tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28888039
08.02.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (41)

Là đơn vị ngoại hôn, dòng họ thiết lập một quan hệ hai chiều với một dòng họ khác, hình thành một liên minh hôn nhân boh lih trong (đổi quả cà) như người Gia Rai vẫn gọi. Liên minh hôn nhân có trách nhiệm lâu dài. Lấy hai dòng họ Ksor và Nay ở buôn Bir và buôn Hiao xã Ia Rbol, huyện Ayun Pa, tỉnh Gia Lai làm thí dụ.


Chú thích: Ở đây, có một số họ R’ô, Kpạ, Rchom đến làm rể hai họ Nay và Ksơr. Dó thiết chế mẫu hệ, nên rể không được tính.


Theo sơ đồ trên ta thấy con dì con già, con chú con bác không được kết hôn, vì cùng sinh ra từ một bà tổ (djuai sa ami) đến đời cháu chắt... đều không được lấy nhau. Vì thế ego gọi không chỉ gọi cha đẻ là ama (cha) mà gọi các anh xa gần của cha cũng là ama prong (cha lớn) và các em xa gần của cha là ama mneh (cha nhỏ), gọi con là anak và tất cả các con của các anh em trai đều là anak. Về phía mẹ, ego gọi mẹ là ami (mẹ) và các chị mẹ kể cả bàng hệ và trực hệ là ami prong (mẹ lớn) và các em mẹ là ami mneh (mẹ nhỏ), gọi con gái là anak và các con của chị em gái xa gần của mẹ cũng là anak.


Nguyên tắc lấy đổi trong liên minh hôn nhân được duy trì chặt chẽ. Tập quán pháp Ê Đê viết: "Bên đông có rế nồi, bên tây có vỏ dao. Mlô lớn phải nuôi Niê; Niê lớn phải nuôi Mlô, hai họ cùng lấy nhau và nuôi nhau để khỏi xích mích với nhau". Quy tắc hôn nhân phản ánh trong cách xưng hô khi gọi bố, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ bằng một thuật ngữ kmhà, nhưng đối với bố vợ, bố chồng còn có thể gọi là awa, amiêt (cậu), ngược lại bố chồng, bố vợ gọi rể là mtao hay có thể gọi là amuôn (cháu). Đây chính hai hình thức hôn nhân con cô con cậu phổ biến và được ưa thích của chế độ mẫu hệ. ? đây đàn ông đều có quan hệ cậu cháu với cháu (awa - amiêt - amuôn); đồng thời có quan hệ bố vợ và con rể (kmha - mtao).


Trong thực tế, với sự phát triển hiện nay, ngoại trừ người Ê Đê còn thấy nguyên tắc hôn nhân ngoại hôn vững chắc, còn người Gia Rai, Ra Glai, Chu Ru quan hệ hôn nhân lưỡng hợp đã mờ nhạt và được thay thế bằng hôn nhân tam hợp hay hôn nhân thuận chiều sẽ trình bày sau.


Chú ý, ở người Ê Đê gần đây còn duy trì tục nối nòi (chuê nuê). Tập quán pháp Ê Đê có ghi "Rằm nhà gẫy thì phải thay, giát sàn nát thì phải thế. Chết người này thì phải nối bằng người khác", "Tục lệ đặt ra là cây quá giang nằm trên, cây xà dọc nằm dưới, là đi từ tây sang đông, là người (chết) phải được nối, người nòi phải được cho. Từ những đời ông bà xưa, tục lệ là như vậy". Tục lệ này là sự tồn tại của hệ thống 4 hôn đẳng của thổ dân châu úc, còn tồn tại cách đây chưa lâu ở người Ê Đê, M’nông, và các tộc người Gia Rai... buộc dòng họ người chết phải đưa ra một người thay thế cho cuộc hôn nhân vẫn được tiếp tục. Có thể có năm trường hợp thay thế. 1- Chị chết em thay tức em thay chị chứ không được chị thay em (sororat). 2- Anh chết em thay tức em thay anh, chứ không được anh thay em (levirat). Trong trường hợp sororat và lévirat đã có hạn chế theo trưởng thứ. 3- Cậu chết cháu thay. Vì cậu và cháu cùng nằm trong một hôn đẳng nên cháu có thể thay cậu lấy vợ cậu khi cậu chết. Hiện tượng này còn thấy phổ biến trong dân và được phản ánh trong trường ca Đam San. Khi Đam San chết, cháu gọi Đam San bằng cậu (amiet) cũng tên là Đam San thay cậu lấy Hơ Nhí và Hơ Bhi là vợ của Đam San cậu. 4- Ông chết cháu thay; 5- Bà chết cháu thay. Hai trường hợp sau được Phan Hữu Dật giải thích đó là chế độ hôn đẳng thấy ở châu Úc xác định chế độ ngoại hôn của các thị tộc và bào tộc, làm chức năng điều hoà các mối quan hệ trong hôn nhân. Đó là sự kết hợp độc đáo giữa hai yếu tố: a- Sự trực thuộc vào bào tộc. b- Việc tính theo thế hệ. ở Úc có chế độ 4 hoặc 8, thậm chí 16, 32, hôn đẳng. ? đây, chế độ 4 hôn đẳng được tính theo sơ đồ sau: Bộ lạc (mẫu hệ) chia làm hai bào tộc I và II, mỗi bào tộc có hai hôn đẳng A, B và C, Đ. Đàn ông hôn đẳng A chỉ có thể lấy vợ ở hôn đẳng C, con của họ thuộc hôn đẳng D, đàn ông ở hôn đẳng B chỉ có thể lấy vợ ở hôn đẳng D, con của họ thuộc hôn đẳng C.


Vậy những người thuộc thế hệ xen kẽ nhau một thế hệ đều thuộc một hôn đẳng. Trong trường hợp tính huyết tộc theo dòng mẹ, thì bà và cháu gái hay ông và cháu trai đều cùng thuộc một hôn đẳng. Như vậy, ông chết hay bà chết, thì cháu thay. Cháu ở đây có thể là cháu trực hệ hay bàng hệ bậc II, bậc III. Ta lại thấy trong Trường ca Đam San, trường hợp này Đam San cháu lấy bà tức lấy vợ của Đam San ông nên không phải ngẫu nhiên mà trong cách xưng hô cháu gọi bà là amai (chị), bà gọi cháu là em gái (adei mnei), ông và cháu rể là anh em đồng hao (rach tô).


Tục nối nòi bắt nguồn từ sự thừa kế tài sản và cả chức vụ xã hội nếu có. ở đây vai trò ông cậu (avunculat) được tôn trọng. Người đàn ông có quyền với tài sản của gia đình mình, có trách nhiệm với các thành viên trong dòng họ. Họ quan tâm giúp đỡ chị em ruột và họ, các cháu trong sản xuất, trong đời sống xã hội. Đăm đei (Ê Đê) ông cậu có ảnh hưởng đến nhóm con gái trong họ (nagoh) chi phối trong việc gả chồng cho con gái, gả vợ cho con trai. Chính họ là người đại diện nhà gái khi ăn hỏi, tổ chức lễ cưới, lo toan mọi việc trong các lễ cúng khi làm nhà mới, nhất là việc dựng cột chính, lợp nóc... tổ chức tang ma và có vai trò quyết định trong việc kiện cáo bảo vệ dòng họ. Họ là cột trụ của gia đình, gánh vác mọi trách nhiệm đối với nửa con gái, đại diện cho dòng họ - (nagoh). Đăm đei chi phối mọi họat động của chị em gái, nên chị em tin cậy đăm đei, có trách nhiệm giúp đỡ đăm đei. Khi vợ chết, không có người thay thế, người đàn ông trở về tay không với bố mẹ đẻ hay chị em mình. Khi mất, chị em đưa xác về chôn ở bãi tha ma cùng những người đã khuất trong dòng họ, nên chế độ mẫu hệ không ngăn cản người con trai đóng vai trò quan trọng trong dòng họ mình, mặc dù là người đại diện của vợ, dường như không có vai trò gì đối với quyền thừa kế tài sản bên nhà vợ. Họ vẫn tuân thủ sự phân công theo giới, có địa vị đáng kể ngoài xã hội, tuy rằng với danh nghĩa đại diện cho nhà vợ. Thực tế hiện nay vẫn chứng tỏ điều đó. Lớp cán bộ theo kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai hầu hết là cán bộ nam giới như cụ Nay Der, ông Y Ngông Niê Kdăm, cụ Y Blok, ông Y Wang, Y Bih Alêô, Núp, Nay Phin... Số theo kẻ địch cũng tất cả là nam giới như Paul Nưr, Y. Bham, Ksơr Cơt, Nay Luet, Tonneh Han Tho. Trong 100 nhân vật nổi tiếng người Tây Nguyên do G.C. Hickey chọn kể cả những người theo Mỹ lẫn theo kháng chiến, tất cả đều là nam giới. Sau này, mới có chị em người Thượng tham gia kháng chiến và xây dựng đất nước như chị Y Một, ủy viên Trung ương Đảng, chị H’ Reo, chị Y Veng... và các cán bộ khoa học như hai chị Linh Nga, Thu Nhung... nhưng cũng ở địa vị thấp kém và ít hơn nam giới.


ở người Ba Na, Xơ Đăng, quan hệ ba họ cũng không rõ ràng. Người Ba Na trong cùng một ktum gel (họ hàng gần) không được lấy nhau. Người ta cấm ngặt (hagam tí) anh em con dì, con già, con cô con cậu, con chú con bác không được lấy nhau. Nếu người cùng một ông bà (nhong ó pôm klá) hay (nhong ó txâng dạ bốc) tức là hàng cháu, đã hơi xa, thì có thể lấy nhau, sau làm lễ tạ tội với thần linh. Trong trường hợp này, đôi trai gái mắc tội loạn luân với anh em họ xa hagam lắp (bá). Hai bên thông gia được khuyến khích lấy nhau, nhưng rất kỵ lấy ngược chiều, ví dụ anh đã lấy em làm vợ, thì em chồng không thể lấy chị vợ anh mình được và ngược lại. Trường hợp này phạm luật gọi là pô rui choang bị trừng phạt nặng như tội loạn luân. Từ quan hệ rui ra tức thông gia mật thiết, dẫn đến hình thức hôn nhân sororat và levirat có hạn chế trưởng thứ.


Hai nhà cũng lấy chung một nhà khác được coi như pô băn và chỉ hai nhà đó thôi. ? đây pô băn đã thu hẹp hơn ở vùng Xơ Đăng, làm phá vỡ dây chuyền kết hôn dù ở phía bên trai hay bên gái. Do vậy, nó tạo điều kiện cho thế hệ con cái dễ dàng lấy nhau hơn. Nếu ở vùng Xơ Đăng, con cháu các gia đình thuộc ego I đã thiết lập hôn nhân dây chuyền thời con cháu ở thế hệ -I và thế hệ – II đều không được phép lấy nhau, thì ở vùng Ba Na điều này chỉ thu hẹp lại trong gia đình pô băn thôi. ở người Xơ Đăng việc lấy vợ lấy chồng đối với thế hệ – I thật khó khăn, có nhiều người đến 40 tuổi vẫn không tìm được bạn trăm năm. Người Ca Dong giảm bớt sự khắc nghiệt của lệ tục bằng cách cho phép những người thuộc thế hệ thứ – I dưới ego được phép kết hôn với nhau khi ông hay bà ruột của mình đã khuất núi. Ví dụ: Trai hay gái của dòng họ H ở thế hệ – I dưới ego, khi thế hệ + I dù trực hệ hay bàng hệ của ego đã mất, thì trai gái của hai nửa từ A đến H và từ I đến Z được phép lấy nhau. Như vậy cái chết của ông bà đã làm đứt đoạn dây chuyền từ A đến Z.


Việc đó cũng khó giải quyết được vì khó xảy ra, nên chỉ có một cách là hai làng thù địch tổ chức giả vờ đánh nhau, để rồi một làng thứ 3 đứng ra làm lễ hoà giải (tmát) sau khi một bên giả vờ thua. Kết thúc của việc tổ chức giả đánh nhau là cuộc liên hoan giữa hai làng xưa thù địch, nay trở thành bạn, cho phép con trai và con gái hai làng được tự do kết hôn. Việc giả vờ thua là phải theo đúng lệ tục, có điều đã được già làng thứ 3 ưng thuận, có thể đâm bị thương, không bao giờ làm chết người.


5. Quan hệ ba họ


a) Với dân tộc Thái và các tộc người Môn - Khmer ở Tây Bắc: Quan niệm ba họ chỉ nảy sinh ra rõ rệt như ở xã hội Thái Tây Bắc, ở đây việc lấy đổi giữa hai nhóm hôn nhân hay đó là lúc quan hệ hôn nhân thị tộc lưỡng hợp đã bị phá vỡ, quan hệ liên minh giữa ba thị tộc ra đời. Nguyên tắc hôn nhân là theo chế độ thuận chiều. Người Thái quan niệm một người trong số anh em ruột đã làm rể một nhà nào, thì nhà đó được coi là thuộc họ ngoại (lúng ta) với tất cả thành viên trai trong dòng họ (ải nọong); nên không thể nào con trai của lúng ta lại có thể lấy con gái của ải nọong. Nếu làm như vậy, tục lệ cho rằng đó là tao hua ngò hua khoai tức là khi cưới đã nạp trâu, bò cho bên vợ, chả lẽ bên vợ lại trả lại đầu bò, đầu trâu cho mình. Tục này không những cấm với thế hệ ego mà còn đến hai thế hệ tiếp sau - I và - II và chỉ thu gọn trong một tông tộc mà thôi. Những con gái của dòng họ ải noọng không được lấy thành viên trai của dòng họ đã là lúng ta của các ải noọng cùng họ với mình và khi đi lấy chồng phải đổi họ. Ta có một sơ đồ sau đây:


 Vậy một người Thái có 3 quan hệ dòng họ:


1. ?i nọong bao gồm những thành viên trai của một họ, một gia đình, là gốc của một dòng họ, được xem là thân thiết nhất. Có ải nọong huôm po tức anh em cùng bố: anh em ruột; ải noọng huôm pú, huôm pẩu: anh em cùng một người ông hay người cụ; ải noọng huốm pấn tức người cùng một tông tộc tức cùng ông kỵ


4 đời. Những người cùng một pấn được coi là cùng một vả hay vả chặn, gọi như dưới xuôi là cùng một chi họ, nhưng chỉ bao gồm các thành phần nam. Cũng có khi theo phong tục chi họ được tính đến 7 đời, (vả chết chặn) hay ải noọng huốm lận huốm khân là anh em cùng tổ, cùng tông.


2. Lúng ta bao gồm những thành viên trai của những dòng họ mà ải noọng có quyền thiết lập hôn nhân với một thành viên gái trong họ đó. Cũng có những thứ bậc lúng ta như: Họ hàng của vợ gọi là lúng ta, họ hàng của mẹ gọi là lúng ta mang me; họ hàng của bà, lúng ta mang da; họ hàng của cụ: lúng ta mang di tức là cụ bà bậc tứ đại. Ngoài ra, còn có họ hàng bên vợ của các con: lúng ta mang lụ. Trong trường hợp này, có con lấy nhau, hai gia đình được coi là thông gia.


3. Nhính xao bao gồm những chàng rể của những dòng họ mà thành viên gái (nhính xao) của những ải noọng đi làm dâu. Nên thường đối tượng của các chàng trai trong nhóm lúng ta sẽ là các cô gái của nhóm nhính xao.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc Tố Hữu và Hội nghị Đảng viên 6/1979 - Vương Trí Nhàn 21.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (40) - Nguyễn Văn Khỏa 20.08.2019
Cò bất động sản - Tư liệu sưu tầm 20.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (39) - Nguyễn Văn Khỏa 19.08.2019
Toàn văn thông cáo phán quyết của PCA vụ kiện Philippines-Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 18.08.2019
Giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài theo phụ lục VII - Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 - Tư liệu 18.08.2019
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - Tư liệu 17.08.2019
Lý do tại sao Trung Quốc không thể tấn công Hàng không mẫu hạm của Mỹ - Tư liệu sưu tầm 13.08.2019
Cá tráp biển - Tư liệu sưu tầm 12.08.2019
Văn hóa Ẩm thực: Cá song biển Quảng Ninh & những đặc sản từ biển Quảng Ninh - Tư liệu sưu tầm 12.08.2019
xem thêm »