tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24012803
Truyện ngắn
31.05.2017
Ngọc Toàn
Ông Tư Mít



I- Từ ngày về làng Thể Giao, ông Tư Mít không tập võ với đao kiếm. Ông chỉ dùng một chiếc ghế dài của hàng nước đầu đường làm binh khí để cơ bắp luôn rắn chắc. Mới nhìn qua, người ta nói ông đang tập thể dục để giữ gìn thể lực lúc sắp về già.


Làng Thể Giao ở cạnh hồ Bảy Mẫu. Trong làng còn có những hồ khác như Chín Chung, Cổ Ngựa… Ở những nơi cây cối um tùm, nhiều hồ ao ngăn cách như thế này, Tư Mít dễ đường trốn tránh bọn phu lít và mật thám. Ông vừa đưa chiếc ghế qua một thế võ “Tát nước theo mưa”, chưa kịp hoàn thủ thì hai tên phu lít nhảy qua hàng rào vào sân. Tên nhiều tuổi có hàm răng vàng quát lớn:


- Tư Mít, mày đã bị bắt!


Tư Mít vờ ngơ ngác hỏi lại:


- Hai thầy đội hỏi tôi?


- Mày đừng vờ nữa. Mày là hộ vệ của Đề Thám, lẩn trốn được cả chục năm rồi. Giỏi thật! Năm ngoái mày còn múa sư tử và giết một tên Tàu của đội Hội Quảng. Tội mày chắc mấy ông Tây sẽ giam vào Hỏa Lò rồi cho đi phát vãng.


Tư Mít quan sát địa thế, vị trí giữa mình với hai tên phu lít. Tên răng vàng cầm súng, còn tên trẻ hơn cầm dùi cui. Ông tỉnh khô:


- Hai ông cho tôi mặc cái áo rồi đi thì đi!


- Nhanh lên!


Cầm chiếc áo vắt trên cành cây, Tư Mít cố tình che mắt tên răng vàng và bất ngờ tung chân trái đá bay khẩu súng xuống hồ, đồng thời đập cả chiếc ghế gỗ lim vào mặt hắn khiến hàm răng gần bật ra khỏi mồm. Tên phu lít trẻ tuổi chưa kịp định thần thì bị cả chiếc ghế bay thẳng vào người. Gã giơ tay đỡ. Một riếng rắc khô khốc. Xương cánh tay bị gãy.


Cả hai tên rên rỉ xin tha mạng.


Tư Mít kéo chúng lại gần rồi trói vào nhau theo kiểu con nhà võ. Không dây buộc, nhưng những khớp xương tay chân của chúng bị quấn chặt, không cách nào tháo ra được. Mỗi lần cựa quậy là gân cốt chúng như bị chặt đứt.


Tư Mít bảo:


- Từ nay, chúng mày phải giải nghệ, không được phép theo giặc Phú Lang Sa[1] hà hiếp dân chúng. Còn với những người theo cụ Đề Thám đi cứu nước, chúng mày không được ăn nói vô lễ, xách mé, biết không?


Cả hai tên đều vâng dạ rối rít.


Tư Mít tiếp:


- Mày là đội răng vàng, tên Nhậm phải không? Mày xuất thân là thợ chữa xe đạp, xe kéo ở Ô Đống Mác chứ gì? Ai sai mày đến bắt tao?


- Thưa… thưa… Đó là ông lý Tạo.


- Bây giờ, tao mượn hàm răng vàng của mày. Chúng mày cứ nằm ở đây, ngày mai Tây đến cứu. Tao không muốn giết người. Từ nay còn làm tay sai cho giặc thì sẽ được xuống nghĩa trang Phúc Thiện làm bộ hạ của Diêm Vương.


Ông Tư Mít thọc tay vào mồm tên Nhậm, giật cả hai hàm răng vàng của hắn, bỏ vào túi.


Lý Tạo tắt đèn định đi ngủ thì có tiếng gõ cửa. Con chó béc giê sủa ran. Gã quát:


- Ai? Có việc gì?


Một giọng nói run run, vẻ quỵ lụy:


- Thưa ông Lý, cháu đến xin ông đóng triện vào cái đơn. Cháu đội ơn ông!


Lý Tạo hách dịch:


- Đến mai hãy hay! Có tiền không mà gõ cửa giờ này?


- Thưa ông… cháu có năm hào đây ạ.


- Ái chà! Được! Tao ra ngay!


Thông thường chỉ cần hai hào thì xin triện gì gã cũng cho. Năm hào có thể mua được được năm yến gạo.


Gã khêu to ngọn đèn măng xông, đi dép loẹt quẹt ra mở cửa. Chiếc cánh cửa bức bàn bằng gỗ đinh vừa hé thì một bàn tay chộp lấy cổ gã. Người tấn công rất có nghề. Ngón cái và ngón giữa thít chặt, ngón chỏ chọc sâu vào chỗ lõm dưới yết hầu. Mỗi lần lý Tạo cựa quậy thì ruột gan phèo phổi của gã muốn lộn ra ngoài.


Lý Tạo hoảng hốt:


- Ông là ai?


- Tao là Tư Mít!


Có tiếng chó gầm gừ, chứng tỏ con vật chuẩn bị tấn công. Tư Mít lần tay kia xuống cởi chiếc khăn đen buộc quanh bụng, vũ khí bất ly thân của mình. Khăn hình vuông, đường chéo dài một sải tay người lớn, một đầu buộc cả gia tài của Tư Mít gồm xu cạch, xu đồng, hào đôi, chinh Khải Định… nặng không dưới 2 lạng tây. Con chó nhảy lên lao vào mặt Tư Mít. Lý Tạo mở cờ trong bụng, phen này bắt được Tư Mít, gã sẽ được Tây thưởng rất to. Dư đảng của Đề Thám ít nhất cũng trị giá 100 đồng bạc hoa xòe. Tư Mít ơi, đời mi đi đoong rồi. Tao sẽ giàu lại giàu thêm!


Nhưng gã thất vọng ngay. Cái khăn của Tư Mít vung lên không biết mạnh cỡ nào mà đầu con béc giê như trúng phải búa tạ của đồ tể. Nó rú lên như bị dại, bốn chân giật giật giãy chết.


Ông Tư Mít đưa cho Lý Tạo hai hàm răng vàng:


- Mày có biết của ai không?


- Thưa… thưa… của đội Nhậm…


Tư Mít nới tay:


- Từ nay, mày bỏ cái nghề chó săn, làm lý trưởng cho Tây này đi. Nếu còn truy đuổi tao thì tao sẽ cho mày đi ngủ với con chó này!


- Dạ… dạ… Tôi không dám nữa ạ!


- II -


Sau khi đồn Phồn Xương bị giặc Pháp chiếm, hùm thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám không còn. Tư Mít, người hộ vệ của ông lánh về vùng xuôi. Hơn chục năm ra Bắc vào Nam tìm kiếm lãnh tụ không được, các cuộc khởi nghĩa khác không phù hợp, Tư Mít trở về ẩn mình ở vùng Noi Cáo. Ông tá túc nhà Hai Nhiệm ở cạnh đình Xuân La, thuộc làng Cáo Đỉnh. Vùng đất này dễ bề lẩn trốn. Phía Nam giáp hồ Tây. Phía Bắc qua cánh đồng đầy lau lách là Kẻ Noi, quá chút nữa đến Chèm Vẽ, vượt sông Nhị Hà là tới Bắc Ninh. Phía Đông lên Sấu Giá đi Sơn Tây, vượt sông là qua Phú Thọ, vào vùng rừng núi trung du.


Hai Nhiệm là người đầy nghĩa khí. Ông không giàu có nhưng luôn cho người mang tiền bạc lên giúp Đề Thám mua lương thực, khí giới. Khởi nghĩa Yên Thế tan rã, ông chuyển sang hỗ trợ cho Tán Thuật[2].


Buổi sáng, Hai Nhiệm ra đình Xuân La dạy mươi đứa trẻ học cả chữ Quốc ngữ và Tam tự kinh. Buổi chiều, ông dạy đội sư tử Cáo Đỉnh võ nghệ.


Hai Nhiệm dạy học bên Tả Vu của đình Xuân La. Dưới chân ông là một địa đạo[3] có cửa ở hậu cung. Hầm này được làm từ đời nhà Lý, xây cuốn như tổ tò vò, những viên gạch nung có hoa văn rồng rắn và cánh sen cách điệu. Địa đạo nhiều ngóc ngách tỏa ra khắp làng như mê cung, một số đoạn đã bị sụp đổ. Theo truyền thuyết, đầu địa đạo xuất phát từ điện Kính Thiên trong nội phủ Thăng Long. Hai Nhiệm và Tư Mít ra sức sửa sang lại những cửa thoát hiểm và đặt nhiều cạm bẫy.


Tư Mít yên tâm ở nhà Hai Nhiệm với vai trò người giúp việc, làm vườn. Buổi tối, hai người ngồi uống chè đàm đạo. Họ gặp nhau ở chỗ thích chè Bình Gia, Lạng Sơn. Tư Mít ở đầu nhà ngang. Mỗi khi có tiếng chó sủa là ông biến vào hầm.


Gần Tết Trung thu, Hai Nhiệm nói với Tư Mít:


- Ông chủ một nhà hàng ở phố Hàng Buồm mời tôi mang đội sư tử ra Hà Nội biểu diễn. Ông ấy treo giải cho chúng ta lớn tới 10 đồng. Tôi bị bệnh cả tuần nay. Xin chú giúp tôi xuống giật giải.


Tư Mít ngần ngừ chưa nhận. Hai Nhiệm cười:


- Chú sợ mật thám Tây nhận mặt chứ gì? Cứ mặc quần áo đen, chít khăn đen, bôi phấn, thêm tí râu mép rồi chụp cái đầu sư tử lên thì giời cũng chẳng nhận ra. Ông chủ tiệm rất nhiệt tình, lại còn chịu ơn tôi. Không xuống không được!


- Ông ấy chịu ơn bác dịp nào?


- Năm ngoái, tôi đang thù tạc tại nhà hàng thì có bọn du đãng vào phá rối, đòi đứng ra bảo kê cho tiệm. Ông chủ không chịu. Chúng đập phá. Tôi liền can thiệp, đá bay hai tên qua cửa sổ trên gác xuống đường. Ông chủ hàm ơn mãi, luôn mong đội sư tử Cáo Đỉnh xuống biểu diễn để trả ơn và thêm mối thân tình.


- Vâng, tôi nhận lời giúp bác!


Đội sư tử Cáo Đỉnh mới thành lập. So với sư tử của đội Yên Thái, Yên Phụ đã có trên hai mươi năm được mang râu xám; đội Linh Đường, Kẻ Lủ ngoài bốn mươi năm mang râu bạc… thì đội Cáo Đỉnh mới ra đời chỉ được mang râu đen.


Đội sư tử Cáo Đỉnh nhỏ, ít nhân lực, tài sản chỉ có hai chiếc xe bò. Một chiếc chở đầu sư tử, trống cái, phèng la. Còn chiếc kia chở hai quan tài cùng vũ khí, phòng khi tranh chấp với đội khác có người chết thì anh em chở xác mang về quê quán khâm liệm.


Tiếng trống dục dục… tùng chòe…, tiếng phèng la xập xòe… xập xòe… giữa tiếng người cổ vũ nghẽn cả đoạn phố Hàng Buồm. Ông chủ nhà hàng Đông Hưng rất vui. Đích thân ông đứng trên gác, cầm quả cầu đỏ tua vàng trong đựng giải thưởng để câu sư tử.


Tháp người cao dần. Lên đến tầng thứ ba thì Tư Mít giật được giải.


Vừa lúc ấy, đầu phố xuất hiện một đội sư tử râu bạc, số người đông gấp hai đội Cáo Đỉnh. Khán giả xì xào: “Đội sư tử đền Hội Quảng”. Bọn này có tiếng là dữ dằn, năm nào cũng gây những vụ đụng độ chết người. Tên múa sư tử là một lão già quắc thước, độ 50 tuổi. Lão quát hỏi Tư Mít:


- Chúng mày muốn chết không? Sao dám làm ăn ở Hàng Buồm, đất của chúng tao?


Tư Mít cười nhạt:


- Đây là Việt Nam. Đất của chúng mày ở Thượng Hải, Bắc Bình, Thiên Tân… À, cả Lư Câu Kiều[4] nữa.


Lão già người Tàu gầm lên:


- Mày có dám đấu với tao không?


- Chúng mày thì giỏi rồi! Người Nhật gọi người Tàu là “Đông Á bệnh phu”, người Mãn Châu gọi là “Hán cẩu”. Nhật Bản đương đè đầu cưỡi cổ dân tộc mày. Về nước mà đánh đuổi họ đi để được cả thế giới gọi là “Đông Á dũng phu”.


- Thằng Ố Nàm Nhần[5] này muốn chết!


Lão cởi ngay cái áo đen để lộ bộ ngực có xăm con rồng nhe nanh múa vuốt, rồi xuống tấn đi một vài đường quyền thách thức.


Tư Mít biết lão là đệ tử Thiếu Lâm, các miếng võ rất nghiêm cẩn, không sai lời thầy dạy đến một ly. Nhưng lão quá câu thúc, các đường quyền cước trở nên khô cứng. Muốn đánh bại lão thì chỉ cần ra vài miếng võ hè phố, không có bài bản chiêu thức gì.


Tư Mít đấm đá loạn xạ khiến lão Tàu ngẩn người, động tác chậm lại. Ông giở miếng Tây Sơn Tam Cước của võ Bình Định do Nguyễn Huệ sáng chế, nhảy qua đầu địch thủ, chân phải quét vào bộ mặt đang dương dương tự đắc. Chân trái vừa chấm đất, Tư Mít đã quay ngay lại nhảy qua đầu lão lần thứ hai và đến lần thứ ba thì đá trúng mặt lão khiến máu mũi đổ ộc ra.


Đang đánh, Tư Mít co giò chạy, giả vờ vấp ngã. Lão Tàu mừng rỡ, định dùng cả hai chân nhảy lên người ông. Nhưng lão bị mắc lừa, Tư Mít chống hai tay xuống đất, cong người đá hậu, miếng võ của Quận He Nguyễn Hữu Cầu truyền lại. Chân phải ông đạp trúng bụng kẻ thù. Lão già bay đến ba mét. Điều không ngờ xảy ra, tên bộ hạ của đội Hội Quảng lớ ngớ không kịp tránh, xọc ngay vũ khí vào lưng thủ lĩnh. Lão Tàu hoảng hốt nhìn mũi giáo xuyên từ lưng qua bụng. Lão hộc lên những tiếng như lợn bị chọc tiết. Tiếng khóc, tiếng la vang trời:


- Tài có… tài có[6]


- Xì phù… xí phù[7]


Hai bên dàn quân chuẩn bị huyết chiến.


Bỗng những tiếng còi vang lên. Phu lít Tây xuất hiện ở đầu phố. Nếu ai bị bắt vào sở cẩm lúc này thì sẽ rũ tù vì trận đánh nhau có người chết. Cuộc chiến ngừng ngay lại. Đội sư tử Cáo Đỉnh ào ào thu dọn đồ nghề, chất lên xe bò, biến mất vào Ngõ Gạch. Đội đền Hội Quảng ném xác thủ lĩnh vào áo quan, rồi ba chân bốn cẳng chạy về phía phố Mã Mây.


-  III  -


Tư Mít đưa Hai Nhiệm gói tiền thưởng để chia cho anh em trong đội:


- Chắc chắn mật thám Tây và bọn chó săn sẽ truy đuổi tôi đến đây và làm phiền bác.


Hai Nhiệm buồn rầu:


- Chú giúp tôi đâm mang vạ. Tôi áy náy quá!


- Tình nghĩa giữa chúng ta thì việc vặt ấy có gì phải băn khoăn!


- Bây giờ chú Tư tạm khuất thân, vào địa đạo một thời gian để tránh tai mắt của địch.


Ba tháng sau, Tư Mít gặp Hai Nhiệm:


- Đêm qua, một tên tay sai lần xuống địa đạo, sa vào hố chông. Tôi vùi xác nó vào vũng bùn đã chuẩn bị sẵn ở trong hầm. Hôm nay, tôi xin từ biệt bác để đi nơi khác lánh nạn.


Hai Nhiệm đưa Tư Mít 10 đồng bạc. Tư Mít chỉ cầm lấy 1 đồng:


- Cảm ơn bác đã cưu mang tôi nhiều năm! Tôi về quê ngoại ở làng Thể Giao tá túc, thỉnh thoảng sẽ trở lại thăm bác. Ơn nghĩa của bác, Tư Mít này không bao giờ dám quên!


- IV -


Từ Cáo Đỉnh về làng Thể Giao, song Tư Mít vẫn bị bọn phú lít lần ra dấu vết. Một lần nữa, ông phải bỏ Thể Giao tới tá túc ở làng Thanh Nhàn ngoại thành Hà Nội.


Ngày đó, làng Thanh Nhàn còn vắng vẻ, mới có dưới một trăm nóc nhà. Trong làng hồ ao chằng chịt, chỉ có hai con đường qua lại. Dễ đi nhất là qua sông Kim Ngưu bằng cầu gỗ, sau này người ta gọi là cống thối. Một đường khác qua rặng ổi dài dằng dặc sang ngõ Quỳnh, phố Bạch Mai. Giữa làng là hồ Hàn Tốn rộng trên 10 mẫu, từ bờ này sang bờ kia gần 200 thước tây. Lòng hồ có mấy cái đấu sâu ngập con sào, chung quanh là vương quốc của si và đa, các loại cây có sức sống mãnh liệt. Khi vươn cành ra xa, cây thò ra vài cái rễ, rễ dài tới đâu là cắm ngay xuống lòng đất và trở thành một thân cây mới. Người ta có thể chuyền từ cây này sang cây khác quanh bờ hồ mà không cần phải xuống đất. Cây cối um tùm là nơi cư ngụ của sóc, sáo, chích chòe, cú, quạ… Dưới các hốc cây là nơi trú ẩn của cầy, cáo, mèo hoang…


Tư Mít rất ưng ý. Ông làm một căn nhà nhỏ ba chái ở ven hồ, đối diện một cái nghĩa địa có mấy chục ngôi mộ phía bên kia.


Ngày mới đến, dân làng nhìn ông với cặp mắt nghi ngờ:


- Tên ngụ cư này là ai? Người nghèo lên thành phố kiếm việc làm hay mật thám của Tây đi săn người.


Nhưng nhìn cách ăn mặc của Tư Mít, người ta nghĩ ông là dân tứ chiếng đi làm thuê, đổ mồ hôi đổi lấy bát cơm. Ông búi tó củ hành, quấn quanh bụng một chiếc khăn đen thay thắt lưng và chỉ có ba bộ quần áo may theo kiểu nhà nông.


Nhưng có hai việc Tư Mít vô tình làm đã để người ta nhìn ông với cặp mắt thiện cảm.


Một buổi chiều, về qua cầu gỗ, thấy một người ăn mày để chiếc rổ rách trước mặt xin của bố thí, Tư Mít dúi vào tay người hành khất 2 hào. Ông lão đưa lên mồm cắn thử xem có phải tiền thật hay không. Lúc lão cảm ơn thì Tư Mít đã đi xa. 2 hào khi ấy mua được 2 yến gạo. Dân làng nhìn thấy, cảm phục lòng hào hiệp của ông.


Lần khác, trong làng Thanh Nhàn có đám ma một bà cụ già. Tang chủ quá nghèo, phải bó chiếu chôn mẹ. Tư Mít biết chuyện đến nhà có đám. Ông thắp hương lâm râm khấn, quay sang đáp lễ chủ nhà rồi cởi cái khăn quấn quanh bụng, lấy ra một nửa số tiền gồm xu đồng, xu cạnh, hào một, hào đôi, tiền Khải Định khoảng trên 2 đồng Đông Dương và đặt lên bàn thờ. Số tiền bằng lương người lao động làm cả tháng. Chủ nhà quá cảm động:


- Bác cho mẹ tôi nhiều quá, tôi lấy gì báo đáp! Bác cho biết tên. Mời bác ở lại xơi bữa cơm rau với gia đình.


- Tôi là Năm Quýt. Xin hẹn bữa khác sẽ sang.


Thằng cu Tèo con chủ nhà chạy đến nắm tay Tư Mít:


- Bác Năm ở lại đi. Ngày nào cháu cũng được bác cho kẹo đấy mà.


Thỉnh thoảng Tư Mít đãi bọn trẻ con chơi đùa ở sân chùa vài cái kẹo. Trong túi ông lúc nào cũng có gói kẹo bột hoặc kẹo vừng. Đôi khi, ông còn bẻ cho chúng nửa chiếc kẹo lạc. Bọn trẻ này chính là tai mắt của ông. Trong làng có chuyện gì là chúng kể lại rất rành rọt.


Tư Mít ra đến cửa, cả nhà đám chạy theo vái ông với cặp mắt biết ơn.


- V -


Trong nhà Tư Mít chỉ có cái giường tre, bộ tràng kỷ tre, nậm rượu bằng quả bầu khô, cái ấm sứt vòi và vài chiếc chén mẻ. Có lẽ, chỉ cái bát điếu Bát Tràng là giá trị nhất.


Ông đang hút dở điều thuốc lào Tiên Lãng, tiếng rít ro ro thật vui tai thì bọn trẻ ùa vào. Chúng tranh nhau nói:


- Bác Năm biết không, bốt ba thằng Tây ở Bạch Mai bắt cô Nụ bán giầu vỏ rồi. Chúng giết chết cô và phơi xác ở đầu Ô Cầu Dền.


Tư Mít gật gù, chiếc búi tó củ hành rung rung trên đầu:


- Bọn chúng ác quá nhỉ! Bác cháu mình tránh xa là hơn.


Nói vậy, nhưng trong đầu Tư Mít đang tìm cách cướp xác để chôn cất người bất hạnh.


Cô Nụ rất đẹp. Áo tứ thân bó chặt lấy cơ thể thon thả, chiếc yếm đào che bộ ngực nở nang của tuổi 18 làm tăng thêm phần duyên dáng. Cô bán giầu vỏ ở cửa ô để lấy tiền nuôi mẹ già, cũng làm chỗ liên lạc cho những người hoạt động đánh Tây.


Cô bị bắt ngay đầu Ô Cầu Dền. Thằng bốt trưởng tên là tây Ma Đo hỏi cung ba giờ liền. Nó ra điều kiện:


- Nếu mày khai ra đồng đảng và làm nhân tình của tao thì tao tha cho mẹ con mày và chu cấp no ấm cả đời.


Cô Nụ chỉ một mực khai:


- Ông hỏi tôi giầu không ở Phượng Công hay Linh Đường nơi nào ngon hơn thì tôi biết. Giầu Phượng Công to lá, rất ngọt. Còn giầu Linh Đường thơm hơn nhiều. Vỏ chay hay vỏ trang thì Phú Thọ là nhất. Còn những chuyện khác thì làm sao tôi biết được.


Sang ngày thứ ba thì cô Nụ chết vì đau đòn và bị bỏ đói. Bọn giặc mang xác cô đặt vào cái áo quan gỗ tạp để ở đầu đê Ô Cầu Dền. Chúng cho tên mật thám mặc thường phục, núp vào nơi kín đáo, theo dõi ai đến lấy xác để bắt.


Đã hai ngày, cái xác sắp phân hủy mà chả ai dám đến lấy mang đi.


Đêm đã khuya, tên mật thám buồn ngủ ngáp dài. Hắn chợt bừng tỉnh vì có một người mặc quần áo đen tiến đến đánh thức. Chưa kịp quát hỏi, hắn đã bị một nhát búa nện vào đầu.


Xác cô Nụ biến mất.


Sáng hôm sau, cả đồn Tây nháo nhác chia nhau đi tìm.


Cái nghĩa địa cạnh hồ Hàn Tốn thêm một cái mả mới. Chẳng ai ngờ tới và cũng chẳng ai tìm hiểu.


Tư Mít nằm ngủ ngon lành. Không cùng đồng đội, đồng đảng với cô gái nhưng đây là nghĩa cử, ông không thể bỏ qua.


- VI -


Bốt Bạch Mai do ba thằng Tây cai quản. Gọi là ba thằng Tây, nhưng chúng có ba màu da và ba quốc tịch khác nhau.


Tên đồn trưởng, người dân gọi là Tây Ma Đo do hắn uống rượu suốt ngày, mặt đỏ như gà chọi. Hắn là Tây chính cống, sinh ở đảo Coóc, đồng hương với Nã Phá Luân[8], kẻ xâm lược khắp châu Âu. Tây Ma Đo sang Việt Nam từ đầu thế kỷ 20. Hắn bị món ăn, thức uống của người Việt mê hoặc đến mức không thể nào trở về nước được. Tây Ma Đo khoái nhất là thịt chó và rượu ngang. Hắn nói thịt chó Tây gây không ăn được, còn mấy con vàng vện ở Đông Dương thịt thơm và đậm. Có lẽ do chó ta thường xuyên ăn “vi-ta-min êu êu”. Còn rượu, Tây Ma Đo không chịu uống loại sản xuất tại nhà máy ở 94 phố A Măng Rút Xô[9]. Thứ rượu này cất bằng ngô hay sắn, uống nhức đầu, gọi là rượu ty, bán ở các đại lý có bảng RA[10]. Rượu hắn thích uống là loại cất từ gạo nếp, nhất là của làng Lạc Đạo hoặc Thổ Hà tỉnh Bắc Ninh. Loại này uống đến đâu biết đến đấy, ngọt và thơm, Tây gọi đó là rượu lậu hoặc rượu ngang và cấm bán trên toàn quốc.


Mỗi ngày Tây Ma Đo uống ít nhất là 1 lít mới đủ sức đi tuần và đánh tù nhân. Hắn khoái thịt chó, sành sỏi đến mức: thịt nướng phải ăn ở làng Đồng Nhân, rựa mận phải thưởng thức tại quán Bạch Mai, dồi chó ngon nhất ở Ô Đống Mác… Ngày nào Tây Ma Đo cũng phải đến cửa hàng nào đó đánh chén. Chủ quán thuộc sở thích của hắn, khi nghe tiếng phanh xe đạp và tiếng líp kêu ro ro là biết Tây Ma Đo đến cửa. Chủ quán lấy ra đầy một bàn thức ăn và chai rượu ngang 1 lít. Tây Ma Đo nhấm nháp thịt chó cả giờ đồng hồ. Khi đứng dậy, hắn không bao giờ nhớ là phải trả tiền mà chủ quán còn phải tống tiễn thêm 1 lít rượu nữa để hắn mang về bốt uống tiếp. Tây Ma Đo hài lòng thì tiệm cứ tiếp tục buôn bán. Nếu hắn giận dữ thì hãy coi chừng, đội xếp sẽ đến khám xét, bắt rượu lậu và dẹp tiệm.


Tên thứ hai gọi là Tây nhưng là Tây đen rạch mặt, sinh tại châu Phi, người ta gọi là Xê-nê-ga-le. Gã này mỗi bên má có ba cái rạch. Da gã đen, nổi lên ba cái rạch màu đỏ trông rất đáng sợ. Cái xứ sở của gã, khi đứa trẻ đẻ ra, cha mẹ mời thầy mo đến làm lễ rạch mặt. Ông thầy mo đầu đội mũ có hai cái sừng, cởi trần, quấn quanh bụng chiếc váy bằng lá cây, nhảy nhót quanh đứa trẻ sơ sinh, hò hét xua đuổi ma quỷ. Lúc mệt mỏi, thầy mo mới bắt đầu hành hạ đứa trẻ, dùng một con dao nhọn rạch mặt nạn nhân. Có đứa bị rạch hai bên má mỗi bên ba nhát, đứa khác bị ở trán, mũi và cằm hoặc sống mũi. Giữa tiếng thét yếu ớt của hài nhi là tiếng hò hét tưng bừng của cả bộ lạc. Có năm, số trẻ chết vì vi trùng uốn ván lên đến hai, ba chục phần trăm. Tên Tây đen rạch mặt muốn lấy vợ người Việt, nhưng xem ra cả mấy mụ me tây cũng ngán cái mặt quỷ dữ của gã. Chính tên này là kẻ khởi xướng bắt cô Nụ để hãm hiếp.


Tên thứ ba là một người Việt chính cống, nhưng y thích giống các quan Tây nên tự tạo dáng đi đứng cứng nhắc giống như mấy cái ma nơ canh. Dân chúng gọi y là thằng Tây gỗ. Mẹ y xuất thân ở nhà chứa và cũng chẳng biết bố y là ai, có thể là lính khố đỏ hoặc lính khố xanh, hay tên ma cô dẫn gái. Đời Tây gỗ chỉ mong có ngày được nhập làng Tây để vênh vang với xóm giềng. Nếu có quốc tịch Phú-lang-sa, y có thể thăng quan tiến chức, làm đến trưởng bốt phú lít không chừng!


Tư Mít về đến nhà là biết ngay có kẻ lạ đột nhập. Chiếc chiếu ông cố tình để xô lệch đã được ai đặt thẳng thắn lại. Dây buộc cửa thắt nút thuyền chài được buộc lại theo nút dẹt. Trẻ con chưa bao giờ tự tiện vào nhà khi ông đi vắng.


Cu Tèo đứng cửa, khẽ nói thì thầm vào tai ông:


- Bác Năm ơi, thầy cháu bảo bác cẩn thận. Mấy hôm nay, lý Tạo dòm ngó nhà bác. Hắn lẻn vào hai lần rồi đó.


Xoa đầu đứa trẻ và cho nó cái kẹo, Tư Mít nói:


- Bác biết rồi. Cám ơn cháu!


Ngay đêm đó, Tư Mít chuẩn bị đón tiếp những vị khách không mời mà đến.


- VII -


Năm người lầm lũi như những bóng ma xộc vào nhà Tư Mít. Giường chiếu không có người. Năm ngọn đèn pin sục sạo khắp xó xỉnh. Lý Tạo nói:


- Rõ ràng người của tôi thấy nó về nhà chiều nay, trên tay cầm cái búa đinh cũ kỹ.


Tây Ma Đo ra lệnh:


- Tất cả bố trí bên ngoài theo kế hoạch. Riêng thằng Tạo ngồi tại đây, thấy nó về là bắn què liền!


Tên Tây đen rạch mặt và Đội răng vàng nấp trong gốc si cách nhà Tư Mít chừng 30 mét. Tây Ma Đo và Tây gỗ đi vòng sang nghĩa địa, ẩn vào chỗ tối. Đêm đã khuya, chỉ còn tiếng côn trùng rên rỉ và tiếng chồn, cáo, chim lợn đi ăn đêm gọi nhau.


Lý Tạo nhìn chiếc đồng hồ dạ quang đeo ở tay. Đã gần 4 giờ sáng. Có lẽ giờ này Tư Mít đã lặn xa… Gã đứng nép vào cánh cửa chờ đợi. Lúc lý Tạo che mồm định ngáp thì một bàn tay cứng như sắt nắm lấy vai phải của cánh tay cầm súng và một bàn tay bóp cổ gã. Người đó tất nhiên là Tư Mít. Ông đi đằng nào vào nhà, cứ như từ dưới đất mọc lên.


Lý Tạo quay lại định bóp cò súng, nhưng cánh tay bị tê liệt. Gã nghe thấy cả tiếng xương vai mình bị vỡ. Tư Mít quay người lý Tạo, hai bộ mặt giáp nhau. Tư Mít gằn giọng:


- Tao đã tha mạng mày một lần mà mày không biết giữ thân. Chớ trách tao!


Lý Tạo run lên bần bật, quỳ mọp xuống đất, van lạy:


- Xin ông tha chết cho tôi một lần nữa! Tôi còn bố mẹ già, hai vợ và sáu đứa con.


Tư Mít cười nhạt:


- Nhiều người phải nuôi thế cơ à! Mày bóp cổ dân lắm tiền quá nhỉ!


Ông găm chặt hai ngón tay vào cổ gã. Thanh quản, thực quả, khí quản của lý Tạo bị đâm thủng. Máu và bọt khí theo lỗ thủng phọt ra. Lý Tạo muốn gào lên mà không được. Gã chết không kịp nhắm mắt. Tư Mít đặt lý Tạo lên ghế cạnh bàn, rồi ông nhặt khẩu súng còn nguyên băng đạn bỏ túi.


Nghe tiếng động, tên Tây đen rạch mặt chạy vào nhà hỏi:


- Có chuyện gì không mày?


Tiếng người trả lời:


- Có đấy!


Một nhát búa đinh đập vào gáy gã. Tên Tây đen hộc lên rồi ngã gục. Đội Nhậm răng vàng đến tiếp ứng. Vừa bước qua bậu cửa thì một người ôm choàng lấy hắn. Đội răng vàng bắn liền hai phát đạn vào ngực đối thủ và lấy đèn pin soi mặt. Giời ơi, Tây đen rạch mặt! Hắn điếng người, tội này lớn quá, giết Tây đen thì chỉ có Hỏa Lò là nơi đón tiếp! 10 năm ngồi xà lim là cái chắc.


Đội Nhậm không còn tự chủ được nữa khi bị một sợi dây siết chặt quanh cổ. Hai tay hắn múa lên trời, chân giãy giụa đến hai phút mới tắt thở.


Cả ba cái xác được ném chồng lên nhau. Nhét thêm hai khẩu súng vào chiếc khăn quấn quanh bụng, Tư Mít leo lên rừng si, chuyền về phía nghĩa địa.


Hai phát súng do Đội răng vàng bắn làm náo động cái làng đang sống yên bình. Từ rặng ổi, cầu gỗ, những tiếng súng đì đùng chứng tỏ giặc mang cả bốt đến bắt Tư Mít. Qua kẽ lá, ông thấy gần hai chục tên vây quanh hồ Hàn Tốn. Tư Mít tính toán, với ba khẩu súng trong tay, ông có thể giết dăm tên địch nhưng khó thoát thân.


Một quầng sáng từ chỗ nghĩa địa bừng lên. Mấy chục con mắt hướng về phía ngôi mả mới có một người áo đen đang ngồi bình thản. Tây Ma Đo mừng quá. Hắn bắn một phát súng báo hiệu. Bọn bộ hạ ào ào chạy tới. Còn khoảng 10 mét, bóng đen khoan thai đứng dậy tiến về phía Tây Ma Đo với mái tóc dài bay trong gió. Không phải Tư Mít rồi. Tây Ma Đo sững lại. Cả chục cái mồm la lên:


- Con Nụ!


- Cô Nụ!


- Cái Nụ!


Đúng là cô Nụ, người đã bị chúng giết cách đây hai tháng. Tây Ma Đo và Tây gỗ trút cả băng đạn vào người cô. Đạn bay qua cơ thể như xuyên trong không khí. Cô Nụ xông thẳng đến trước mặt Tây Ma Đo, thọc bàn tay vào ngực hắn. Năm ngón tay đỏ lên như sắt lò rèn. Xương lồng ngực Tây Ma Đo gãy vụn. Cô Nụ giật lấy trái tim ra ngoài. Hắn giãy giụa như con cá quả bị chặt đầu.


Tây gỗ sợ đến són ra quần. Gã nhảy xuống bờ ruộng chạy trốn. Không biết một ngọn giáo hay mũi dao nào chờ sẵn, xuyên suốt từ bụng ra đến lưng gã. Trước khi chết, Tây gỗ cố nhìn xem kẻ giết chết mình là ai. Không ai cả! Đó là mũi nhọn của cây ngà voi, một loài cây chỉ có thân, không có lá, dài đến cả mét, đầu nhọn hoắt như một chiếc lao. Loài cây này được trồng ở đình chùa hay nghĩa địa, sống khá lâu năm và phát triển thành nhiều bụi, vài năm trổ hoa một lần vào dịp Tết âm lịch. Vòi hoa dài nhô lên từ giữa thân cây, mùi thơm hăng hắc như hoa dạ lan hương.


Lũ phú lít thi nhau chạy, không dám và không kịp nhặt xác đồng bọn. Ba thằng Tây ba màu da bị mất mạng với những cách khác nhau. Tên bị đánh chết, tên bị ma móc tim, tên bị cây đâm. Tư Mít nhảy từ cành si xuống định cảm ơn cô Nụ. Bóng ma đã biến mất từ lâu. Ông đến trước ngôi mộ ông của người con gái bất hạnh, vái ba vái:


- Xin cảm ơn cô đã cứu mạng! Tôi còn sống, còn đánh Tây.


Chân trời đã hửng. Tư Mít đi về hướng Đông, nơi bình minh đang mọc.


(còn tiếp)


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info







[1] Phú Lang Sa: tên gọi nước Pháp từ đầu thế kỷ 20 trở về trước.




[2] Tán Thuật: Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy đầu thế kỷ 20.




[3] Địa đạo Xuân La: được du kích Cáo Đỉnh làm nơi ẩn náu, cất giấu vũ khí, lương thực trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Theo dân địa phương cho biết, địa đạo này rất dài, thông đến tận nội thành.




[4] Lư Câu Kiều: nơi quân Nhật gân hấn với Trung Quốc.




[5] Ố Nàm Nhần: dân An Nam. Cách gọi xch mé của người Hoa đối với người Việt trước Cách mạng tháng Tám.




[6] Tài có: Đại ca.




[7] Xí phù: Sư phụ.




[8] Napoleon Bonaparte.




[9] A Măng Rút Xô: tên gọi phố Lò Đúc trước Cách mạng tháng Tám.




[10] RA: đại lý bán rượu ty.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Talico - DUMBADZE, Nodar Vladimirovich 19.09.2018
Vách đá cheo leo - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2018
Tiếng đàn thầm - Nguyễn Mộng Giác 20.08.2018
Nước cạn, hoa lau - Nguyễn Mộng Giác 17.08.2018
Mẹ và con - Nguyễn Mộng Giác 17.08.2018
Gió hú - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2018
Ngựa đá sang sông - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2018
Tên đào ngũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2018
Cho tay này, lấy tay kia - Bình Nguyên Lộc 30.07.2018
Pì Pế Hán - Bình Nguyên Lộc 30.07.2018
xem thêm »