tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27625140
Truyện ngắn
12.12.2018
Ngọc Toàn
Cao Biền dậy non


 I- Một đoàn trên hai mươi xe ngựa loại lớn, mỗi xe đều có hai ngựa kéo đi từ U Châu đến thành Đại La. Áp tải đoàn xe là ba trăm kỵ mã, vũ khí giáp trụ đầy mình. Bốn viên dũng tướng, đứng đầu là Tần Ngạn chỉ huy. Đó là gia đình tiết độ sứ Cao Biền. Tần Ngạn là một người có tài tổ chức, bảo vệ rất hợp lý. Đến thị trấn, làng mạc nào có quan lại nhà Đường cai trị, Tần Ngạn đều trình công văn và nhờ địa phương giúp đỡ. Trong lúc hành tiến, chẳng may đến chỗ rừng hoang núi vắng, ông cho đoàn xe quay lưng lại thành một vòng tròn. Binh sĩ bao bọc vòng ngoài và trong phạm vi mười trượng đều rắc loại chông bằng sắt có bốn mũi nhọn. Bất cứ ở vị trí nào cũng có một mũi chông chổng ngược lên trời. Trộm cướp xông vào đoàn xe, nhiều tên bị tử thương trước khi huyết chiến.


Trong đoàn xe có hai người cần bảo vệ nhất, đó là vợ Cao Biền tên gọi Lã Đê Nương và đứa con độc nhất của họ là Cao Bình. Ngoài ra, còn hai chiếc xe đặc biệt, một chở quan tài của bố ruột Cao Biền và một chở những đồ dùng bí mật nhất mà đến Cao phu nhân và Cao công tử cũng không được biết. Đường xa ngàn dặm mà được yên ổn và ăn uống đầy đủ là nhờ Tần Ngạn và Cao quản gia.


Hai người này gắn bó với gia đình Cao Biền từ lâu. Nói đúng ra mối quan hệ hữu hảo là do Lã Đê Nương tạo dựng nên. Cách đây hơn mười năm, Cao phu nhân đi lễ chùa Giác Viên tại U Châu. Chùa được xây trên một ngọn đồi thấp, sân chùa trồng rất nhiều cây phong. Cuối thu, lá phong ngả sang màu vàng, cả ngôi chùa vàng rực trông rất tráng lệ. Bước lên một trăm lẻ tám bậc thang mới tới cổng chùa. Vị sư già trụ trì ra đón tiếp. Cao phu nhân là khách thường xuyên của chùa Giác Viên. Mỗi tháng bà đều lên lễ Phật ít nhất một lần. Bà cúng dường nhiều tiền của nên lúc nào cũng được đón tiếp nồng hậu.


Bước lên bậu cửa, Cao phu nhân bỗng dừng lại. Bà nghe tiếng người rên rỉ sau phật đài. Mấy nha hoàn dìu ra một người đàn ông bê bết máu, mặt bị chém một nhát khá sâu từ mang tai đến khóe miệng. Nhà sư già hoảng hốt:


- A di đà phật! Lão nạp già rồi không biết có người bị thương vào chùa để kịp thời cứu chữa. Thật là tội lỗi! Mô phật!


Người đàn ông khoảng ba mươi tuổi, hơi thở yếu ớt. Cao phu nhân cho vực lên kiệu, đưa về phủ phục thuốc.


Thầy lang giỏi nhất ở U Châu bắt mạch, băng bó vết thương, nói:


- Người này nếu không có nhân sâm, linh chi ngàn năm chắc không sống nổi mười ngày nữa.


Lã Đê Nương lấy ra một củ nhân sâm mọc trên dãy Trường Bạch nặng đến một cân, có đủ đầu và tay chân như một đứa trẻ. Rồi bà lại mang ra một cái nấm hồng linh chi to như hai bàn tay người.


Thầy lang xuýt xoa:


- Con sâm này phải mọc cách đây ít nhất một trăm năm. Còn nấm linh chi to như thế hiếm lắm. Số người này chắc được cứu thoát!


Ba tháng sau, anh ta có thể đi lại không cần chống gậy mỗi khi dạo chơi trong phủ. Vợ chồng Cao Biền làm một bữa tiệc mời anh ta đến dự. Phu nhân nói:


- Bữa nay chú đã bình phục, chúng tôi làm bữa rượu nhạt để tiễn biệt. Gia nhân đã chuẩn bị ngựa và một trăm lạng bạc để chú làm lộ phí về quê. Không biết bao giờ mới có dịp gặp nhau!


Cao Biền cười:


- Đến giờ, chúng tôi vẫn chưa biết cao danh quý tính. Xin chú cho biết để sau này có dịp gặp nhau thì còn biết đường mà chào hỏi.


Người thanh niên quỳ xuống vái vợ chồng Cao Biền:


- Không dám giấu đại nhân và phu nhân, tôi là Tần Ngạn, một tên đại đạo, song trước giờ chỉ lấy tiền bạc của những nhà giàu để giúp đỡ người nghèo…


Cao Biền ngắt lời:


- Phải gọi là một hiệp đạo mới đúng, không thể gọi là trộm cướp được!


Lã Đê Nương cười:


- May mà phủ tôi chưa bị chú hỏi thăm.


Cả ba đều cười to.


Tần Ngạn quỳ xuống nói:


- Ơn cứu mạng, tôi không bao giờ quên được! Nếu không chê tiểu nhân thân phận thấp hèn, xin đại nhân và phu nhân cho tôi ở lại làm người giúp việc trong phủ.


Cao Biền cười thầm trong bụng, hắn không ngờ thu phục được Tần Ngạn, một người võ nghệ cao cường lại dễ dàng đến thế. Cao Biền đã biết lai lịch Tần Ngạn từ lâu. Hắn đỡ Tần Ngạn lên:


- Chúng tôi không dám, nếu chú không chê Biền tôi thô lỗ, xin kết làm anh em và từ nay ở lại đây, có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu.


Không để cho Tần Ngạn phản đối, Cao Biền gọi gia nhân bày hương án, cắt máu ăn thề, kết làm anh em.


Cậu bé Cao Bình mới sáu tuổi thích lắm, chạy lại nắm lấy áo Tần Ngạn:


- Chú ở lại chơi với cháu nhé! Chú còn phải dạy cháu võ nữa chứ!


Từ đấy, Tần Ngạn trở thành người thân tín trong phủ Cao Biền.


Trong đoàn xe đến thành Đại La có một người thứ hai đáng lưu ý, đó là Cao quản gia. Ông ta nguyên họ khác, lúc trẻ là gia nhân làm việc trong nhà bếp, tính nết hiền lành, thật thà. Lã Đê Nương thương tình gả một nha hoàn làm vợ. Họ xin ra ở riêng tại một căn nhà cuối vườn trong phủ. Lúc họ có con, Lã Đê Nương xuống thăm. Bà ngạc nhiên, bữa cơm của họ quá đạm bạc. Trong mâm chỉ có vài con cá nhỏ kho mặn và một đĩa vô tâm thái. Vô tâm thái là rau không ruột, rất dễ trồng, chỉ cần cắm xuống đất là sống. Nó có thể mọc cả trên cạn cũng như dưới nước. Khi đã già, rau có hoa tím nhạt hoặc trắng. Đấy là rau muống.


Lã Đê Nương hỏi:


- Trong phủ thiếu gì thức ăn mà các ngươi không lấy? Nếu đạm bạc thế này thì sao có sữa cho con!


- Thưa phu nhân, mỗi tháng chúng con được lão gia trả hai lạng bạc nên chỉ vừa đủ rau dưa. Trong bếp tuy nhiều thực phẩm, nhưng chúng con không được phép tự tiện lấy cắp.


Cao phu nhân cảm động lắm. Ngay hôm sau, bà cho chàng thanh niên làm quản gia và đổi sang họ Cao. Vợ chồng họ được chu cấp thức ăn, quần áo đầy đủ. Khi Cao quản gia bốn mươi tuổi, cả phủ đều gọi là lão quản gia. Sang Đại La lần này, lão phải để vợ con lại U Châu.


Ròng rã nửa năm trời, đoàn xe đến Đại La. Cao Biền ra khỏi thành mười dặm đón vợ con. Tiệc tẩy trần cực kì sang trọng. Tất cả của ngon vật lạ ở nước Nam, Cao Biền đều cho người tìm về làm tiệc bằng được. Nào là vòi voi, tay gấu, gỏi cá anh vũ, vây cá đường, yến sào… Bàn trên cùng có vợ chồng hắn, Tần Ngạn, lão quản gia và Cao công tử. Cao Biền cầm cốc rượu ngâm nhung nai nói:


- Xin mời mọi người nâng cốc! Hôm nay, vợ chồng con cái tôi đoàn tụ là nhờ tất cả anh em, trong đó kể công đầu là chú Tần Ngạn và lão quản gia. Biền này không bao giờ dám quên. Chẳng giấu gì anh em, tôi định ở lại nước Nam cho đến hết đời nên mang cả linh cữu phụ thân tôi là Cao Thừa Minh sang đây. Sau này, khi đã bình định xong xứ Giao Châu, tôi sẽ làm một căn nhà mát ở thành Đại La, mùa hè đi câu cá, săn bắn, mùa đông đốt lửa sưởi ấm, đọc sách. Xứ này dân chúng thuần hậu, con người hiền lành, hay giúp đỡ những người xung quanh. Còn ở Hoa Hạ, cuộc đời không lúc nào được yên ổn, vua chúa quan lại đánh nhau liên miên, nạn tranh bá đồ vương làm cuộc sống ít có những giờ phút thanh bình.


Tất cả những người dự tiệc đều khen Cao Biền là biết thời thế, bậc chính nhân quân tử.


 


- II -


Cao Biền chuẩn bị cải táng Cao Thừa Minh tại Giao Châu. Ngôi mộ dựa vào sườn núi thấp. Từ cửa hang đến nơi để phần mộ dài hơn trăm trượng. Xương cốt Cao Thừa Minh mang từ U Châu sang được đặt vào một chiếc tiểu, bên ngoài là quách bằng đá cẩm thạch. Cao Thừa Minh vốn là người Mãn Châu chuyển đến U Châu rồi sinh ra Cao Biền.


Toàn bộ ba trăm sĩ tốt cùng Tần Ngạn, Cao quản gia được vinh hạnh hộ tống quan quách Cao Thừa Minh xuống mộ. Trong huyệt rộng mênh mông chỉ có một chiếc bát quái rất to làm bằng đá, chứng tỏ không có chôn theo vàng bạc, châu báu để sau này bọn mộ tặc không đào bới lấy cắp.


Bữa tiệc hạ huyệt thịnh soạn, bày biện ngay trong hang. Các sản vật phương Nam được mang ra thết đãi rất đặc biệt. Cao Biền cho giết hai con voi non lấy vòi làm món đầu tiên trong bát trân của người Tàu. Voi bị giết xong, người ta lấy vòi ngâm vào nước vôi một ngày để vừa xốp, vừa giòn. Nếu không làm như vậy, nó sẽ dai hơn cả da trâu già phơi khô. Món thứ hai là cua hoàng đế và ốc vương phi. Cua hoàng đế chỉ có ở Giao Châu. Loài cua này có chiều ngang hẹp hơn chiều dọc, trên thân có những hoa văn đẹp kỳ lạ và không bao giờ có hai chiếc mai giống nhau. Cua hoàng đế có hai cái càng rất to, ai đã ăn một lần sẽ rất khó quên. Ốc vương phi to bằng hai bàn tay người xòe rộng, có con nặng đến hai cân. Thịt ốc có mùi của cua cá, vừa có mùi nướng của thịt nai. Cuối cùng là món bàn tay gấu gọi là hùng chưởng và gân hươu nai.


Nhưng có lẽ đặc biệt nhất là Giao Châu tửu, men rượu bí truyền của người phương Nam. Rượu vừa cất xong được cho vào những cái vò đất nung để mộc rồi chôn xuống đất, sau một năm mới được đào lên. Mùi thơm của rượu xuyên qua vò khiến người thưởng thức chưa uống đã say.


Có hơn ba trăm người mà Cao Biền cho mang tới hàng trăm vò rượu. Có lẽ hắn định cho họ uống ba ngày mới hết. Khi vào tiệc, Cao Biền lén đưa cho Cao Bình một viên thuốc màu tím:


- Con không quen uống rượu. Thuốc này sẽ giúp lâu say.


Hắn cũng uống một viên. Hai canh giờ sau thì hầu như tất cả mọi người đều gật gù muốn đổ. Tiếng hò hét chúc tụng đã bớt hăng hái, nhiều người ngã gục xuống bàn. Cao Biền bảo con:


- Theo cha lên khỏi hang! Cha có chuyện muốn nói với con.


Hai cha con Cao Biền lên cao hơn miệng huyệt chừng hai trượng, hắn bới trong bụi rậm một sợi xích và giật mạnh. Hòn đá to như cái bàn bị dây xích chặn lại, giờ được lăn tự do xuống cửa hang. Hàng ngàn hòn đá to nhỏ ầm ầm rơi vào huyệt đạo. Phút chốc không còn nhìn thấy cửa hang đâu nữa. Tiếng la hét, khóc than từ trong vọng ra nhỏ dần, nhỏ dần…


Cao Bình hét lên lạc cả giọng:


- Sao cha làm thế?


Cao Biền lạnh lùng:


- Cha làm thế vì cha, vì con đấy! Mộ này được táng vào thế đất “Phượng hoàng hàm thư”, sẽ trở thành miếu địa. Dăm bảy năm nữa, đất sẽ phát đế vương, cha làm vua phương Nam, con làm hoàng thái tử, rồi… sẽ là hoàng đế.


Rồi hắn say sưa cười ha hả:


- Cha đã cho người ký giao ước với An Lộc Sơn. Y tấn công từ phương Bắc, cha con ta tiến quân từ phương Nam. Chúng ta sẽ chia đôi đất nhà Đường. Phía Bắc sông Trường Giang thuộc An Lộc Sơn, còn Giang Nam là của ta. Cả Quảng Châu, Giao Châu đều thuộc về họ Cao này!


Cao Bình khóc to:


- Con không ngờ cha tàn bạo thế! Cha chôn sống hàng trăm người, kể cả chú Tần Ngạn và lão quản gia. Họ đã dành cả cuộc đời theo cha. Chú Tần Ngạn quý cha mẹ hơn cả anh chị em ruột, trong túi không bao giờ có đến trăm lạng bạc. Lão quản gia bỏ vợ con ở U Châu sang đây vì nhà ta mà cha cũng chôn sống. Bây giờ, vợ và bốn con của họ sẽ ra sao? Giời ơi! Thế là thế nào?


- Sao con ngu thế! Vô độc bất trượng phu!


- Nhưng cha đã từng dạy con: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Cái gì mình không muốn thì đừng mang cho người khác. Tại sao cha lại sát hại bao nhiêu người không thù oán mà cả đời họ tận tụy với mình.


- Con phải biết, Đường Thái Tôn bản triều hy sinh cả anh em ruột để làm vua, lập nên nhà Đại Đường!


- Con cũng biết Lý Thế Dân giết anh ruột là Lý Kiến Thành, em ruột là Lý Nguyên Cát để tranh ngôi báu. Nhưng có ai khen hành động đó đâu! Người ta sợ cường quyền không dám nói, chứ không ai tâm phục. Hậu quả nhãn tiền, con dâu Lý Thế Dân là Võ Tắc Thiên làm loạn, lập ra nhà Hậu Chu. Bà ta giết năm trong tám người con của Đường Cao Tôn Lý Trị…


- Mi chớ quên Khổng Tử dạy: “Quân – Sư – Phụ”. Ta là cha của mi!


Mắt hắn long sòng sọc, tay phải sờ vào đốc kiếm.


Bỗng có một tiếng nói từ sau tảng đá:


- Khoan đã!


Cả hai cha con Cao Biền đều giật mình quay lại. Tần Ngạn ung dung bước ra từ sau chỗ nấp. Cao Bình mừng rỡ:


- Chú không sao chứ? Chú làm thế nào mà ra khỏi hầm mộ?


- Khi cha cháu đưa cháu viên giải tửu hoàn, chú đã cảnh giác. Lúc hắn cùng cháu lên cửa hầm, chú bám theo ngay. Chú đã nghe rõ hai cha con cãi nhau. Bây giờ cháu lùi ra để chú dạy cho hắn một bài học làm người. Cao Biền, rút kiếm ra! Ta muốn đấu sòng phẳng với ngươi.


Cao Bình quỳ xuống lạy:


- Chú tha cho cha cháu! Mẹ cháu và cháu xin chú!


- Một tên tàn bạo muốn cát cứ, chống lại vua của mình là bất trung, giết những người đã giúp đỡ mình là bất nhân, giết anh em là bất nghĩa. Một kẻ bất trung, bất nhân, bất nghĩa như vậy thì để sống làm gì!


Cao Biền mặt xám lại. Hắn biết đấu kiếm với Tần Ngạn là tự sát. Chỉ ba chiêu là đầu hắn không còn nằm trên cổ nữa. Hắn đứng ngay như tượng gỗ, không dám thò tay rút kiếm.


Cao Bình chỉ vào tim mình:


- Xin chú nể tình mẹ con cháu mà tha cho ông ấy một lần! Cháu xin thế mạng, chú đâm thẳng vào đây!


Nói đến bà Lã Đê Nương, Tần Ngạn không khỏi động lòng. Không họ hàng nhưng Tần Ngạn được bà yêu thương như người nhà, được trọng thị như em ruột.


Tần Ngạn nói:


- Chú sẽ tha chết cho hắn, nhưng xóa bỏ lời thề kết nghĩa huynh đệ khi xưa!


Ông kẹp thanh kiếm giữa ba ngón tay bẻ mạnh. Cách… Thanh kiếm gãy làm đôi. Cầm phần mũi kiếm, ông phóng về phía Cao Biền đứng. Phập… Mũi kiếm bay sát đầu làm đứt dải lụa buộc tóc của hắn, rồi cắm vào thân cây phía sau.


Tần Ngạn nói:


- Từ nay, ta và Cao Biền không còn tình nghĩa anh em. Xin Hoàng thiên chứng giám!


Cao Biền rùng mình, nếu mũi kiếm đó đâm vào người hắn thì sẽ xuyên từ ngực ra lưng. Tay trái Tần Ngạn vẫn cầm nửa thanh kiếm đằng chuôi. Ông cảnh giác, nếu không có vũ khí sẽ bị gã tập kích bất ngờ. Cao Biền là kẻ không có lương tâm, sẵn sàng làm chuyện không ai có thể lường được.


Tần Ngạn lại nói:


- Cao Bình, cho chú gửi lời chào mẹ cháu. Mong rằng có một ngày ta lại gặp nhau!


Ông thong thả xuống chân núi. Cao Bình đi tìm ngựa về phủ Tiết độ sứ kể cho mẹ nghe về vở tuồng đẫm máu.


- III -


Cao Biền vẫn tiến hành mộng làm vua của hắn: Cho người mang mật thư gửi An Lộc Sơn hẹn ngày khởi binh chống lại nhà Đường; đi khắp núi sông, đình chùa của Giao Châu, nơi nào có thần linh thì mua chuộc rồi tiêu diệt; kiếm những nơi có long mạch đế vương để phá…


Ngày nào hắn cũng cưỡi một con diều giấy, mặc áo đạo sĩ, cầm kiếm, bay khắp chốn. Một sáng mùa đông, Cao Biền bay đến phía Tây thành Đại La, hắn bắt gặp một ông già to lớn, râu tóc như cước, tắm trên sông. Ông cởi trần, thân thể đỏ au như bằng đồng, bơi đứng trên mặt nước, nổi nửa mình trên sóng, bất chấp gió bấc lạnh lùng thổi. Từng đàn cá bơi xung quanh người ông lão. Cao Biền hỏi:


- Ông không biết rét à? Ông tên là gì, nhà ở đâu?


- Lão họ Tô, tên Lịch. Nhà lão ở dưới sông.


Cao Biền cưỡi diều giấy bay đi mươi trượng rồi bất ngờ quay lại, phóng một mũi tên đồng xuyên vào lưng ông lão. Hắn nhếch mép cười đắc ý.


Ông lão Tô Lịch chìm ngay xuống sông. Đàn cá nhao nhác chạy trốn.


Ngày hôm sau, Cao Biền cho quân lính đào cạnh bờ sông một cái hố, mỗi cạnh một trượng và đổ xuống đấy bốn nghìn cân đồng và sắt vụn, phủ lên trên là hàng trăm lá bùa màu vàng vẽ loằng ngoằng những hình thù kỳ lạ. Cao Biền chưa kịp cho lấp đất thì mặt sông nổi lên một cái vòi rồng, kèm theo sấm chớp. Một tiếng sét đánh thẳng xuống hố. Đồng, sắt bị nóng chảy thành cục, văng vào mặt những kẻ đào đất yểm bùa. Từ dưới sông, ông cụ Tô Lịch vẫn cởi trần, đóng khố, cưỡi một con trâu trắng, tay cầm mũi tên đi đến thẳng đến trước mặt Cao Biền. Hắn hoảng hốt:


- Ông còn sống sao?


- Cái gì của ngươi, lão trả cho ngươi!


Thần Tô Lịch ném mũi tên vào mặt Cao Biền. Hắn tránh không kịp, bị giập đôi môi và gãy chiếc răng cửa, ngã sấp mặt xuống đất. Trâu trắng chậm rãi đến trước mặt ngựa đen của Cao Biền. Nó văng sừng, chọc thủng bụng ngựa rồi giơ lên cao. Con vật đáng thương vẫy bốn vó loạn xạ trong không khí. Cụ Tô Lịch vỗ vào mông trâu. Nó quay mình trở lại sông, trên cặp sừng vẫn còn nguyên xác ngựa.


Cao Biền và bọn quân lính chạy bán sống bán chết dưới trời mưa như trút nước của cái vòi rồng.


- IV -


Thành Đại La xây mãi không xong, cứ được vài chục trượng thì lại bị sụp đổ. Cao Biền sợ lắm. Hắn biết, nếu không có thành trì bảo vệ thì cái phủ Tiết độ sứ và các doanh trại quân lính nhà Đường trước sau gì cũng bị người Giao Châu phá bỏ. Đường triều đã đến ngày tàn. Ở Tràng An, quan lại ăn chơi vô độ, vua tôi đắm chìm trong tửu sắc. Dương Quý Phi và anh là Tể tướng Dương Quốc Trung lũng đoạn triều đình. Ngoài biên, An Lộc Sơn, vốn là người Hồ, chiêu binh mãi mã, chuẩn bị chiếm kinh đô.


Cao Biền nghĩ cơ hội làm vua của hắn sắp thành hiện thực. Nhưng phải củng cố thành Đại La, hắn sắm sửa lễ vật đến đền Bạch Mã[1] xin thần thánh giúp xây đắp thành trì. Đền Bạch Mã ở gần sông Nhị Hà rất thiêng, lúc nào cũng có người đến cầu xin, khói hương nghi ngút.


Để tỏ lòng thành kính, Cao Biền và bọn tùy tùng quỳ trước sân đền hai canh giờ cho đến khi con ngựa gỗ trắng hý lên một hồi, nghĩa là thần thánh đã thuận ý. Trong lời khấn, Cao Biền luôn xin quốc thái dân an, người Giao Châu làm ăn thịnh vượng và không hề lộ ra mưu đồ cướp nước.


Ba đêm liền, Cao Biền đều thấy con ngựa trắng từ trong đền ra, đi nước kiệu nhỏ, gần khớp với bờ thành cũ. Hắn cho quân lính chạy theo rắc trấu vào vết chân bạch mã. Cao Biền liền cho đắp thành, thuận lợi đến không ngờ. Nước sông Nhị Hà không thể tràn vào nội thành, cả tháng không có một đám cháy. Chu vi thành Đại La là một nghìn chín trăm tám mươi hai trượng, cao hai trượng sáu. Cao Biền rất đắc ý, từ trên tường thành quan sát được rất xa, phòng thủ và phản công đều tiện lợi. Nếu nhà Đường cho quân sang đánh, hắn chẳng có gì phải sợ. Ngôi vua ở phương Nam coi như đã là vật trong túi.


Cao Biền biết đấy là công của thần thánh. Hắn trả ơn bằng cách cho quân lính đem rơm rạ, cỏ khô, củi khô, dầu thông, chai cục… đến đốt đền Bạch Mã. Hắn tự tay châm lửa. Ngọn lửa vừa bùng lên đã bị tắt. Đám mưa trái mùa to chưa từng thấy làm trôi cả củi và đồ dẫn hỏa. Con ngựa gỗ ở sân đền quay đầu lại, biến thành con ngựa bằng xương, bằng thịt. Nó hý lên một hồi dài, phóng mình qua đám cháy. Ma lực của nó kéo cả đoàn quân lính nhà Đường chạy theo sau dài dằng dặc. Cao Biền cưỡi con ngựa đen bám sát ngựa thần.


Bạch mã phi như bay về phía Sóc Sơn. Lúc nó phi nước đại, vó gần như không chạm đất. Hễ đoàn người ngựa của Cao Biền bị bỏ rơi ở phía xa, nó lại chạy nước kiệu nhỏ để chờ đợi. Lên đến gần núi Sóc, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay lên trời, đoàn quân của Cao Biền chỉ còn lại một phần nhỏ, người ngựa rơi rụng, chết gần hết. Bạch mã leo lên đỉnh núi, hý những hồi dài rồi biến mất. Ngựa đen của Cao Biền cũng kêu lên, nhưng không phải tiếng hý mừng rỡ mà là những tiếng kêu thảm thiết trước khi lìa kiếp ngựa. Nó bị đứt ruột, khụy hai chân trước, chúi đầu xuống đất, quăng Cao Biền văng xa đến cả trượng.


Hắn lóp ngóp bò dậy, nắn bóp các khớp xương. May quá, chỉ gãy hai dẻ xương sườn. Đoàn quân không bị ai đánh mà tan rã, thất thểu đi bộ về Đại La. Cao Biền được cáng trên hai đoạn tre. Tất cả ngựa của chúng đều đứt ruột vì chạy quá sức.


Cao Biền đau đớn, vải quấn quanh người, mỗi lần giở mình là một cực hình đối với hắn. Ngay sau hôm bị nạn, Cao Biền nằm mơ thấy một người cao lớn, mặt đỏ, râu dài, cầm gươm chỉ vào mặt mà mắng:


- Ta là thần Long Đỗ, chủ con ngựa trắng. Ta cảnh cáo ngươi nếu còn lừa gạt thần thánh thì ta sẽ lấy mạng. Bước đầu ta dạy cho ngươi một bài học.


Cao Biền nằm phục thuốc đến nửa năm trời. Quân lính được hắn cử đi giám sát đền Bạch Mã về báo, đền không sứt mẻ gì, con ngựa trắng bằng gỗ vẫn đứng ở sân đền, nhưng quay đầu ra cửa như cảnh giác với giặc.


Cao Biền biết thần Bạch Mã rất thiêng, không dám cho quân đến quấy rối. Hắn tự an ủi đã xây xong thành Đại La.


Mộng đế vương của Cao Biền quá lớn. Bị gãy hai xương sườn và lời cảnh cáo của thần Long Đỗ không làm hắn sợ. Đêm đêm, hắn xem thiên văn và khí tượng thấy phía Nam thành Đại La có những ánh sáng phát ra từ long mạch. Cao Biền quyết phá bằng được. Ngày khỏi bệnh, hắn cưỡi diều giấy bay đến vùng Ninh Bình yểm trấn. Cao Biền cho đào bốn giếng sâu đến hai ba mươi trượng. Từ mạch nước có những màu đỏ chảy ra. Hắn khoái trá:


- Đã yểm đúng long mạch. Rồng đã bị chặt mất đầu, mất đuôi. Nhà ai có táng vào hàm rồng thì không thể phát lên được.


Khi bay đến núi Non Nước, Cao Biền trông thấy hơn chục đứa trẻ để tóc trái đào, mặc áo đỏ, tay cầm cung bằng gỗ dâu, hát to:


Phạm đến thần tiên


Cao Biền tuyệt tự


Phạm đến thần tiên


Cao Biền tuyệt tự…


Chúng hát đi hát lại hai câu đó. Khi đúng tầm, bọn nhỏ bắn hơn chục chiếc tên lửa bủa vây diều giấy của hắn. Diều bùng cháy, bay đến sườn núi thì rớt mạnh xuống đất làm cháy cả một khoảnh rừng[2]. Cao Biền nhảy vội thoát thân.


 


- V -


Mỗi lần Cao Biền mặc quần áo đạo sĩ, cầm kiếm gỗ, cưỡi diều đi yểm trấn là mẹ con bà Lã Đê Nương lo lắng. Bà biết hắn lại đi làm việc mờ ám, gây tội ác với dân chúng. Lần này, hắn mang cả ngàn tên lính, chắc làm chuyện gì ghê gớm lắm. Đã từ lâu, hai mẹ con bà muốn biết mật phòng của Cao Biền có những thứ gì, nhưng hắn luôn luôn canh chừng cẩn thận.


Đã ba ngày Cao Biền không về. Bà Lã Đê Nương quyết xem căn phòng bí mật. Loay hoay mãi rồi họ cũng mở được cánh cửa. Mùi ẩm mốc, khăm khẳm, thum thủm bay ra. Cái buồng mênh mông với những thứ quái gở hiện ra trước mắt. Giữa phòng là cái bàn tròn, trên có bảy đầu người. Không phải là sọ đầu lâu mà là cả cái đầu bị chặt ra khỏi cổ, hãy còn đủ da thịt, râu tóc. Chiếc nào cũng mở cặp mắt thao láo. Tất cả để theo phương vị của chùm sao Bắc Đẩu. Chủ vị là đầu một ông già râu tóc bạc phơ, còn những vị trí khác là của trẻ già trai gái, đều ướp thuốc thu nhỏ lại như quả bưởi và đặt lên trên hàng trăm con rắn độc, từ hổ mang chúa đến con nưa màu vàng có chín lỗ mũi, từ bạch xà có mào đến xích huyết xà chỉ bằng con lươn…


Một cái kệ lớn trưng bày các loại thú ăn thịt như hắc hổ, lang sói, báo hoa mai, gấu ngựa, lửng chó, đười ươi, củm[3]


Ở giữa nhà có một bàn dài đặt những cánh tay bị sét đánh đen thui với hàng chục lưỡi tầm sét có hình thù kỳ dị. Bà Lã Đê Nương nôn ọe, không chịu nổi mùi lông thú ẩm ướt, mùi thuốc ướp xác chết... Cả đời bà chưa bao giờ gặp một gian phòng hắc ám như thế này. Bà lảo đảo như say rượu. Cao Bình phải giữ chặt lấy mẹ, chỉ sợ bà ngất trong cái tổ quỷ quái gở này.


Két… két… két… Cánh cửa bằng sắt bị mở toang. Cao Biền xuất hiện. Hắn gào lên:


- Các người vào đây làm gì?


Bà Lã Đê Nương ôm ngực như sợ trái tim nhảy ra ngoài:


- Tôi thấy ông gầy quá, nhất là từ ngày gãy xương sườn, nên muốn tìm hiểu xem cái gì làm ông xuống sức nhanh thế.


Cao Biền nói rít qua hai hàm răng:


- Bà nói thế tưởng tôi tin sao? Tất cả các người đều chống tại tôi, từ thần linh, quân sĩ đến vợ con. Nhưng nói cho các người biết, ta sẽ là vua của xứ này. Kẻ nào theo ta sẽ được mũ cao áo dài. Kẻ nào chống ta thì sẽ phải chết. Khi Cao Biền này đã ra tay thì vua Đường cũng phải quỳ dưới chân ta.


Cao Biền chồm đến cái bàn để lưỡi tầm sét. Hắn trợn mắt kinh hoàng “Đầu lâu ai ở đây?”. Chiếc đầu đó là của cha hắn. Các vết tích chỉ rõ, ông Cao Thừa Minh gãy hai răng cửa hàm trên, điều đó không có gì đặc biệt, nhưng cái răng cửa hàm dưới bị gãy một nửa do ông gặm khúc xương lạc đà hồi ở Mãn Châu thì cả triệu người chỉ có một. Nhất là vết chém ở trán hồi trẻ trong lần đánh nhau với cướp thì không lẫn vào đâu được.


Cao Biền lại hoảng hốt thêm khi phát hiện quyển sách dạy các phép phù thủy bí truyền đặt dưới lưỡi tầm sét đã bị mất. Hắn gào lên:


- Các người có lấy quyển sách ở đây không?


Cao Bình lắp bắp:


- Thưa cha, mẹ và con không dám lấy một thứ gì cả!


- Mi là một trong những kẻ không chịu khuất phục và luôn luôn chống đối ta!


Nói xong, hắn vỗ bàn đánh rầm một cái, những lưỡi tầm sét bay về phía cậu bé. Miếng sắt to nhất giống như cái rìu đập đúng đầu Cao Bình. Cậu bé ngã ngửa ra, đầu đập vào cái kệ, máu chan hòa từ trán đến gáy. Cao Bình lập tức tắt thở. Bà Lã Đê Nương hét lên:


- Con ơi, cha giết con rồi!


Bà cũng ngất luôn.


Cao Bình được chôn ngay vườn trong phủ.


Hôm sau, Cao Biền được gia nhân báo cho biết, bà Lã Đê Nương đã bỏ nhà đi.


Ba tháng sau hắn được tin, bà đi về phía Tây cửa thành Đại La, xuống tóc tu hành tại một ngôi chùa nhỏ cách kinh thành hai mươi dặm. Bà Lã Đê Nương đổi tên là Lã Thị Nga để dễ hòa đồng với dân chúng địa phương. Bà dạy người làng làm nghề dệt vải[4].


- V -


Mất vợ và con nhưng Cao Biền không buồn. Hắn cho xây vài chục căn phòng và tuyển mỹ nữ từ mười ba, mười bốn đến hai mươi tuổi. Chiếu tối, Cao Biền cưỡi một chiếc xe có lọng do dê kéo đến các phòng mỹ nhân. Dê đến đâu cũng được các nàng chuẩn bị cho ăn những thứ lá khoái khẩu. Hắn nghĩ mình còn trẻ, làm gì không sản sinh ra dăm bảy thằng Cao Bình em.


Việc quan trọng nhất lúc này đối với tiết độ sứ Cao Biền là phải mang cái đầu lâu của ông Cao Thừa Minh vào trong mộ. Điều đó không khó. Tuy cửa địa huyệt lấp rồi nhưng hắn đã lường trước nên chuẩn bị sẵn một con đường khác.


Hắn đến một cái miếu dưới cây đa cổ thụ um tùm, tán rộng phủ lên trên hai chục trượng vuông. Cao Biền dịch miếu sang bên, một con đường dẫn xuống mộ hiện ra. Lối đi xây bằng gạch chật chội chỉ một người đi lọt. Kẻ lạ không biết, vô tình chạm vào tường là phải chết. Vữa xây trộn với mảnh sành, mảnh sứ tẩm đầy thuốc độc. Cao Biền đã dùng một loại nhựa cây đặc biệt, khi trời hanh là nhựa khô, khi trời nồm là ẩm ướt. Trong thứ nhựa ghê gớm đó có răng rắn còn nguyên nọc độc, gan và trứng cá ông sư[5], nhựa đoạn trường thảo[6], nhựa lá trúc đào…


Hắn mặc nhiều lần áo, xỏ tay chân vào trong bao, đầu bịt kín, chỉ hở hai con mắt. Một vài bộ xương rắn, dơi và chuột nằm ở dọc đường. Hẳn là bọn chúng vào hang làm tổ và bị độc dược giết chết.


Đẩy cánh cửa bằng đồng cuối cùng, Cao Biền bước vào mộ ông Cao Thừa Minh. Cánh cửa này chính là cái bát quái. Một cảnh tượng hoang tàn hiện ra trước mắt. Cái quách bằng đá nằm nghiêng, trên có một xác người trẻ tuổi, bên trong là xác một chó ngao.


Ai đã vào được đây? Phải chăng chỉ có thần thánh ở cái đất Giao Châu này? Cao Biền lật xác người trên quách lên xem. Hắn hét lên một tiếng kinh hoàng. Đó chính là Cao Bình. Đầu cậu bé gối lên quyển sách phù thủy bí truyền.


Mất nửa ngày Cao Biền mới dọn sạch mộ của ông Cao Thừa Minh. Hắn nhặt quyển sách dạy làm ma quỷ, lặng lẽ rời địa huyệt.


Nhưng âm mưu làm vua của Cao Biền không giảm. Hắn nghiên cứu lại các phép phù thủy để thực hiện ý đồ. Lần này Cao Biền sẽ cho âm binh xuất hiện đánh nhau với thần thánh.


- VI -


Trong thành Đại La có một bà hàng bánh, bán các loại bánh của người Lạc Việt như: bánh đúc, bánh khoái, bánh gai, bánh dầy…Cao Biền hay đến đó ăn. Hắn thích mang cô con gái mới mười sáu tuổi của bà về làm tì thiếp và nhờ bà hỗ trợ tạo âm binh. Cao Biền đưa bà đỉnh vàng và cái hộp bằng sắt, trong có một trăm hột đậu và một trăm nén hương. Hắn nói:


- Nhờ bà giúp tôi tạo ra bọn lính hầu. Việc làm dễ lắm! Mỗi ngày, bà thắp một nén hương và đọc một câu thần chú. Đủ trăm ngày, bọn chúng sẽ thành người giúp tôi dọn dẹp, quét tước trong phủ. Xong việc, tôi biếu trăm lượng vàng và đưa con gái bà lên làm phu nhân tiết độ sứ. Bà sẽ được phụng dưỡng và tiểu thư ăn sung mặc sướng đến hết đời.


Bà hàng bánh trả lời:


- Giúp ông thì được. Nhưng con gái tôi muốn làm vợ ông không thì do nó quyết định.


Cao Biền tán tỉnh:


- Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Chẳng lẽ bà không bảo được tiểu thư hay sao?


- Người Hán có thể bắt con làm theo lệnh của cha mẹ, còn người Giao Châu không có tục lệ này. Công chúa Tiên Dung, con gái Hùng Vương, khi gặp Chử Đồng Tử, quyết định lấy làm chồng rồi mới về bẩm báo với vua cha – bà cười nhạt.


Cao Biền cố nén sắc mặt tức giận:


- Thôi được! Bà cứ giúp tôi việc tạo ra lính hầu, còn hôn lễ ta sẽ tính sau.


Mẹ con bà hàng bánh bàn bạc với nhau. Cô gái nói:


- Việc kết duyên với một tên quan cai trị nhất định không được. Đêm nay, mẹ con ta đến đền Bạch Mã nằm mộng để xem thần thánh nói thế nào?


Nằm trong đền, nửa đêm, hai mẹ con nghe có tiếng dặng hắng. Một ông lão to lớn uy nghi, râu trắng dài đến ngực, xuất hiện từ bao giờ. Ông cụ nói:


- Ta là thần Long Đỗ đây. Mẹ con bà không nên tiếp tay cho giặc. Tên Cao Biền định dùng âm binh đi đánh phá đình chùa, đền miếu của người Âu Lạc. Bà chờ đến chín mươi chín ngày thì đốt cả trăm nén hương. Âm binh sẽ bị dậy non. Bà đã giúp nước phá tan âm mưu của giặc. Con gái bà tạm vào lánh mặt trong đền. Còn bà, lão sẽ bảo vệ-Nói xong, thần Long Đỗ biến mất.


Mỗi ngày, bà hàng bánh đều lấy than vạch vào cột một nét. Đếm đủ chín mươi chín nét, bà thắp hết số hương mà Cao Biền đã dặn, nhưng cố tình quên một chữ trong câu thần chú. Đêm đó, hộp sắt phát ra tiếng lục cục như gà con mới nở chạy đi chạy lại.


Cao Biền nhận hộp sắt, ghé tai lắng nghe ra vẻ đắc ý và hẹn ngày đến đón cô gái về làm vợ. Chờ cho hắn đi khuất, bà ném ngay trăm nén vàng xuống giếng, dọn dẹp nhà cửa rồi vào đền Bạch Mã lánh nạn.


Về đến gần phủ, Cao Biền bắt gặp khoảng mười đứa trẻ mặc áo đỏ, đầu để tóc trái đào, cầm tay nhau thành một vòng tròn. Chúng vừa reo hò vừa hát:


Phạm đến thần tiên,


Cao Biền mất mạng.


Phạm đến thần tiên,


Cao Biền mất mạng…


Hắn và quân hộ vệ đuổi theo bọn trẻ. Chúng chạy rất nhanh đến Nhị Hà, lao xuống nước mất tăm.


Cao Biền lo sợ những lời sấm truyền, nhưng mộng làm vua của hắn không giảm.


- VII -


Cao Biền cho đắp một cái đài cao chín thước chín tấc, mỗi cạnh một trượng, trên đặt bàn thờ cúng thần tiên tại chân núi Ba Vì. Lễ tam sinh của hắn gồm trâu trắng, ngựa trắng, dê trắng và một người con gái mười bốn tuổi. Cô gái đã bị mổ bụng, moi hết lục phủ ngũ tạng, thay thế ruột gan bằng cỏ đuôi chồn, được đặt ngồi trên một cái ghế. Khi vị thần nào nhập vào thì xác chết sẽ cử động, cũng là lúc lưỡi gươm vàng chém vào cổ. Cao Biền đã thành công một vài lần nên hắn hy vọng Tản Viên sơn thần sẽ bị mắc bẫy.


Đến giờ tỵ thì xác chết đứng lên. Cao Biền mừng quá, cầm thanh kiếm cả hai tay để chuẩn bị chém. Nhưng nhanh như chớp, cô gái khạc bãi đờm vào mắt tả của hắn. Một điếng nổ đốp… máu Cao Biền chảy xuống chan hòa. Con mắt mất hẳn ánh sáng. Hắn gầm lên giận dữ. Trên đài xuất hiện một người cưỡi ngựa trắng, trang phục màu trắng, tay cầm kiếm bạc, thần thái uy nghi. Cao Biền biết đó là thần núi Tản Viên đã nổi tiếng trong truyền thuyết của người Âu Lạc.


Hắn mở hộp sắt, dốc cả trăm hạt đậu xuống đất. Một trăm tên lính nhà Đường hiện ra. Chúng đội mũ sắt, mặc áo giáp sắt, ngực đeo hộ tâm kính, tay trái cầm khiên, tay phải cầm giáo. Cao Biền đọc thần chú nhưng bọn âm binh quá yếu, lẩy bà lẩy bẩy đứng không vững. Có tên ngồi bệt, có tên nằm phủ phục xuống đất…


Thần Tản Viên giơ kiếm lên trời. Ngựa trắng hý lên những hồi rộn rã như tiếng trống đồng xung trận. Từ sườn núi, hàng đàn thú vật ầm ầm kéo xuống. Đi đầu là một cặp voi trắng, theo sau là hổ, báo, heo, sói, trăn, rắn… xông vào đạo quân bảo vệ và bọn âm binh. Khi xưa, những thú vật này đã đánh tan quân lính của Thủy Tinh để bảo vệ cho mối tình công chúa Ngọc Hoa, con gái Hùng Vương và Sơn Tinh. Nay chúng được dịp dạy cho lũ giặc phương Bắc một bài học. Bọn âm binh của Cao Biền dậy non không đủ sức chống cự với thú dữ. Chúng trở lại thành những hạt đậu và bị nghiền nát dưới móng vuốt của voi, hổ…


Biết đại sự đã hỏng, Cao Biền nhảy lên diều bay về phương Nam, không dám trở lại phương Bắc vì âm mưu nổi loạn của hắn nhà Đường đã biết.


Vụ nổi loạn của An Lộc Sơn đã bị dập tắt. Vua Đường cử Tần Ngạn, người anh em kết nghĩa khi xưa của Cao Biền và Tất Đạt Sư đóng quân ở Quảng Châu chờ bắt hắn.


Diều bay được vài trăm trượng thì một đàn quạ đông đến hàng ngàn con đuổi theo. Cao Biền nương theo gió, bay thật nhanh về phương Nam. Nhìn những hải đảo mọc lên ở giữa biển Đông, hắn tiếc lắm. Chiếm được những cái đảo xinh đẹp kia thì sẽ khống chế được các nước quanh đây. Sự nghiệp thất bại, không bao giờ hắn trở thành Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang, Lý Thế Dân… độc chiếm thiên hạ, mở rộng bờ cõi đến tận cuối chân trời.


Nhưng bây giờ hết rồi! Mộng chiếm Giao Châu hết rồi! Cuộc đời cũng sắp hết rồi! Diều sa xuống một vùng đất lạ, cách Đại La cả ngàn dặm. Bọn quạ bay quanh chỗ hắn rơi, kêu lên những tiếng quạ… quạ… như tiếng âm hồn gọi Cao Biền về địa phủ. Thấy hắn nằm thoi thóp, bọn quạ đứng xung quanh, chuẩn bị thưởng thức “đại tiệc”.


Người địa phương thấy Cao Biền mũ cao áo dài nên thương hại chôn cất tử tế. Bên cạnh mả của hắn, người ta còn lập một cái miếu thờ[7].


Bà Lã Thị Nga, tức Lã Đê Nương, đến nửa năm sau mới biết Cao Biền đã chết. Bà ra bờ sông tế hắn rồi nhảy xuống nước tự tử. Nhân dân Giao Châu cảm thương cho số phận người phụ nữ bạc mệnh nên xuân thu nhị kỳ đều cúng tế bà.


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info







[1] Đền Bạch Mã (một trong Thăng Long tứ trấn) hiện ở phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.




[2] Ngày nay ở Ninh Bình có núi Cánh Diều. Đó là nơi tên tiết độ sứ Cao Biền suýt chết khi xưa.




[3] Củm là một loài thú dữ có lông màu nâu nhạt với những chấm của loài báo hoa mai, vạch rằn của loài hổ. Năm 1955, họa sĩ Phan Kế An, người có bức tranh Nhớ một chiều Tây Bắc nổi tiếng ở viện bảo tàng Mỹ Thuật Hà Nội, bắn được một con. Nhà ông Phan Kế An ở Yên Bái mất con chó con. Ông An liền theo vết máu và bắt gặp con thú khoảng 20 kg, ở trên cây đang ăn mồi. Khoảng cách quá gần, viên đạn ghém trúng đích, con vật rơi xuống gốc cây. Những người địa phương đến xem bảo đó là con củm. Ông An cho thuộc da con vật và treo ở nhà riêng tại phố Thợ Nhuộm, Hà Nội. Hồi kháng chiến chống Pháp, loài vật này còn khá nhiều ở Việt Bắc.




[4] Khi bà Lã Thị Nga qua đời, người làng lập miếu thờ tại địa phận tỉnh Hà Đông cũ.




[5] Cá ông sư là một loại cá có nọc độc, mình tròn, nhiều gai.




[6] Đoạn trường thảo: Cỏ đứt ruột.




[7] Miếu thờ Cao Biền hiện nay vẫn còn tại Phú Yên. Nhưng theo Cựu Đường Thư thì Cao Biền nổi loạn bị Tần Ngạn và Tất Đạt Sư bắt sống. Tần Ngạn hành hình hắn rồi mới tâu với vua Đường.


 




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
Cô gái làm ren Nachia/ Pautopsky ở Trà My - Konstantin Georgiyevich Paustovsky 01.06.2019
Kẻ ở nhờ - Phạm Thanh Khương 01.06.2019
Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều 16.05.2019
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
xem thêm »