đứng ngồi nhấp nhổm. Còn Quỳnh thì chén xong xôi hoặc bánh chưng, trả xong mấy đồng giấy bạc Trường Sơn (2)rồi, vẫn còn nấn ná, mặc dù lệnh của binh trạm trưởng không cho phép lái xe nào được dừng ở quán quá 15 phút, Mùi phải nhắ nhở hoặc thân mật xua đuổi Quỳnh mới chịu đi. Và bao giờ, Phượng cũng tiễn Quỳnh ra xe. Họ yêu nhau như là sự tất yếu vậy. Mùi thường quan sát họ với đôi mắt người chị cả, bao dung và đầy lo toan. Nỗi lo của Mùi càng tăng thêm sau câu chuyện lèm nhèm của Tuyết Lan vỡ lở. Cách đây một tháng, Quỳnh được lệnh đánh xe vào trực chiến trong ngầm Tha Mé để kéo các xe bị rệ vì khu vực đó bị đanhs phá ác liệt quá. Hôm đó Quỳnh thật liều lĩnh đánh xe đến "quán Tiên" giữa ban ngày, cốt để tạm biệt Phượng. Suốt mấy tiếng đồng hồ, cô cậu quấn quít lấy nhau không rời nhau nửa bước. Vì ý tứ và thông cảm, Mùi giành lấy công việc trong quán mà làm để cho Phượng được thoải mái. Cô còn đưa mắt ra hiệu cho Tuyết Lan cấm không được làm chúng nó mất tự nhiên, vì Tuyết Lan có nết xấu hay ghen ghét. Có thể do Mùi độ lượng và dễ dãi nên cô cậu đan rì rầm trò chuyện trước cửa hàng, nhoàng một cái, đã thấy mất hút cả đôi. Mùi lo lắng và im lặng đi tìm. Ra đến ngoài suối thì quả nhiên thấy đôi tình nhân đang ôm hôn nhau trong một tư thế có phần lả lơi. Bất giác Mùi khẽ thở dài rồi cất tiếng gọi Phượng. Lần ấy, Mùi đã nhắc nhở Phượng, rằng làm thân con gái phải biết giữ gìn, Phượng chỉ đỏ mặt, không nói gì. Bây giờ tấm gương của Tuyết Lan đã tầy liếp, Mùi càng phải để mắt đến Phượng. Nó mà có làm sao thì chính Mùi cũng không dám nhìn mặt ai nữa. Người ta có quyền nghi ngờ cả Mùi. Một đêm, Mùi ôm lấy Phượng thủ thỉ:


- Phượng ơi! Chị hỏi thật em nhé! Em và Quỳnh yêu nhau có để xẩy ra điều gì đáng tiếc không?


Phượng bật cười:


- Chị này lẩn thẩn. Đáng tiếc là thế nào? Chẳng có gì đáng tiếc cả.


Hiểu câu nói của Phượng ra một ý nghĩa táo bạo, Mùi đâm hoảng:


- Chết thật! Em nói gì thế? Chị hỏi em nghiêm chỉnh đấy! Chị thấy em và Quỳnh yêu nhau quá! Nếu muốn thành hôn thì để chị báo cáo với binh trạm xin phép hẳn hoi. Cơ mà rồi sẽ phải về hậu phương thôi! Chứ đèo bòng con cái ở giữa chiến trường sao được. Đừng để xẩy ra như cái Tuyết Lan...


Phượng càng cười ré lên:


- Trời đất ạ! Chị lẩn thẩn vừa chứ1 Cái Tuyết Lan khác mà em khác. Chị cứ yên tâm.


Sau tràng cười, Phượng xoay người ôm lấy ngang lưng mùi, giọng hờn dỗi:


- Vậy là chị không tin em rồi.


- Không, chị tin, chị tin em.


Quả thật sau đêm tâm sự ấy, Mùi mới yên tâm, Phượng là cô gái đáng tin. Mà không tin Phượng biết còn tin ai, trong quán lúc này chỉ còn hai chị em. Ban đêm có anh em lái xe qua về còn vui vui, chứ ban ngày vắng hoe. Sau vụ Ku Xê và Tuyết Lan ra đi, binh trạm vẫn chưa cho bổ sung thêm người mà Mùi cũng chưa xin, chỉ còn hai chị em, vất vả thì không đáng kể bằng sự trống trải, buồn hiu. Vậy mà nay "chàng hiệp sĩ bận đồ đen thắt nơ trắng" lại xuất hiện gây nên một nỗi lo sợ đến cháy lòng.


__


(1) Gùi của phụ nữ Pakôh.


III


Từ buổi sáng hôm ấy, Mùi không dám ra suối một mình. Ám ảnh về "chàng hiệp sĩ bận đồ đen thắt nơ trắng" len vào cả trong giấc ngủ. Vẫn thế, vẫn cái cảm giác như có ai đó hú gọi mình, làm Mùi choàng tỉnh dậy kể cả lúc có tiếng máy bay trinh sát điện tử rà sát trên đỉnh cây. Choàng tỉnh dậy rồi không tài nào ngủ tiếp được nữa. Thực ra, Mùi và Phượng chỉ gặp chú chàng một vài lần, vẫn ở trên cây vả đổ nghiêng ra bờ suối. Chú chàng lại kêu "khẹc khẹc" rồi rung cây. Phượng bèn quát lên "cút đi" và lấy đá ném là chú chàng bỏ chạy. Mỗi lần ra suối họ đều phải mang súng, kể cả Phượng tuy nói cứng thế nhưng vẫn chờn. Một buổi chiều, ra suối tắm, để thử xem con khỉ có phải chỉ nhằm trêu Mùi không, hai chị em bàn tính với nhau để Mùi xuống tắm trước, còn Phượng thì nằm phục sau một mô đá xem xét. Quả nhiên, khi Mùi lội xuống suối là chú chàng xuất hiện. Lại vẫn ngắm Mùi một cách say sưa và làm những cử chỉ khó coi. Mùi hoảng sợ chạy lên bờ và chính Phượng cũng rú lên, xách súng chạy xuống nổ tràn một loạt A.K.


- Đích thị là nó mê chị nhé!


Phượng nói, sau khi ở ngoài suối về. Bây giờ Mùi không mắng Phượng là lếu ló mà cảm thấy tủi thân. Cô tự hỏi mình, lẽ nào lại như thế nhỉ! Lẽ nào con khỉ lại mê mình? Hay vì sắc đẹp mình đã tàn phai, không người con trai nào thèm để ý đến mình nữa, chỉ riêng loài khỉ? Hay chỉ vì thói quen của người luôn nắm cương vị phụ trách, mình đã khéo che giấu cái nỗi khao khát bình thường của con người, mà chỉ riêng chú chàng "Tề Thiên Đại Thánh" nhìn nhận ra? Quả thật, hồi ở thanh niên xung phong đi mở đường cũng như về phụ trách cái quán này, Mùi luôn luôn phải tỏ ra cứng rắn. Trước mặt đànn ông, cô thường tự tạo ra một khoảng cách, với bộ mặt làm nghiêm, với đôi mắt nhìn thẳng và trái tim giàu cảm xúc bị dồn nén, tất cả những sự lên gân ấy là một lời cảnh cáo: hãy coi chừng, nếu muốn ăn một cái tát thì cứ việc... Ôi, lẽ nào mới hai mươi lăm tuổi mình đã đánh mất hết vẻ hồn nhiên thoải mái của tuổi trẻ. Mình trở thành một bà cụ già rồi chăng? Không, không phải thế! Mùi biết cô còn khá duyên dáng dễ ưa. Bọn cái Phượng, cái Tuyết Lan đều nói thế đã đành mà những lời tán tỉnh vụng trộm của đám đàn ông còn quả quyết hơn. Rằng nếu đem Mùi ra Hà Nội hãy còn "được giá" lắm. Rằng đấy chỉ là một thứ lô cốt ngoài cứng trong mềm, công phá được lô cốt này mới là thằng tài hoa... Đêm hôm ấy, Mùi bảo Phượng:


- Chị phải về binh trạm, xin bổ sung thêm người. ở đây nhất thiết phải có một người đàn ông thôi, Phượng ạ!


Phượng không ngạc nhiên về ý định của Mùi, chỉ lo binh trạm trưởng không chấp nhận. Nhưng Mùi muốn tỏ rõ bản lĩnh của mình đã gặp thẳng thiếu tá Lâm, mà không cậy cục chính ủy nói như lần trước. Cô biết binh trạm trưởng thường khoái những cuộc nói chuyện thẳng thừng, dù có phải đốp chát cũng được. Ông Lâm cau cau nét mặt nghe Mùi trình bày xong đề nghị, bèn nhếch mép cười:


- Hừm! lại một người đàn ông! Không có đàn ông trong quán làm cô sợ à?


- Vâng, em sợ!


Ông gườm gườm nhìn Mùi, như đe dọa:


- Vậy cô có đảm bảo rằng không có chuyện gì xảy ra không?


Mùi đáp, không ngần ngừ:


- Em đảm bảo làm sao được, miễn là thủ trưởng chọn cho em một người đứng đắn, tử tế.


- Chà, chà, biết thế quái nào là đứng đắn tử tế! Thằng Ku Xê đó, hiền như cục cơm...


- Hay thủ trưởng cho chúng em đi làm việc khác. Thủ trưởng giao quán cho cánh đàn ông quản.


Ông Lâm giẫy lên:


- Thế thì còn gì là ý nghĩa cái quán, mà đây lại là "quán Tiên" cơ mà! Thôi được! Tôi chấp nhận.


Đi về theo Mùi là một chú bộ đội mười chín tuổi, mặt non choẹt, đôi mắt ngơ ngác và hai tai điếc đặc. Thiệt cái tên có vẻ như tính nết của chú. Theo lời giới thiệu của binh trạm trưởng, Thiệt là một chiến sĩ công binh dũng cảm, quê Nghệ Tĩnh. ở Bến phà Tà Không, Thiệt đã vần khôngn biết bao nhiêu quả bom nổ chậm xuống suối, đã từng chui xuống hút bom sầy vai ngạt thở. Một hôm quả bom vừa rời khỏi tay Thiệt, bắt đầu mớm vào mép bờ dốc thì nổ. Anh em công binh kêu hoảng lên tưởng là Thiệt tan xác nhưng anh chỉ bị đất vùi. Khi moi lên tay chân anh mềm nhũn máu rỉ ra ở tai và mũi.


 


Ra viện, anh cầm giấy chứng nhận của bác sĩ là mất sức chiến đấu, thương tổn thần kinh đặc biệt là hệ thần kinh thính giác, phải một thời gian an dưỡng nghỉ ngơi mới có khả năng hồi phục. Nhưng Thiệt nhất định không chịu về hậu phương, xin ở lại làm việc gì cũng được. Có ai lại nỡ từ chối một tấm lòng nhiệt thành như vậy? Cho Thiệt đến "quán Tiên" ông Lâm coi như một chỗ nghỉ ngơi an dưỡng. ở đấy chủ yếu là chỉ cần có bóng dáng đàn ông để giống khỉ không dám lai vãng, còn công việc thì không có gì là nặng nhọc. Điều này ông Lâm đã cân nhắc khá kỹ. Thiệt là một chú bé mới lớn chưa biết yêu đương là gì, lại là con một gia đình cách mạng, bố mẹ đều là cán bộ ở tỉnh và ở huyện, sự giáo dục của gia đình có tác động rõ nét, hai năm qua sống trong quân ngũ, Thiệt là chiến sĩ có kỷ luật, dũng cảm và đứng đắn.


 


Thiệt về "quán Tiên" với một thái độ ngơ ngác, rụt rè.Biết Mùi và Phượng đều lớn tuổi hơn mình, nên Thiệt tỏ ra lễ phép, trong xưng hô lúc nào cũng một chị, hai chị. Mùi thì không nói làm gì. Chứ Phượng thực ra chỉ nhỉnh hơn Thiệt một tuổi. Vậy mà ngay từ lúc Thiệt mới đến, chiếc ba lô con cóc lép kẹp sau lưng, khẩu K.44 tòng teng trên vai, Phượng vỗ tay reo lên: "A một chú nhóc". Quả thật, Thiệt tuy không phải quá nhỏ con, song, nom anh chưa ra dáng người lớn, nó cứ ngô ngố làm sao ấy. Đặc biệt, đôi mắt luôn luôn ngơ ngơ ngác ngác như thể cái gì đối với anh cũng lạ lùng cả. Sự ngơ ngác của anh càng tăng thêm có thể vì do anh bị điếc nữa. Nói chuyện với Thiệt cứ như la làng, ghé miệng sát tai rồi vẫn còn như quát làm Phượng vốn đã tinh nghịch càng nảy ra nhiều trò quỷ quái trêu Thiệt. Đến bữa ăn, Phượng móc trong túi ra một nắm ớt chỉ thiên và hỏi Thiệt:


- Có ăn cứt không?


- Có!


Thiệt gật đầu, và Phượng lăn ra cười, sặc cơm, vừa cười vừa ho rũ rượi. Mùi cũng phải bật cười, nhưng liền sau đó là răn đe Phượng. Cấm không được giễu cợt người tàn tật, phải tội đấy. Hơn nữa Thiệt bị thương trong chiến đấu, giễu cợt thương binh chẳng những phải tội, còn phạm chính sách nữa. Phượng vâng vâng dạ dạ, nhưng chiều hôm đó. Phượng và Thiệt đi hái củi, cô lại giở trò khác. Đang đi, Phượng vụt ngước mắt lên trời rồi vùng chạy đến nấp sau một gốc cây. Lập tức Thiệt nằm xoài xuống, hai tay bịt tai chờ đợi một tiếng nổ. Đến khi thấy Phượng vỗ tay cười rũ ra, Thiệt mới biết mình mắc lỡm, lồm cồm đứng dậy, phủi quần áo. Vậy mà Thiệt chẳng giận, toét miệng cười:


- Bây giờ em là thằng gan nhất. Người ta bảo điếc không sợ súng mà.


Đối với Mùi, Thiệt tuy có điếc một tý cũng chả sao. Cậu ấy xem ra chăm chỉ, ngoan nết.Với lại điếc thì ăn nhằm gì, có Thiệt là có tiếng đàn ông trong nhà, đỡ sợ những chuyện vớ vẩn. Mùi và Phượng bàn với nhau rút kinh nghiệm việc anh Ku Xê lần trước, lần này phải cấm Thiệt chưa được ra bờ suối vội. E chàng "hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng" thấy bóng Thiệt lại co giò, chạy biến, mai kia nếu Thiệt đi đơn vị khác thì đâu lại vào đấy. Con khỉ này tinh khôn đến phát sợ, nó gần giống như một thứ yêu tinh vậy. Đánh răng rửa mặt đã có Mùi và Phượng xách nước về. Còn bến tắm cho cậu em út, các chị quy định một chỗ cách xa quán hàng dăm trăm mét về phía hạ lưu con suối Nậm Bu. Mấy ngày liền, Mùi bảo Thiẹt tập ôn lại xạ kích K.44 với yêu cầu là ngay từ phát đầu đã phải trúng đích. Trong lúc đó, hai chị em nghiên cứu lại quy luật xuất hiện của đối thủ. Dường như con khỉ này ở trong hang đá trên đỉnh núi Phun Kha. ở đó nó có thể quan sát được một phạm vi dài dọc suối Nậm Bu và sang bên này "quán Tiên" nữa. Bởi thế, nó thường xuất hiện lúc chị em ra suối mà đặc biệt là khi đi tắm. Thường thường lúc đang tắm rửa chừng là thấy động trên cành vả, ngẩng mặt lên đã thấy chú chàng đến đấy từ bao giờ. Có hai chị em, nó chỉ rung cây hoặc đu cành này sang cành khác ra vẻ ba lơn. Nếu chỉ mình Mùi, nó ngắm nhìn một cách say sưa và có những cử chỉ thèm muốn của giống đực. Cuộc phục kích được sắp xếp khá cẩn thận. Buổi chiều hôm thứ nhất mới diễn tập, Phượng dẫn Thiệt ra cái mô đá hôm nọ Phượng đã núp, trong túi người nào cũng bỏ một củ tỏi để giống khỉ không bắt được hơi lạ theo kinh nghiệm của Ku Xê. Hai người nằm phục cốt để Thiện nhận được đối thủ. Trong lúc đó Mùi cứ ung dung xuống suối tắm. Dù sao cũng nên tha thứ cho chàng thanh niên mới lớn khi trước mặt mình là một người đàn bà đang tắm, dù người đó là Mùi đã hết sức ý tứ. Đấy là ý nghĩ của Phượng lúc cô phải cấu vào vai Thiệt và trỏ lên cành vả đang rung rinh. Vẫn như những hôm trước, chú khỉ giở trò trêu Mùi, nhưng hôm nay Mùi hoàn toàn yên trí nên cô vờ khoát nước hắt lên cành vả đùa lại. Lập tức chú khỉ thích chí nhảy cẫng lên từ cành này sang cành nọ, hái quả và ném xuống phía Mùi. Đầu ruồi khẩu K.44 rê theo đối thủ và dừng lại lúc nó đứng thẳng người dậy. Nhưng Phượng đã xua tay ra hiệu chưa được bắn, và cô chạy thẳng xuống bờ suối, khẩu A.K cầm tay, hét lên: "Cút đi, cút đi!..." Thấy Phượng, chú khỉ bay lên một cành cao, rung tít một chặp, rồi bỏ chạy.


 


Cuộc diễn tập thành công và giờ phút quyết định số phận của "chàng hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng" đã được sắp xếp vào chiều hôm sau, lúc nắng hãy còn gay gắt. Thoạt đầu tưởng thất bại, vì lúc Mùi vừa xuống suối thì bỗng nhiên có máy bay lao đến trên đầu. Chúng liệng vòng và bổ nhao ném bom phía cây số 95. Trong tiếng rít của máy bay, tiếng bom dội vào thành núi đá ầm ào. Mùi phải ngâm mình dưới nước, ép đầu vào một mô đá. Lúc máy bay chuồn khỏi. Mùi vừa bơi ra chỗ nước sâu đã thấy chú chàng ngồi trên cây. Thì ra, nghe tiếng bom chú khỉ cũng chỉ núp ở đâu đó thôi. Trò đùa giỡn ve vãn của "chàng hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng" vẫn cũ mèm, chẳng có gì mới. Điều mới nhất là "chàng" không hề biết đường ngắm của một tay súng đang rê theo mình. Đoàng! Phát súng nổ vừa đúng lúc chú chàng đứng thẳng dậy. Trong tiếng hét thất thanh, cái vệt đen loạng choàng rồi trượt theo cành một thôi, cuối cùng rơi bịch xuống cạnh gốc vả (về sau mới biết tiếng thét kinh hoàng đó là của Mùi). Không hiểu sao Mùi cứ đứng ngẩn ngơ như trời trồng hai tay khoanh trước cái "coóc xê" ướt sũng, trong lúc Phượng và Thiệt vừa reo vừa xách súng bơi ào qua suối. Con khỉ khá to, e đến hai chục kilô nằm dài trên đám sỏi khô. Phát đạn của Thiệt bắn trúng ức, đám lông trắng lúc này đã trở nên đỏ sẫm. Nó còn thoi thóp, ngắc ngoải, đôi mắt mở to chỉ thỉnh thoảng nhíu lại qua từng cơn co giật tay chân. Đôi mắt màu đồng thau chợt long lên khi thấy Phượng và Tiệt tới - một biểu hiện bất lực của sự phẫn nộ tột cùng. Thiệt dí nòng súng vào giữa trán nó và bảo như bảo với một con người hực sự:


- Cầu chúa đi! Để tao gia ơn cho một phát nữa!


Phượng gạt nòng súng của Thiệt và hét vào tai anh:


- Không được bắn! Tội nó!


Và cô gọi Mùi rối tít. Mùi bơi sang, ngồi xổm xuống cạnh nó. Đôi mắt đồng thau đang khép hờ lại vì đau đớn chợt bừng mở, và dường như khi nhận ra dáng quen, nó nhìn Mùi trân trân. Một cái nhìn thật lạ lùng, dịu dàng, lưu luyến, nuối tiếc... Bất giác Mùi cũng xúc động, ngồi thẫn thờ! "Chàng hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng" rên lên một tiếng như tiếng người, và từ đôi mắt đồng thau hai dòng nước mắt trào ra khiến Mùi hốt hoảng đứng dậy quay mặt đi. Phượng va fThiệt đưa mắt nhìn nhau vẻ ngạc nhiên về hiện tượng kỳ lạ này. Không khí bỗng nhiên chùng xuống, mất vui. Về đến "quán Tiên" Mùi nổi cáu khi thấy Thiệt và Phượng lui cui bắc nước huẩn bị giết thịt.


- Không! Không! Đem chôn nó đi! Không được giết thịt!


Thiệt hủ hở hỏi mãi mới thủng chuyện, cậu càu nhàu:


- Hoài của! Những vài yến thịt chứ phải ít. Lại còn bộ cốt. Đưa về xuôi, bộ cốt này đổi được cái "Xiêng Mao".


Càu nhàu vậy rồi cũng phải chấp hành lệnh của Mùi. Với lại Phượng đã cảm thấy ngại ngùng khi phải giết thịt nó. Ăn miếng thịt khỉ mà cảm giác là thịt người, thì chỉ có oẹ thôi. con khỉ này chắc tu luyện lâu năm đã tinh khôn như người, có khi còn hơn cả người nữa. Thôi đã hóa kiếp cho nó thì để nó được mồ yên mả đẹp. Phượng và thiệt đào một cái huyệt ngoài rừng để vùi nó. Họ còn đắp điếm cẩn thận, chẳng khác gì ngôi mộ của người. Thiệt coi vậy mà nghịch ngầm, cậu còn đóng một cây thập tự đầu mộ y như hôm nào cậu đi chôn thằng phi công Mỹ bị bắn rơi chết cháy thui. Lấy dao găm phạt thân cây dẻ phía trước một thành một vạt phẳng, trên đó anh khắc một dòng chữ: "Chàng hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng bị hạ thủ" bởi tay súng Bùi Văn Thiệt ngày 24 tháng 6 năm 1966". Tuy là trò nghịch nhưng Thiệt có ý đồ đánh dấu ngôi mộ.


IV


Lẽ ra Mùi sẽ được thanh thản trong lòng, nhưng trái lại cô càng thắc thỏm thêm. Thì ra chính mình cũng độc ác, mình đem thân thể ra làm mồi dứ nó, để nó bị hạ thủ. Nó là con khỉ thật đấy, nhưng sao mà nó cũng cảm xúc như con người. Chao ôi, thấy nó trào nước mắt, Mùi rụng rời cả tay chân. Lẽ nào nó chính là một thứ "Tề Thiên Đại Thánh"? Nó chỉ bị đày đọa làm kiếp khỉ chứ xưa kia nó cũng là một kiếp người? Theo lý lẽ của cậu Thiệt thì hạ thủ nó chính là làm phúc cho nó, nó sẽ đầu thai một gia đình diễm phúc nào đó để trở thành một ông Mạc Đĩnh Chi chẳng hạn... Những câu chuyện hư hư thực thực ấy thường xảy ra sau bữa cơm chiều lúc vòm hang mờ tỏ và ngồi từ trong hang nhìn ra, những chùm thạch nhũ bỗng nhiên mang dáng vẻ những chiếc đinh ba hoặc chiếc côn đang chỉa xuống. Bếp lửa đã đỏ. Dù đang giữa mùa hè, đêm xuống trong hang vẫn cảm thấy lạnh.


- Em đố chị Mùi ra chỗ cây dẻ một mình - Thiệt trêu.


- Thôi đi! Nói chuyện khác! - Mùi gắt và cô lái sang chuyện thời sự mới toanh: đơn vị cao pháo 37 ly ở cửa rừng vừa hạ một F.105 tên giặc lái nhảy dù nghe đâu chưa ttruy lùng được.


Chuyện thời sự hạ máy bay cũng chỉ hưởng ứng được một chốc rồi lại im. Bởi nói chuyện với anh điếc đến là mệt, quả là "điếc một việc thành hai". Lúc im lặng, Mùi không sao dứt ra khỏi ám ảnh về con khỉ kỳ lạ. Mùi chợt hối hận, biết thế mình đừng cho chôn, cứ gùi thẳng lên biếu binh trạm có khi lại ổn. Cơ mà cứ nghĩ đến phải giết thịt nó cũng tội. Bây giờ thì sự đã rồi. Ngôi mộ nó chỉ cách cửa hang vài trăm mét. Ban đêm nhìn xéo về phía ấy, đom đóm lập lòe có vẻ sáng hơn. Tiếng con cú rúc nghe cũng não nuột hơn. Toàn những ý nghĩ vớ vẩn khó xua đuổi. Mùi trở nên hoạt bát hẳn lên là khi nghe tiếng xe ô tô đỗ ngoài bến. Bấy giờ không khí trong quán xôn xao vui vẻ. Cùng với những giọng nói trầm và vang là mùi thuốc lá, thuốc lào, mùi xăng dầu dính bết vào quần áo và mùi mồ hôi đàn ông. Những câu chuyện làm quà, những câu nói bông phèng, thậm chí cả chuyện tiếu lâm nữa làm cả nhà cười vỡ vòm hang. Sự vui vẻ xôn xao chỉ đến ba giờ sáng, giờ binh trạm quy định không tiếp khách nữa. Mùi sợ giấc ngủ. Cô nhắm tít mặt lại mà đầu óc vẫn thắc thỏm những chuyện không đâu vào đâu. Nghe nhịp thở của cái Phượng nằm bên cạnh và tiếng kéo gỗ đều đều của cậu Thiệt nằm ở ngăn ngoài mà thèm. Thao thức trăn trở chán, cuối cùng Mùi mới thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn. Và sáng mai dậy, thế nào Mùi cũng choàng tỉnh, vẻ hốt hoảng. Vẫnn có cảm giác như ai đó hú gọi mình. Một buổi tối, khi Mùi đang ủ nóng chõ xôi vừa đồ xong vào cái thúng lót lá chuối rừng khô, thì có tiếng ô tô quen, cái tiếng ì ì nặng nề cùng với tiếng gầm xe kêu kèn kẹt. Mùi bảo Phượng lúc đó đang mải săn đuổi một con đom đóm lọt vào hang:


- Hình như xe Quỳnh về, Phượng ạ!


Phượng reo lên:


- Ôi! Đúng rồi! Xe anh Quỳnh! Anh Quỳnh về!


Không kìm được niềm vui, Phượng chạy ào ra đón. Nào ai ngờ, Phượng không đón được người yêu mà đón một tin sét đánh: Quỳnh hy sinh rồi! Mấy viên bom bi đã đánh gục Quỳnh trên tay lái lúc anh đang kéo một chiếc xe bị rệ bên bờ hố bom cách đấy vài hôm. Vẫn là chiếc "Zin 157" đầu tời của Quỳnh về đấy, nhưng ngồi sau vô lăng lại là anh lái phụ. Bây giờ anh đang ngồi hơ tay trên bếp lửa. Còn Phượng thì nằm vật xuống sạp khóc nức nở. Thôi, cứ để cho Phượng khóc. Khi người yêu khóc một người yêu ngã xuống thì mọi lời an ủi trở nên thừa. Mùi cũng bất ngờ đến choáng váng, và ngay lập tức hình ảnh đôi trai gái ôm hôn nhau ngoài bờ sối lại hiện lên. Ôi, phải chăng chính mình cũng nhẫn tâm, mình đã cất tiếng gọi Phượng lúc hai bàn tay Phượng đang bấu chặt vào vai người yêu. Sao không để cho nó tận hưởng cái giây phút hiếm hoi trước lúc chia tay để rồi nào ai ngờ vĩnh biệt luôn. Chao ơi hạnh phúc của con người trong chiến tranh nó mong manh như tơ nhện đáng được nâng niu chứ không thể phũ phàng.


- Anh Quỳnh ơi! Tại em phải không? Tại yêu anh nên anh mới phải đi vào cõi chết phải không?


Mùi chợt hiểu ra trong lời than vãn nức nở của Phượng. Không phải Phượng tự giày vò mình mà oán trách người khác. Hôm hai cô cậu tiễn biệt nhau, Mùi ngồi đong nếp ở ngăn trong. Và một mẩu đối thoại đã lọt vào tai Mùi:


- Anh đi có lâu không?


- Cũng còn tùy. Lệnh của cấp trên biết thế nào được!


- Ở trong Tha Mé nghe nói ác liệt lắm. Chúng nó đánh suốt ngày đêm phải không anh Quỳnh?


- Tất nhiên là ác liệt mới có nhiều xe bị cháy, e bị rệ, và bọn anh mới phải vào.


- Anh tình nguyện đi à?


- Lệnh của ông Lâm xuống là phải chấp hành.


- Sao ông ấy chỉ điều một mình xe anh? Hay là anh bị ông ấy trù?


...


- Em biết mà! Chuyện hai đứa mình yêu nhau, các anh lái xe cứ đồn ầm lên. Tất phải đến tai ông Lâm.


- Chuyện chính đáng có gì mà sợ!


- Dào, đối với ông Lâm chẳng có quan hệ trai gái nào ông coi là chính đáng cả. Nghe nói ở binh trạm bộ có một anh trợ lý tài vụ yêu một chị cấp dưỡng. Thế là ông Lâm bèn tống hai người đi hai đơn vị thật xa nhau. Có khi nghe chuyện hai đứa mình, ông ấy muốn tách anh ra. Sao ông ấy ác thế? Mấy đứa bảo em, ông Lâm tập kết ở miền Nam ra, xa vợ con hàng mười mấy năm nay tình thế buộc ông phải ép xác như người tu hành nên ông ghen ghét với hạnh phúc người khác.


- Đừng đổ oan cho ông ta! Trong chiến tranh người ta buộc phải nghiêm chứ em!


- Nghi... êm! - Giọng Phượng dài ra, chắc là phải kèm theo một cái lườm.


... Bây giờ thì Quỳnh đã ngã xuống trong Tha Mé không còn quay về đây được nữa để cho Phượng lườm yêu. Nỗi đau đớn của một mối tình bị phạt ngang làm Phượng mất tỉnh táo. Đâu phải tại Phượng yêu Quỳnh để anh phải đi vào cõi chết. Chẳng riêng Quỳnh mà biết bao người ngã xuống trên tuyến đường mòn này. Đành rằng hy sinh là tổn thất không gì đền bù được, nhưng lại là sự thể tất yếu. Giết chết Quỳnh, giết chết mối tình của Phượng là giặc Mỹ chứ đâu phải ai khác. Chắc gì ông Lâm đã có lỗi. Nếu ông Lâm có lỗi chăng nữa là ở chỗ ông quá giản đơn. Ông coi những đòi hỏi tình cảm và những nhu cầu bình thường của con người là chuyện vặt vãnh. Tính mạng con người cao quý đến thế còn dám hy sinh huống gì những chuyện mà ông coi là vặt vãnh. Trong chiến tranh, ông chỉ muốn sử dụng con người như một công cụ.


Phượng khóc chán, rồi ngồi bật dậy nói với Mùi:


- Chị phải cho em theo xe vào Tha Mé thăm mộ anh Quỳnh. Em chỉ xin đi một ngày thôi.


Làm sao Mùi lại nỡ từ chối yêu cầu chính đáng như thế? Có điều khi Phượng đã trèo lên ca bin xe, Mùi cảm thấy rất rõ là cô bị bỏ lại một mình. Dù có Thiệt vẫn coi như một mình.


Đêm hôm ấy, trời lại đổ cơn mưa. Mưa loi thoi ở trong rừng, tiếng mưa đổ từ nhiều tầng lá xuống nghe nặng nề. Vốn đã sợ giấ ngủ, đêm ấy, Mùi càng sợ hơn. Nằm xuống sạp, cảm thấy chống chếnh. Nghĩ đến ngôi mộ có cây thập tự ngoài gốc cây dẻ, lòng thắc thỏm những chuyện không đâu vào đâu. Lại nghĩ đến cái chết của Quỳnh. Chao ôi, một chàng trai đẹp đẽ khỏe mạnh thế kia bỗng nhiên đã nằm xuống dưới tầng đất. Đất thì lạnh lẽo chứ không như vòng tay người yêu. ôi anh Hân! Giờ đang ở đâu? Đã gần ba năm xa nhau rồi chứ ít ỏi gì. Nghĩ đến tầng đất lạnh mà em lo sợ. Hãy nói đi anh! Anh còn sống đấy chứ! Sao anh không viết thư cho em! Em đã viết không biết bao nhiêu lá hư rồi mà vẫn chẳng có hồi âm. Anh ở xa quá, đường sá khó khăn, chứ anh vẫn khỏe mạnh, vẫn hy vọng ngày trở về phải không anh?


 


Mùi cứ thao thức trăn trở trong những ý nghĩ nặng nề. Mà mưa vẫn rơi lộp độp. Mà ngọn lửa bếp vẫn leo lét cháy. Mà ở ngăn ngoài, trên chiếc võng bạt đơn sơ, vẫn vẳng lên tiếng ngáy đều đều... Cuối cùng mệt quá, Mùi mới thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn. Có tiếng gì đó vỗ đều đều như tiếng sóng. Phải rồi, con sông La vào kỳ gió nam là có sóng dập lép bép. Sóng còn đẩy lên bờ đất thịt những quả bời lời từ Ngàn Phố, Ngàn Sâu trôi về. Cạnh con sông có một ngôi nhà ngói xinh xắn mà dọc lối ngõ vào sân là hai bờ cây chè mạn hảo xén tày ngăn ngắt! Ôi, chính là ngôi nhà bố mẹ chồng Mùi, mà Mùi mới về ở vài ba tháng trước khi đi thanh niên xung phong. Trên chiếc giường mới trải chiếu hoa vẫn còn đôi gối thêu... Ô kìa, anh Hân! Anh về từ lúc nào? Vẫn nụ cười rạng rỡ và vòng tay thô bạo làm Mùi tức thở trong niềm rạo ực đê mê, Mùi sung sướn tìm lại hơi hướm của chồng, cảm thấy mình hoàn toàn nhỏ bé nhẹ nhõm và dường như đang bơi lượn giữa một tầng mây xốp bồng bềnh. Khi vòng tay người chồng vừa buông ra, Mùi ngờ ngợ có cái gì đó ram ráp cọ vào vai. Cô thảng thốt ngồi nhổm dậy, trời đất ơi, một đôi mắt đồng thau đang nhìn mình. Rởn gai ốc, cô hét lên:


 


"Phượng ơi!..." Mùi choàng tỉnh, nhảy xuống đất, trống ngực đập thình thình. Biết mình vừa thoát khỏi một giấc mơ khủng khiếp, Mùi lại ngồi xuống sạp lòng dạ bần thần trong một nỗi cô đơn trống rỗng. Mà ngoài kia, mưa vẫn rơi lộp độp. Mà ngọn lửa bếp vẫn leo lét cháy. Mà ở ngăn ngoài, trên chiếc võng bạt đơn sơ, vẫn vẳng lên tiếng ngáy vô tư. Mùi đã hét gọi Phượng, nhưng sạp nằm bên cạnh bỏ trống, giờ này Phượng đang đi đến đâu? Mùi hét to tưởng rách cả thanh quản mà không ai nghe thấy. Bốn bề là rừng, chỉ mỗi mình cậu Thiệt, nhưng tai ác thay, nó lại điếc! Lúc này Mùi mới thấm đậm hết nỗi cô đơnn của mình. Cô chỉ là một thực thể nhỏ bé mà phải chống chọi với bao nhiêu nỗi niềm uy hiếp. ám ảnh về con khỉ đã chết vẫn không buông tha mình. Nỗi nhớ chồng da diết kèm theo một nỗi lo sợ đến cháy lòng. Xót xa về sự đau đớn của Phượng, về sự im lặng vĩnh viễn của Quỳnh... Nỗi niềm tràn đầy như một thứ chất lỏng trong lòng muốn san sẻ cùng ai mà bốn bề chỉ nín thinh. Cảm thấy tủi thân, Mùi không tự kìm mình được, đã nằm vật xuống gối rấm rứt khóc. Từ ngày vào Trường Sơn đến bây giờ, lần đầu tiên cô mới khóc thầm.


- Chị Mùi ơi! Làm sao chị khóc?


Cùng với tiếng hỏi là bàn tay Thiệt đặt lên vai Mùi. Không hiểu bằng sự linh cảm nào mà Thiệt lại tỉnh giấc và nhận ra có tiếng thổn thức. Đáng lẽ Mùi sẽ nói: "Không, chị có khóc đâu!" thì Mùi để nguyên cặp mắt ướt sẫm, ngồi dậy, cầm tay Thiệt kéo xuống ngồi cạnh mình. Lúc này Mùi cần có người, dẫu Thiệt không nghe thấy gì. Được nắm một bàn tay là biết mình không còn cô đơn. Anh con trai mới lớn lần đầu tiên ngồi sát cạnh đàn bà, trong tay mình là một bàn tay nhỏ bé nóng ấm, trên vai là một mái tóc dài đổ xuống tỏa mùi thơm bồ kết, nghe hơi thở dồn dập phả vào má, làm anh trở nên lúng túng. Như có sự nổi loạn bất thần muốn tung hê tất cả mọi thứ giả trá che đậy, chính là Mùi đã ôm lấy Thiệt, đã áp khuôn mặt đẫm nước mắt của mình lên khuôn mặt trai trẻ và thì thào: "Hôn chị đi!". Phút rụt rè bỡ ngỡ đã qua, khi Thiệt ý thức được mình là đàn ông, thì Mùi lắc đầu đẩy Thiệt ra và đến bên bếp thổi bùng ngọn lửa lên. Cô lấy que củi viết lên nền tro mấy chữ "Đi ngủ đi". Thiệt tần ngần ngập ngừng một lát, rồi ngoan ngoãn đi ra ngăn ngoài, trèo lên võng. Mùi vẫn ngồi một mình như thế, chờ sáng.


Đêm hôm sau, Phượng trở về, nét mặt cũng tiều tụy bơ phờ không kém gì Mùi, Phượng nói:


- Chị đề nghị lên binh trạm cho em vào Tha Mé. Vào đấy em làm gì cũng được. Để em săn sóc phần mộ anh Quỳnh.


Mùi gật đầu:


- Chị cũng chẳng muốn ở đây nữa đâu.


Mùi lên binh trạm, chờ thiếu tá Lâm hàng buổi. Ông đang mải đi sụ tìm một địa điểm làm kho. Hình như công việc suôn sẻ, nom ông có vẻ vui. Vậy mà khi gặp Mùi, ông vẫn nhíu nhíu đôi lông mày rậm.


- Có việc gì vậy cô Mùi?


Vẫn theo kinh nghiệm lần trước, Mùi không úp mở vòng vo, cô nói thẳng ý kiến đề nghị của mình. Đang búng mấy vệt bùn khô trên ủng, ông Lâm sững lại, lông mày rướn lên:


- Cô này quái lạ! Mọi hôm cô bảo không có đàn ông trong quán cô thấy sợ. Nay đã có đàn ông, con khỉ hay quấy nhiễu lại bị giết rồi, vậy mà cô vẫn sợ!


- Vâng! Quả có thế thật!


- Vậy cô sợ cái nỗi gì?


Mùi im lặng không trả lời. Mùi không tiện nói với ông rằng Mùi sợ sự cô đơn, sợ sự nổi loạn ngay trong bản thân mình. Nỗi sợ hãi của Mùi là chính đáng, là chấp nhận một sự nhẫn nhục cam chịu, nếu không coi đó là sự hy sinh. Thấy Mùi ngồi lặng im ông Lâm bỗng nổi cáu:


- Các cô nhõng nhẽo vừa vừa thôi chứ! Vậy là cả hai cô cùng xin đi?


- Vâng, cả hai.


Thiếu tá Lâm hai tay khoanh trước ngực đi đi lại lại trong nhà. Đôi ủng ót ét theo từng bước chân. Đột nhiên ông dừng trước mặt Mùi:


- Thôi được! Dễ thường không có mấy cô thì cái quán phải giải thể à? Không đâu! Tôi sẽ giao cho cánh đàn ông tất. Xem chúng nó có thua kém gì các cô không? Còn cô... hừm!...


Bằng giọng mỉa mai, ông Lâm nhắc lại những thành tích rực rỡ của Mùi khiến Mùi trở thành chiến sĩ thi đua và được ông tin cậy. Vậy mà nay cô đã dao động, đã sa sút ý chí chiến đấu...


- Xin thủ trường đừng xúc phạm như thế!


Mùi buột miệng cướp lời binh trạm trưởng vì không chịu nổi sự chì chiết. Liền sau đó cô im lặng chịu trận. Cô muốn trả lời bằng hành động. Mùi biết, chẳng cần phải thách đố, ông Lâm cũng sẽ điều cô đến một nơi bom đạn ác liệt nhất. Không sao, nó lại phù hợp với nguyện vọng của cô.


V


Trước những cốc bia sủi bọt, với những cặp mắt đã ngấm men, những người lính lái xe Trường Sơn xưa kia đang ôn lại với nhau cái không khí "quán Tiên" sau ngày các cô gái ra đi. Chủ quán là một tay trợ lý hhậu cần vào loại giỏi của binh trạm được ông Lâm điều đến. Thêm vào đấy là ba thương binh dũng cảm không chịu lui về hậu phương. Thiệt điếc này bỗng nhiên như có phép màu đã nghe được khá hơn, nhưng dù sao vẫn là nghễnh ngãng. Một anh lính cao pháp đi khập khễnh, và một chiến sĩ giao liên bị bom hỏng một con mắt. Thức ăn vẫn là xôi hoặc bánh chưng. Vẫn nước chè rừng nóng hổi. Binh trạm trưởng còn lệnh xuất kho thêm một khoản thịt hộp tăng cường cho xuất ăn phụ ban đêm. Nhưng sự cố gắng đến cay cú của ông Lâm đã không thành công.


 


Những người lính lái xe dừng lại ở "quán Tiên" trong những ngày đó, thoạt đầu ngỡ ngàng, tiếp theo là nhớ tiếc không khí hồi nào, rồi một chút chán ngán và cuối cùng họ tính toán: dừng lại mười lăm phút để đâu phải chỉ ăn một nắm xôi? Nếu để hưởng thêm một khoảng khắc tươi mát thì làm sao tìm được nơi các chàng thương binh dũng cảm? Thà họ mang mấy thỏi lương khô, một bình toong nước chè nguội tranh thủ mà chạy thêm một quãng đường lại hơn. Không thể dùng lệnh buộc họ phải đỗ lại, nếu họ không hích thú. Thế là ngang qua "quán Tiên" họ lái xe vù thẳng. Quán ế hàng nên không thổi xôi mà chỉ luộc bánh chưng. Vì bánh chưng có thể để đem đến trạm giao liên. Binh trạm trưởng cáu tiết, nhưng "quán Tiên" phải giải thể. ít lâu sau chiếc hang xinh đẹp bỏ trống trở lại cảnh nguyên thủy như xưa. Chỉ những chùm thạch nhũ ám khói là còn lưu dấu vết một thời có người ở.


 


Trong câu chuyện của những người lính lái xe luống tuổi, khi nhắc đến chuyện "quán Tiên" bị giải thể, họ tỏ ý giễu cợt. Trái lại khi nhắc tới số phận của Mùi và Phượng, họ lại tỏ ra trân trọng ưu ái. Nghe đâu, cô Phượng không được về Tha Mé vì ở đó chỉ có một công việc thích hợp với Phượng là làm cấp dưỡng cho đội xe. Mà làm cấp dưỡng thì chưa phải là công việc đòi hỏi Phượng phải tỏ rõ lòng dũng cảm như ông Lâm yêu cầu. Hơn nữa, theo ông Lâm thì việc yêu đương của Phượng và Quỳnh, chậc, chẳng qua là do Mùi buông lỏng quản lý mà nên chuyện. Với lại, dù có tình ý với nhau thì nay thằng Quỳnh đã nằm dưới mộ, ôm lấy nắm đất mà khóc than là cái trò phong kiến! Xúp! Số phận của Phượng đã được binh trạm trưởng tính toán. Cũng như Mùi, nhất thiết cô phải ra "đội bom". Và cô đã nhận được quyết định đến bến phà Tà Khống cùng một chỗ với người bạn cũ là Tuyết Lan. ừ thì đi, có sao đâu. Người ta đồn, về sau Phượng yêu một anh lái xe khác. Hết thời gian thanh niên xung phong, họ về quê cưới nhau. Bây giờ con cái họ đã lớn, và hình như Phượng đang phụ trách một cửa hàng giải khát ở thành phố Vinh.


 


Những người lính lái xe nhắc đến Mùi như thể mới gặp cô hôm qua, hôm kia thôi. Họ bảo lính lái xe ngại nhất là tắc đường. Vậy mà tắc đường ở cây số 133 họ lại yên tâm, vì đấy là đoạn đường do đơn vị thanh niên xung phong của cô Mùi phụ trách. Một cây luồng chắn ngang đường làm hiệu cho xe dừng lại. Lái xe ló cổ qua ca bin hỏi vọng vào hầm hàm ếch khoét vào núi:


- Tắc đường ư mấy em?


- Tắc đường, cá anh chờ cho chút xíu. Dẹp xe lại!


- Lính cô Mùi đấy phải không?


- Vâng chúng em là lính chị Mùi đây!


- Cô Mùi ở đâu rồi?


- Chị ấy đang trên hiện trường. Lấp hỗ bom sắp xong rồi. Lát nữa các anh đi qua sẽ gặp. Cứ chị nào tóc dài nhất í!


Một phát súng nổ báo hiệu thông đường. Đoàn xe từ từ lăn bánh trên đoạn đường chênh vênh, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút. Qua chỗ đất mượn mới đắp, lính lái xe đi giữa tiếng reo vui của các cô gái thanh niên xung phong. Những bàn tay dính bết đất giơ lên vẫy vẫy, có những bàn tay thò qua ca bin hạm vào cánh tay người lái. Cười nói ríu rít:


- Cô Mùi ơi! Cô Mùi đâu?


Hầu như anh lính lái xe nào cũng gào lên như thế. Bởi vì ai đã từng qua "quán Tiên" đều không quên Mùi. Nhưng giữa sự nhộn nhạo vang lên hàng loạt câu đáp:


- Em đây! Mùi đây!


- Ai hỏi Mùi đấy?


- Em đây! Mùi đây!


Và những nhịp cười trong trẻo. Không người lính lái xe nào kịp nhìn kỹ xem cô gái nào có mái tóc dài nhất.Cô nào cũng nhận là Mùi tất. Thế là được rồi. Đi xe đoàn không thể túc tắc muốn dừng lúc nào thì dừng.


Lại một đêm khác, đoàn xe dừng lại trước cây luồng chắn ngang:


- Tắc đường ư mấy em?


- Tắc đường! Các anh chờ cho chút xíu...


- Lính cô Mùi đấy phải không?


Không có tiếng đáp lại. Qua bóng tối lờ mờ có dáng một người con gái bước tới.


- Cô Mùi đâu rồi?


Cô gái òa lên khóc:


- Chị Mùi hy sinh mất rồi, các anh ơi!


Cánh cửa xe mở hấp tấp. Những người lính lái xe túm tụm lại nghe cô gái nói về cái chết của Mùi. Có một chiếc xe chở đạn pháo bị thằng C.130 săn đuổi bén lửa đâm dụi vào ta luy. Mùi hô hào chị em lên dập lửa nhưng ai cũng níu Mùi lại, vì nguy hiểm quá. Mùi giằng ra. "Phải cứu người lái xe bị thương nặng ra". Nhưng trời đất ạ, không kịp nữa rồi. Cả xe đạn nổ tung. Gương hy sinh của Mùi đã được báo chí và đài phát thanh Trung ương nêu lên. Nghe nói đoàn Trường Sơn có truy tặng Mùi là liệt sĩ anh hùng, nhưng vì lý do trục trặc về thủ tục gì đó nên không được duyêt. Dẫu không được phong tặng anh hùng thì Mùi vẫn để lại trong lòng các chiến sĩ lái xe, các anh chị em thanh niên xung phong một hình ảnh đẹp, khó quên. Có điều không ai hiểu được tại sao Mùi lại dũng cảm đến mức liều lĩnh như vậy? Y như có một nỗi niềm gì thôi thúc trong lòng mà chữ nghĩa trên báo và tiếng nói trên đài không tài nào diễn đạt được...


 


... Bây giờ những người lái xe luống tuổi vẫn nhắc về Mùi bằng một giọng bùi ngùi thương cảm. Chẳng hiểu sau đại thắng mùa xuân 1975 thằng chồng nó, cái thằng tên là Hân í ó may mắn trở về nữa không nhỉ? Cũng mong manh lắm, bởi vùng tây Nam Bộ đâu có kém ác liệt gian khổ, nhất là thời kỳ sau Mậu Thân. Những cặp mắt mơ màng nhìn qua cửa sổ, qua những dòng người qua lại tưởng như vô tư, để nhìn ra tận chân trời, tận cõi hư vô xa lắc và huyền ảo dường như muốn tìm một lời giải đáp.


 


Bởi vì họ nửa tin nửa ngờ một chi tiết mang màu sắc huyền thoại. Rằng anh chàng Thiệt (về sau không còn điếc nữa) đã có dịp trở lại thăm "quán Tiên", khi chiến tranh kết thúc được vài năm. Là cán bộ của sở Lâm nghiệp, nhân một chuyến công tác lên tận biên giới Lào - Việt, anh đã tìm đến khu rừng đầy kỷ niệm. Ngôi mộ con khỉ đã bị ai bới rồi, nhưng vết khắc trên cây dẻ của anh vẫn còn đọc được. Trưa hôm ấy, sau khi ngắm nhìn cảnh hoang vắng của "quán Tiên", anh mắc võng vào hai mẩu đá trong chiếc hang năm xưa mà anh vẫn chưa quên, để ngả lưng. Cũng là để nhớ lại chiếc hôn đầu của người con gái ban cho, mà dù bây giờ đã có vợ con, anh vẫn thấy ngọt ngào huyền diệu làm sao. Nhưng lạ thay, đặt lưng xuống võng, anh không tài nào chợp mắt nghỉ trưa được. Mắt vẫn mở mà thật là quái dị, hình ảnh một con khỉ màu đen ức có chùm lông trắng hiện lên. Người con gái có mái tóc dài chấm gấu áo cứ hiện lên. Người con gái đi trước, con khỉ theo sau bao giờ cũng có quãng cách. Nằm nghiêng bên này vẫn thấy, trở sang bên kia vẫn như thế. Nhắm mắt lại, càng thấy rõ hơn. Cấu vào chân mình, biết là mình tỉnh mà vẫn như mê. Sợ quá, anh chàng nhỏm dậy, cuốn võng khoác ba lô chuồn thật nhanh. Vậy mà đi đường, thậm chí trèo lên ôtô rồi, anh vẫn thấy cái ảo ảnh kỳ lạ đó. Bao giờ cũng có một quãng cách, người con gái đi trước. Con khỉ theo sau... Dường như hai sinh vật ấy không thể gặp nhau được, tuy nhiên vẫn cứ đi.


Ngày giáp Tết Bính Dần


Nguồn: Rút từ tập 3 (từ trang 358) bộ sách “Xuân Thiều toàn tập” gồm 4 tập. NXB Văn học, 2015.


*In lần đầu trên tạp chí Văn nghệ quân đội (có cắt xén). Sau, báo Văn nghệ in nguyên văn.


XT.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều 16.05.2019
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
Lí lẽ đàn bà - Nguyễn Thị Lê Na 25.01.2019
Chúng ta ở đó - Dạ Ngân 25.01.2019
Trăng nơi đáy giếng - Trần Thùy Mai 21.01.2019
Vợ chồng già ngồi câu bên hồ nước - Lê Hoài Lương 14.01.2019
Thần sông báo mộng - Nguyễn Tam Mỹ 12.01.2019
xem thêm »