tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052975
Truyện ngắn
02.11.2016
Vũ Hạnh
Người chồng thời đại



Chồng của cô Bông, gọi là anh Đương, trước kia đã giữ két tiền cho một hãng buôn. Gần gũi phát sinh tình yêu, tình yêu đưa đến lấy nhau, lấy nhau tạo ra đau khổ, cái quy luật ấy thật đúng với anh trong chuyện bạc tiền. Bởi cứ giữ tiền nên lâu ngày anh mê nó, và đã lấy nó khá đậm, rồi đau khổ vì ngồi tù. Anh được ra tù trước cái thời hạn luật định khá lâu, nhờ luật pháp cũng có cái bệnh si mê tương tự như anh. Lấy được cô Bông, về thuê nhà sống cạnh gia đình vợ, anh không còn dám bước ra khỏi ngõ. Tình thế, cảnh ngộ, ái ân, bạc tiền, bao nhiêu là thứ đã tạo ra cho thời đại chúng ta nhiều loại ẩn sĩ. Khác với ngày xưa ẩn sĩ được xem là rất thanh cao, ngày nay ẩn sĩ thường là những người xấu hổ hoặc là sợ hãi.


Tất cả các sự tình đó khiến anh dần dần đổi thay nghề nghiệp và anh trở thành đầu bếp gia đình. Vợ anh từ đây xuất hiện ở ngoài xã hội, đua chen kiếm tìm sự sống về nuôi cả nhà. Tình trạng giam hãm của anh như vậy đưa đến kết quả rất nỗi nguy hiểm trong giai đoạn này là chị vợ anh liên tiếp mang bầu. Đẻ xong chưa được mấy tháng, đã mang bầu lại. Cứ thế lặp đi lặp lại như một điệp khúc tình ca vào loại giật gân nhưng không kém phần ai oán.


Ở Sài Gòn này mang một cái bầu ra giành sự sống thật là khó khăn, bởi vì cuộc sống chụp giựt đòi hỏi càng nhẹ càng tốt, càng lanh càng hay, không thể lấy sự bầu ruột làm một giá trị như là ngày xưa để tự sắp xếp vào một vị trí khả kính sau sự có râu(1). Do đó, mỗi lần chị Bông đẻ con là mỗi lần chị có dịp chửi rủa chồng mình nát mồ nát mả. Thằng chồng khốn nạn, thằng chồng trời đánh, thằng quỷ, thằng chó, một hai đẩy ra nó cứ ủi vào, bà mà phen này có xáp lại gần thì bà bửa sọ mày ra… Đại khái, trong nhà bảo sanh người ta vẫn thường phát biểu bằng loại văn chương hùng hồn như thế.


Nhưng trong cái nhà bé nhỏ, chật chội, chỉ kê được một giường hẹp cho hai vợ chồng thì muốn hay không họ cũng phải gần gũi nhau hàng ngày. Thế là những cái đáng lẽ không đến lại cứ xảy ra. Trong những đợt đầu, nghe tiếng chửi rủa, anh chồng có vẻ lo âu, khổ sở, nhưng về sau này anh cười hì hì một cách thông cảm. Trong đạo vợ chồng, theo anh, vẫn có những cơn chửi rủa cần thiết, bởi lẽ cuộc sống lứa đôi vốn có lắm nỗi bất bình, nhiều ngày dồn chứa nếu không thỉnh thoảng mở xú bắp cho xả ra thì dễ tích tụ nhiều biến chứng hiểm nghèo. Chửi xong, tình nghĩa lại càng đằm thắm, cũng như một cái máy xe thỉnh thoảng được súc dầu cặn và được cạo lò, chạy càng êm hơn, có trớn nhiều hơn.


Anh Đương, chồng của cô Bông, sau khi chuyển sang nghề bếp lại chuyển sang nghề vú em. Nấu nướng, giữ con, anh lại rất giỏi và nhận thấy rằng đàn bà thường quá tự hào về những công việc mà nếu để cho ông thay thế thì sẽ kết quả hơn nhiều. Cố nhiên, là đừng kể tới chửa đẻ.


Lâu ngày thành một thói quen ăn sâu đến nỗi anh Đương chỉ thích nấu ăn và giữ con thôi. Anh cũng trở thành mềm mỏng, cũng thành chi ly vụn vặt như là vợ anh ngày xưa. Cứ lo tính toán tiền chợ, băn khoăn về khoảng tương ớt, xì dầu, hồ tiêu, bột ngọt, lâu ngày trí não cũng nát như cơm tấm, và quanh quẩn mãi trong mấy thước bếp chật chội, tâm hồn cũng ứ đọng lại như nước ao tù. Nhưng nước ao tù thường sinh ra muỗi, muỗi thì hay chích và kêu vo vo. Anh chỉ giống muỗi một phần, vì anh không kêu gì hết.


Bây giờ chị Bông cũng đã đổi khác. Chị giao thiệp rộng, toàn quyền giao thiệp với bất cứ ai mà không bị chồng kiểm soát, bởi không có gì hạn chế uy quyền một người đàn ông hơn là khi anh phải sống nhờ vợ. Người ta cho rằng anh Đương cũng bé nhỏ lại mỗi ngày một ít, trong lúc chị Bông mỗi ngày mỗi to mập ra. Cử chỉ anh Đương hóa thành uyển chuyền, dịu dàng, còn chi Bông lại thô bạo, cứng ngắc. Rồi anh để tóc dài phủ xuống gáy, trong lúc vợ anh cắt ngắn gần như húi cụt. Đã vậy, chị mặc áo mông-tê-gu, quần tây, lại càng có vẻ đàn ông một cách hăm hở. Giao thiệp với bà con trong xóm, chị Bông cười nói nghiên ngửa, hả họng thật to, và hươi cái tay, cái chân để giúp diễn đạt ý mình. Anh Đương, trái lại, mắt anh nhìn xuống chớp chớp nhẹ nhàng khi cần phải trả lời ai, và anh cố gắng trả lời người ta cho vừa đủ nghe, khỏi dư khỏi thiếu. Nếu cần, thì anh nói nhỏ hơn mức bình thường chút đỉnh. Đàn bà nên biết giữ thiếu nhiều hơn là cho thừa.


Một khi quyền lợi đổi thay, bản chất cũng lại thay đổi làm cho tương quan giữa vợ chồng họ đổi thay theo. Người vợ tự cho mình có công nuôi gia đình, tự thấy mình quan trọng hơn và không có mình thì “thằng chả” phải chết đói. Càng về sau này chị Bông lại càng ý thức nhiều hơn về cái vị trí lớn lao của mình đối với chồng con. Bởi lẽ đồng tiền chuộc cái mạng sống cho anh lại cũng là tiền mồ hôi nước miếng của chị. Cứ thế, địa vị anh Đương càng ngày càng bé nhỏ lại một cách thảm hại. Giống như tất cả các bà vợ phải lệ thuộc chồng, anh không còn dám phát biểu ý kiến độc đáo nào nữa, về bất cứ vấn đề nào, và trước kẻ khác anh cũng dần dần tập cái thói quen yên lặng một cách tội nghiệp.


Khi đẻ đứa con thứ năm, người chồng đáng thương hại ấy đã quen cuộc sống thấp thởi, hèn mọn, như một con dán trong nhà. Và đến một lúc, chị Bông coi như mình chưa có chồng. Ban đầu người trong xóm cũng thương tâm khi thấy mỗi đêm về khuya, anh Đương ra đứng đầu ngõ chờ vợ đi làm về trễ và chị thường về trên chiếc hông đa của một gã đàn ông khác.


- Em đi về với ai thế?


Chị sừng sộ nói:


- Hỏi để làm gì?


- Để biết…


- Biết để mà làm gì? Dẹp đi, ở đó mà nhiều chuyện lắm. Người ta chịu khổ, chịu sở, lo làm cho có miếng ăn còn muốn thứ gì nữa chứ? Nói cho mà biết, đừng có giở cái giọng ghen mà xấu với tôi đó nghe.


Người chồng làm thinh không dám nói một lời nào. Sau đó, mỗi tối anh bồng con nhỏ mới đẻ vài tháng thẫn thờ đầu ngõ đón vợ vốn thường khuya lơ khuya lắc mới về. Khi thấy bóng vợ thâp thoáng đằng xa nơi yên xe sau của một chiếc xe hông đa, anh vội thụt vào trong ngõ, và lúc đến kịp bên anh, chị gắt:


- Trời ơi! Đêm hôm khuya khoắt mà bồng nó ra phơi sương thì bỏ bố tôi.


Anh lại ôm sát đứa bé vào lòng, ngoan ngoãn theo chị về nhà. Trong lúc chị cởi tung cả quần áo, xối nước tắm rửa rồn rột thì anh soạn mâm cơm, giới thiệu các món xào nấu:


- Hôm nay cá rẻ, em à. Mua được mấy miếng cá chép kho tương đấy nhá. Món này hẳn là em ăn vừa miệng. Còn đây là thịt nai xào cà chua. Ngộ quá, thỉnh thoảng lại có một con nai lớn mang xuống trong chợ, không biết nai đâu mà nhiều lắm thế. Thịt ngọt mà rẻ hơn thịt bò nhiều. Còn món canh chua nấu me đó em…


Khi người vợ cầm đũa xơi ít miếng anh mới ngồi vào xới cơm và bắt đầu ăn. Cách ăn của anh cũng khá nhỏ nhẹ, hiền lành. Anh luôn nhường đũa cho vợ và tự coi như bất nhã khi gắp một miếng khá lớn hoặc gắp quá vội.


Cuối cùng người vợ buông đũa, đứng dây lại giường nằm ngửa ra để xỉa răng thì anh ăn nốt những gì còn lại với một dáng điệu gấp rút hơn trước, rồi rót một ly trà nóng đem lại bên chị đặt lên một cái ghế đẩu gần giường. Đoạn, công việc của anh là lau bàn ghế và rửa chén bát.


Đứa con thứ sáu được chị Bông đẻ trong sự im lặng dù rằng chuyến sinh nở này cũng rất khó khăn. Người chồng không bị réo chửi, nhưng đó chính là nỗi khổ tâm lớn cho anh. Ngày xưa, nghe chị chửi rủa thì anh có thể nhăn răng ra cười hì hì. Ngày nay chị không nói một lời nào xúc phạm, thì anh lại ngồi ở một góc tối mà chảy nước mắt. Bởi những gì anh chờ đợi như một chứng cớ hiển nhiên đã được xuất trình đầy đủ và quá rõ ràng.


Thằng bé vừa mới chào đời không giống anh một chút nào. Nó chẳng giống một ai hết thì cũng không sao. Người ta có thể đãng trí trong lúc thụ thai, và không nghĩ đến ai khác nên đứa bé con không chép đúng mặt mũi người nào. Nhưng khốn khổ thay, nó lại giống y hệt như đúc cái gã hàng đêm chở chị về khuya, với đôi mắt lộ và khuôn mặt gãy. Dù người kém óc quan sát đến đâu, nhìn đứa bé cũng biết ngay nó được xuất xứ từ nguồn gốc nào, nó là cái bản sao trung thực của cái nguyên bản từ đâu. Có thương yêu nhiều mới giống đủ đầy như thế. Đó cũng là lời chửi rủa hết sức hỗn xược hơn là bất cứ lời chửi rủa nào mà chị đã sản xuất được từ trước đến giờ. Bởi vậy, chị đâu cần phải mở miệng cằn nhằn anh nữa?


Anh Đương ngồi yên mà khóc rất lâu rồi chùi nước mắt nhìn vào cửa kính trước mặt. Nước mắt đàn bà có thể là bản hiệu triệu, kêu gọi sức mạnh tập họp, nhưng thường nước mắt đàn ông lại có dấu hiệu của một sụp đổ thảm thương. Nhất là khi đàn ông ấy khóc ở trong góc một nhà bảo sanh hạng thường. Anh rút mùi xoa chùi mạnh lên mắt lần nữa, và liếc nhìn trong tấm kính. Kể ra anh cũng đẹp trai đấy chứ? Nhất định đẹp hơn thằng kia gấp cả trăm lần. Nhưng biết như vậy, nào có ích gì? Rõ ràng đàn bà không phải thích sự đẹp trai như thiên hạ vẫn lầm tưởng.


Nhẫn nhục quen rồi, anh Đương chấp nhận sự thực một cách yên lặng. Và đã yên lặng dễ dàng trước một sự việc như vậy, người ta có thể yên lặng trước nhiều việc khác tiếp theo.


Một buổi sáng kia người chồng cô Bông có dịp ra ngoài đầu ngõ, thấy chiếc xe hơi vụt qua, trên đó vợ mình đang cười ngả ngớn với một anh chàng to lớn như được nứt sinh từ cái lỗ nào đó ở Phi Luật Tân.


Anh đã trố mắt, ngạc nhiên, dù đó chỉ là sự kiện chẳng mới mẻ gì. Từ lâu, anh đoán vợ anh làm cái việc kiếm tiền chẳng mấy tốt đẹp. Và với quân đội Huê Kỳ ồ ạt kéo sang, giữa cái tình trạng vật giá leo thang theo đà gia tốc, nhiều người đàn bà coi nhẹ liêm sỉ đã làm cái việc trục lợi bằng cái vốn riêng của da thịt mình. Nhưng thà là nó khuất mắt. Theo anh, khuất mắt là được tất cả. Các tiệm ăn kia nấu nướng dơ dáy là biết chừng nào, các ngài có biết cho chăng? Khi các ngài đến tiệm ăn, các ngài chỉ ngồi ở các phòng trên có mùi dầu thơm và những tiện nghi sáng loáng, chứ các ngài đâu tận mắt nhìn thấy những gì xảy ra sau bếp được đâu? Các ngài có biết rau sống các ngài đang ăn được rửa ở chỗ nào không? Ở trong một cái chậu giặt của bà chủ đấy. Lúc vội vàng quá, không ai được quyền bắt khách đợi chờ. Cầu tiêu bị dồn ứ lại nghẹt kín, người ta đại tiện bừa bãi lên trên và đám ruồi nhặng bay đến đông thôi vô số. Tất cả nằm ngay chỗ bếp, và ở đầu cống sau hè có mấy con chuộc chết phơi đỏ lói bên một rổ thịt vừa thái vội vàng. Mọi sự có thể trộn lẫn vào nhau một cách cố ý hay là vô tình. Các vị khách vẫn có thể nhào nuốt một cách ngon lành. Nhưng không riêng gì ăn uống mà chuyện ân tình cũng vậy. Anh chồng bảo vợ là đi tới sở, nhưng anh ấy ghé vào đâu, ăn nằm với ai, làm những việc gì, trời cũng chào thua. Phần người đàn bà cũng thế, anh chồng chẳng biết cóc gì. Loài người vẫn cứ tưởng lầm là họ biết hết mọi sự, thật ra họ có thể biết nhiều điều, trừ những điều họ không biết. Nhưng mọi người đã vui sống, đã hạnh phúc, đã nâng ly lên và chúc tụng nhau bằng những lời đẹp đẽ. Miễn khuất mắt là xong tất, đó là bí quyết để sống của nhiều người trong chúng ta. Chỉ có những kẻ không có phương tiện che dấu mới đáng thương thôi. Người ta nghĩ đến những vụ xúc phạm thuần phong mỹ tục của các anh xích lô đạp bị bắt quả tang giữa đường và các vụ tình tay ba, tay tư triền miên xảy ra êm thấm trong những biệt thự có vòng rào sắt vây quanh và bảng “chó dữ” trang trí ở nơi cổng chính.


Trong nỗi đau khổ như vậy, anh Đương bất đắt dĩ thành triết gia, một loại triết gia bi đát của thời đại này.


Rõ ràng hằng ngày vợ của anh Đương đã có đồng tiền rộng rãi như vậy là đã có những tiếp xúc dơ bẩn ngoài sự kiểm soát của anh. Nhưng nếu chị che đậy hộ cho anh, có phải dễ chịu chừng nào! Đằng này, chị cho ra đời đứa bé thứ sáu với một bản mặt gãy gập của cái thằng bố là đã khinh anh thái quá. Giá cứ dùng những viên thuốc ngừa thai, rồi cười tỉnh bơ, coi có ngộ không? Và giá chỉ cười ngả ngớn trên xe của một người khác. Dù đó là Phi Luật Tân hay là Đại Hàn hay là con cháu Lông Nôn chăng nữa, mà lựa một con đường khác để đi, chứ đừng biểu diễn chấp chới trước ngõ nhà chị thì êm đẹp biết chừng nào.


Chiếc xe đã vút qua rồi nhưng bụi bặm ở trên đường bay vãi vào mặt anh Đương từng đám nặng nề như những cái tát kỳ lạ, cái tác nhẹ nhàng mà chụp kín hết người anh. Chưa kịp đợi lành vết thương do cái thằng con thứ sáu ra đời gây nên, anh bị một vết thương khác chồng lên, và vết thương này lạ thay đã xóa lành vết thương kia. Thì ra thằng cỡi hông đa chở chị trong đêm cũng chưa phải chiếm thượng phong nơi người vợ anh và điều đó lại an ủi anh nhiều. Vô tình gã Phi Luật Tân nào đó đã báo thù hộ anh rồi, và anh vững tin sẽ có một tên Đại Hàn, hay một tên Mỹ nào đó sẽ lại báo thù giúp anh đối với tên Phi. Anh Đương cứ việc im lặng đợi chờ, khỏi cần ra tay, sẽ có liên tiếp kẻ này xuất hiện đánh bại kẻ khác, anh khỏi làm một đối thủ cho thêm khổ sở. Trên chiến trường đó, anh được là một khán giả từ đây. Một loại khán giả yên lặng, vì từ đau khổ quá mức, đã thành thản nhiên, nghĩa là đắc đạo. Mới biết con người luyện cho thành đá mới thực gian nan. Và quỉ Sa Tăng rất là cần thiết cho sự tu trì chống thành viên mãn. Từ đó, anh cảm thấy rõ hơn bao giờ hết rằng cái tiếng “chồng” là tiếng vô nghĩa lạ lùng. Đôi khi nằm trên sàn nhà lau sạch, anh lẩm bẩm lặp tiếng “chồng”. Chồng là cái gì? Nghe vang lên một âm thanh quái gở, xa lạ, như là một thứ thổ ngữ mà anh không sao hiểu nổi ý nghĩa cho được tinh tường.


Rồi một buổi sáng, chị Bông chạy về hốt hoảng gọi anh:


- Này, cưng ơi, lên đây em bảo cái này.


Sao giọng cô ả hôm nay ngọt xớt như đường phèn vậy? Người chồng đâm ra cảnh giác, không dám tỏ bày một sự lộ liễu một sự hưởng ứng nhiệt nồng. Chị vợ vẫy tay:


- Lại đây, em nói cho nghe.


Anh lại tiến đến, ngập ngừng chờ đợi. Chị tiếp:


- Này, chẳng là có một thằng cha giàu lắm, gặp em dưới Tax, hỏi em đã có chồng chưa. Em mới đáp lại là chồng… này, đừng buồn nghe cưng, là chồng em đã chết rồi.


Chị Bông ngừng lại, bẹo vào má anh một cái:


- Thì em nói đại, vậy mà. Nhưng lão một hai đòi đến thăm nhà, hôm nay lão lên thăm đấy.


Anh Đương nhìn vợ ngơ ngác, tự hỏi vợ anh định giở trò gì.


- Sao mà vẻ mặt anh trông lạ thế?


- Thế cô muốn gì?


- Muốn lúc chín giờ anh qua bên ông Sáu Lửa nằm chờ một lát. Độ mười một giờ sẽ về. Mà thôi, để lúc nào em qua kêu hẵng về tốt hơn. Lỡ nó đến trễ hay nó thích ngồi nói chuyện con dê, con ngỗng, biết đâu.


Chị thấy vẻ mặt của anh vẫn cứ bất động lầm lì, chị bèn giải thích:


- Mấy thằng giàu nó ngu lắm. Tội gì mà không khoét túi nó lấy tiền xài! Nó hẹn mười giờ nhưng sợ nó đến sớm hơn để bắt chợp mình, nên khoảng chín giờ anh liệu dẫn mấy đứa con qua bên hàng xóm chơi đi. Ở nhà chỉ để thằng nhỏ với em mà thôi. Em làm một người đàn bà đau khổ, góa bụa, ở vậy thờ chồng, nuôi con giữa lúc tuổi xuân, trong cảnh nghèo nàn. Nó tán tỉnh mấy em cũng không nghe, em cứ thở dài, bảo nó: “Tội nghiệp em lắm, anh ơi, anh đừng làm em xiêu lòng mà lỗi đạo với chồng em yên nghỉ ở dưới suối vàng”. Phần anh, thì anh cứ việc yên nghỉ bên ông Sáu Lửa, chờ em gọi nhá.


Thấy chồng không nói năng gì, chị bèn cho lộ bí mật cuối cùng, nhưng lộ phân nửa:


- Nó dám nhả ra cho mình nửa triệu là ít. Bảo là giúp vốn cho em buôn bán.


Lần này chồng chị vẫn cứ khoặm mặt, không chịu nói một tiếng nào. Trông cái bộ mặt thiệt là hãm tài quá xá. Chị gằn giọng hỏi:


- Sao đó? Sao không ừ hử gì cả?


- Ừ hử cái gì?


- Chà! Lại chất vấn tôi nữa chứ. Người ta đã biết điều lắm, gọi lại bàn bạc, vậy mà cứ làm cái bộ ta đây không nói không rằng gì hết. Con chó nó còn biết sủa, nữa là con người.


- Thì cô làm gì cô cứ việc làm.


Chị Bông thét lên:


- Làm gì? Làm đĩ chứ làm gì nữa? Làm đĩ để mà nuôi mày và nuôi lũ con của mày. Mày tưởng tao sung sướng lắm hở! Tao khổ sở hơn con chó là khác. Tao ngoắc đuôi với thằng này, tao cọ mõm với thằng kia, đứa thì tao sủa, đứa thì tao gặm, cả ngày tao phải lang thang đây đó chứ đâu có khỏe như mày, hở đồ khốn nạn mặt dày? Mày thì nằm ườn ra đấy, cơm ngày hai bữa no nê, đâu có bữa nào bắt mày nhịn đói? Giặt ít cái đồ, rửa ba cái chén, chứ làm cái gì vất vả cho cam? Thế mà bảo mày qua bên hàng xóm nằm chơi ít tiếng đồng hồ, mày lại không thèm ư hử một tiếng. Mày tưởng tao rước người ta về nhà là để phục vụ cho tao đó hử? Cũng mồi, cũng chài năm phen bảy lượt mới dẫn dụ nó tới đây, chứ phải dễ đâu! Mà trong lúc tao ở nhà làm đủ tuồng trò để moi cho ra đống tiền mày tiêu, thì mày chỉ có qua nhà thiên hạ nằm khềnh ra ngủ. Mẹ kiếp, thế mà mày còn làm bộ khinh khỉnh với tao nữa chứ. Thiệt là đồ ngu, thấy người ta xuống nước nhỏ lại tưởng người ta khiếp sợ chỉ toan lên mặt làm bố ông trời. Này, tao hỏi thiệt, mày có đi không? Hở? Hở?


Chị xỉa xói đứng lên, sấn tới. Anh Đương thụt lùi, da mặt từ đỏ như gấc lúc đầu đã thành xanh mét.


- Thì đi.


- À. Nói nhẹ không ưng lại ưng nói nặng. Đồ con lừa!


Thế là anh chồng theo đúng lời vợ qua nằm bên nhà của ông Sáu Lửa để mặc vợ mình tiếp lão chủ tiệm giàu có, vừa đóng vai người đàn bà đau khổ đang chống chỏi lại một cách đau đớn trước sự hấp dẫn lạ lùng của một ông già đa tình. Cố nhiên là vợ anh Đương phải làm một kẻ chiến bại, sau những giằng co tuyệt vọng giữa ái tình và bổn phận. Ái tình thiêng liêng và mảnh liệt quá nên đã chiến thắng bổn phận một cách rực rỡ.


Tất cả những khó khăn ở đây là phải làm sao cân lường cho mọi sự việc xảy ra theo những ni tấc cần thiết để bắt lão già chờ đợi đúng mức mà lão có thể đợi chờ, đặng lão chụi xù tối đa đồng tiền chụp giựt của lão trong cái thời buổi loạn ly. Lão già phải được chị Bông biến thành một người tình nhân bản lãnh, và sự việc lão chinh phục được chị coi vẻ vang hơn người ta cắm cờ trên ngọn Hy Mã Lạp Sơn.


Khi lão hoan hỉ ra về, sau sự hứa hẹn chu tất cho chị mọi bề, kể từ cửa tiệm chị buôn cho đến đồ lót chị dùng, thì chị mới qua gọi cái thằng chồng khốn nạn. Nhưng bước vào nhà ông Sáu, chị thấy chồng chị đã nốc rượu đế say mèm và nằm ngay đơ ngáy như kéo gỗ.


- Sướng thiệt!


Chị nói một cách ngao ngán, không biết ngao ngán cho mình hay cho thằng chồng. Nhưng thời gian sau, chị Bông đã tiêu hết tiền của lão già rồi, thì đến bị bắt vì tội buôn lậu bạch phiến. Chị nhắn chồng chị vào bót, và trao địa chỉ, bảo phải cấp tốc đến tìm cả hai lão già một lượt. Bây giờ anh Đương ngã ngửa người ra. Tưởng phải đương đầu với một lão già, nào ngờ lại phải đối phó với cả hai lão một lúc. Anh quên rằng sự hồi xuân ở đất Sài Gòn đã được xuất hiện như một bệnh dịch, và các dược liệu dồi dào càng ngày càng có khả năng kích thích cho bệnh phát triển mỗi ngày một mạnh mẽ hơn. Chưa có bao giờ các loại thuốc men, thực phẩm lại được khai thác một cách sốt sắng tận tình trên cái ý hướng bổ thận tráng dương như thế. Nói về các món sâm nhung thì lạc hậu rồi. Có trăm món ăn kỳ dị, có ngàn thức uống quái đản, và vô số kể các loại sinh tố pha chế, bày đặt, cùng các môn thuốc gia truyền kỳ bí đã được lôi ra từ các sách vở và các bộ óc giàu tưởng tượng của đủ loại hạng lang băm, để mong cải lão hoàn đồng. Ngay trên Chợ Lớn, ở một đại lộ mang tên của bậc đạo đức khả kính là ông Khổng Tử, vậy mà lại có một tiệm chuyên bán một thứ rựơu ngâm với bộ phận của loài cẩu đực. Cứ theo như lời quảng cáo thì các dược phẩm của các danh y thời này được tung ra trên thị trường có thể giúp cho các bậc già lão hom hem trở nên cường tráng gấp ba bốn lần thanh niên vào cỡ sức khoẻ trung bình. Còn việc các loại thuốc ấy đồng thời có giúp các bậc trưởng thượng quá yêu đời kia được chạy mau hơn trong chuyến về chầu tiên tổ hay không, thì chẳng thấy nghe nói tới. Nhưng việc sống chết là do số mệnh cả mà!


Chị vợ anh Đương trong chuyện làm ăn đã tìm đúng được thị trường tiêu thụ món hàng màu mỡ của mình, bởi vì tuổi chị thích hợp đặc biệt cho các nhu cầu loại đó: không còn khờ khạo trong tuổi thơ ngây, cũng chưa đến nỗi cằn cỗi, khô khan ở tuổi xế chiều. Nhưng những đồng tiền thu hoạch theo ngả lối ấy dễ tạo điều kiện cho người dấn thân vào những cuộc phiêu lưu khác. Chị Bông đã đem nướng vào sòng bài với các bồ trẻ của chị, những kẻ đã dùng tuổi trẻ để khai thác chị như chị đã lợi dụng lớp già lão. Đó cũng là một loại vòng luẩn quẩn, trong cái hệ thống của muôn ngàn vòng luẩn quẩn làm nên xã hội chúng ta.


Bây giờ chồng chị bắt buộc phải phản ứng như một đồng lõa của chị, bởi không còn cách nào khác nữa. Anh phải tự nhận là anh ruột chị, đến nhờ các gã tình nhân của vợ xù tiền ra để cứu vớt. Có dịp được tốt bày tỏ lòng hào hiệp với đàn bà, hy vọng bắt họ cam kết một niềm thuỷ chung bền chặt, các cụ bô lão bỏ tiền ra thật mau chóng. Đồng tiền đã đem năng lực cứu rỗi sớm đưa chị Bông về với gia đình.


Khi chị hớn hở bước vào trong nhà, anh đã tiếp chị hoàn toàn như tiếp một gã đàn ông nào đó chưa quen thân lắm. Chút xíu ảo tưởng tình cảm còn lại đâu đó bây giờ cũng đã tan rồi. Chuyến ở tù này đã gạn lọc sạch những gì gọi là tình nghĩa cuối cùng nơi họ, và một lần nữa, người ta được thấy bất trắc cũng có cái mặt hữu ích lớn lao là làm sáng thêm lòng dạ con người. Từ cái địa vị người chồng, anh Đương chính thức thành một người ở với cái đặc điểm là có được con với bà chủ nhà, khi nào hai bên hay chỉ một bên nhà chủ xét thấy cần thiết.


Đó cũng là đặc điểm lớn của thời đại này: không có cái gì chính thức là cái gì hết. Tất cả đều được pha phách, sao chế, nhập nhằng hỗn độn, với một nhãn hiệu nào đó bên ngoài.


VH.


Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info







(1) Tục ngữ: “Nhất có râu, nhì bầu ruột”.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Talico - DUMBADZE, Nodar Vladimirovich 19.09.2018
Vách đá cheo leo - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2018
Tiếng đàn thầm - Nguyễn Mộng Giác 20.08.2018
Nước cạn, hoa lau - Nguyễn Mộng Giác 17.08.2018
Mẹ và con - Nguyễn Mộng Giác 17.08.2018
Gió hú - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2018
Ngựa đá sang sông - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2018
Tên đào ngũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2018
Cho tay này, lấy tay kia - Bình Nguyên Lộc 30.07.2018
Pì Pế Hán - Bình Nguyên Lộc 30.07.2018
xem thêm »