tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28887565
04.02.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (40)

Còn ở người Việt hay các tộc người Việt - Mường, Tày - Thái là những người cùng mang một tên họ, không chắc gì đã có chứng cứ có chung một nguồn gốc cho dù là rất xa xôi. Sự trùng lặp tên họ có rất nhiều nguyên nhân, biến động rất phức tạp. Sự thay đổi tên họ diễn ra bởi những nguyên nhân chính trị, xã hội phức tạp: vua ban cho lấy họ vua, tránh nạn lớn sợ bị tru di tam tộc, có tội với Nhà nước, kiêng húy nhà vua phải đổi họ, gần đây đi làm cách mạng đổi họ... vì nguyên nhân xã hội – gia đình, vì ái mộ, vì làm con nuôi, vì ở rể đời, con đẻ ra phải theo họ vợ để có người nối dõi, vì bán khoán hoặc cho cửa Phật, cửa Thánh, cho một gia đình phúc hậu tránh đứa bé đau ốm v.v... Trong những trường hợp trên, việc đổi họ có khi là vĩnh viễn, có khi là tạm thời. Họ ở đây không chỉ liên quan đến quan hệ huyết thống, thậm chí cả nguồn gốc. Số lượng từ chỉ họ người Việt chưa thật chính xác vì chưa một tác giả nào nghiên cứu đến nơi trên phạm vi toàn quốc. Rất tiếc, qua ba kỳ Tổng điều tra dân số hay qua việc khai hộ khẩu, cấp chứng minh thư... các ngành khoa học thiếu sự kết hợp, nên cũng chưa khai thác để có được một con số tương đối chính xác. Cuốn sách của Lê Trung Hoa liệt kê một số tên họ, thiếu tính khoa học nên không giúp ích gì hơn. Số lượng họ vì thế có thể lên đến 769, nếu tính cả dòng họ đơn hay kép, trong khi đó có một số họ đông người, nhiều chi, tập trung ở từng khu vực. Suy đến cùng, theo nghĩa này, họ khó có thể coi như một lignage, lignée hay clan, lại càng không phải là famille. ở đây không thấy hay chưa thấy có một sự tương ứng về nghĩa. Người Trung Hoa gọi là tính phi tông (? ? ?).


b) Là những thành viên mang cùng tên họ, được biết chắc chắn là có cùng một nguồn gốc từ một thủy tổ chung, cộng đồng họ có thể tương ứng với một lignée, lignage, nhưng không phải là một clan, càng không phải là famille, như một số tác giả Tây phương thường dịch. Đó là những cộng đồng một số được xác nhận qua truyền thuyết hoang đường về quê tổ hoặc hầu hết được lưu trong các tộc phả, các gia phả, được truyền lại để con cháu biết người sáng lập họ là ai, mộ tổ cụ thể ở đâu, quê quán chỗ nào, ngày giỗ bao giờ, thậm chí trong họ có "hèm" gì, hoặc cũng có thể chỉ truyền lại qua các truyện kể, các truyền thuyết có tính lịch sử. Người Hán gọi là tính tông (??). Những tộc người có cùng tôtem nêu trên, có thể cũng nằm trong số này.


Những họ lớn, có danh giá, xưa đỗ đạt làm quan, có công với nước, làm vẻ vang làng xóm, mới thường ghi lại tộc phả, gia phả, mới giữ lại được các sắc phong v.v... Những họ thường dân thường ít ghi lại. Một thực tế ở nước ta do chế độ thi cử khá dân chủ, ai cũng có quyền đi thi (trừ một vài nghề xuất thân, nhưng cũng không hẳn nghiệt ngã) nên trong làng, ngoài nước, cho dù xưa là hạng bần dân, tổ tiên cũng có người một thời làm nên. Lại thêm, dân ta chuộng nghĩ đến nguồn gốc, nên hay chú ý, do đấy xưa có nhà không có gia phả, không biết gốc tích rõ ràng, nhưng vẫn nhớ dòng họ đã có lúc sáng danh. Nếu có dịp, họ tìm lại những thế hệ tổ tiên, biết được sự nghiệp những người thân thuộc đã quá cố, nhưng đành lặng thinh vì mối quan hệ đẳng cấp khi xưa cũng còn nặng nề. Tuy nhiên, họ vẫn hiểu vì danh dự tổ tiên, họ quyết tâm nối chí, tìm cách làm nên, hay nếu chưa đạt được, thì cũng có lúc ngẫm lại, viếng thăm phần mộ ông cha, để tự an ủi hay cầu xin cho con cháu được thành đạt, cho dù đời mình phải cam chịu tội bất hiếu.


Sau 1975, một phong trào tìm về nguồn qua việc tìm lại tộc phả hay gia phả, do so sánh những tên của những người có công với nước với nhà, nhiều người đã tìm lại và thấy là người cùng một tổ tiên, cùng một quê tổ. Có những cuốn tộc phả, gia phả được in lại, được bổ sung thêm cho đến thế hệ ngày hôm nay. Ví dụ như, việc họ Đặng nguyên gốc là từ họ Trần, đã tập hợp được gần một trăm chi, nay toả ra ở khắp nơi từ Nam chí Bắc, mộ tổ ở Tam Nông (Phú Thọ); họ Trịnh ở làng Cự Đà ngoại thành Hà Nội gần Hà Đông, với ông tổ là Trịnh Khả, danh tướng của Lê Lợi; họ Phan Huy ở Nghệ An v.v...


Họ của người Việt phân thành ngành, dần thành hai họ riêng biệt do khó đoán định nguồn gốc. Ví như họ Đặng có ngành họ Đặng từ họ Trần chuyển sang, trong tộc phả đều có ghi Đặng vi Trần, khác với những họ Đặng khác không rõ hay không từ họ Trần chuyển sang, họ Ngô Thì và Ngô Vi ở Thanh Oai, họ Phan Huy, Phan Trọng ở Quốc Oai (theo Nguyễn Kim Thản).


Đặc điểm của các họ ở Việt Nam là chỉ phân biệt họ lớn, họ bé; hay xưa chỉ phân biệt họ vua, họ dân. Như dòng Nguyễn Gia Long, đàn ông thuộc "đế hệ" tuỳ theo thế hệ dùng một trong những tiếng sau đây, do Minh Mạng ban hành vào năm 1823, đặt làm tiếng thứ nhất:


             Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh


             Bảo Quý Định Long Trương


             Hiền Năng Kham Kế Thuật


             Thế Thuỵ Quốc Gia Khương (Xương!).


Vị vua cuối cùng của triều Nguyễn mới chỉ dừng lại ở chữ Bảo (Bảo Đại). Vậy nên mới có tục lệ ban cho đổi họ dân thành họ vua, đối với những cận thần có công với nước từ đời nhà Lý và ngược lại, đổi họ vua thành họ dân nếu bị trọng tội với triều đình. ở đây cũng lưu ý đến một chi tiết có liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên là phụ nữ sau khi lấy chồng, vẫn giữ họ của mình. Đó là điều khá độc đáo vì ở nhiều nước khác, thường gái đi lấy chồng phải đổi họ theo nhà chồng, cho dù theo tôn giáo nào; mà ít được ghi tên trong tộc phả hay gia phả. Điều này, biểu hiện vai trò của phụ nữ Việt khá cao trong gia đình phụ quyền, không chỉ trong lĩnh vực tôn giáo, mà đó chính lại phản ánh vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội, trong họat động sản xuất (nông, thủ công và nhất là thương nghiệp), khi đất nước thường xuyên lâm trận mạc (đảm bảo hậu phương tiếp tế cho tiền tuyến, khi cần kề vai sát cánh cùng nam giới đánh giặc). Vất vả nhất là phụ nữ phải gánh vác việc gia đình, phát triển nòi giống, bảo vệ danh dự dòng họ, nuôi con cái. Những thành viên cùng một họ nhưng xa nhau thì cũng lấy được nhau.


3. Vấn đề họ và chi họ


Là những người thuộc một tông tộc (patrimonie) tức là cùng thuộc về một ông tổ 5 đời, gọi nôm na là chi họ. Thật ra ta thường gọi là cửu tộc vì nếu xét từ ego tức là thế hệ "tôi" thì ta thấy phía trên: thế hệ + I: cha mẹ (phụ mẫu); thế hệ + II: ông bà (tổ phụ mẫu); thế hệ + III: cụ ông, cụ bà (tằng phụ mẫu); thế hệ + IV: kỵ ông, kỵ bà (cao tổ phụ mẫu); còn trên nữa gọi chung là cao cao tổ đến thủy tổ. Phía dưới ta có: thế hệ - I: con (tử); thế hệ - II: cháu (tôn); thế hệ - III: chắt (tằng tôn); thế hệ - IV: chút (huyền tôn), còn xa nữa gọi là viễn tôn.


Trong một gia phả, cho dù là một dòng họ lớn, thường ta thấy ghi danh sách từ người đầu tiên khai sinh ra dòng họ, tiếp đó là danh sách những vị cao cao tổ. Trong phần này, nếu có tư liệu, thường gia phả của tông tộc chỉ ghi những sự kiện liên quan đến vị thủy tổ, cho dù chỉ là một dân thường, không có công tích lớn với nước; rồi đến các vị có công với triều đình, với làng xã, với dòng họ. Phần thứ hai khi bắt vào thế hệ + IV tức là vị cao tổ phụ mẫu (kỵ), thì mới ghi kỹ, vì coi đó là những thành viên trong họ theo nghĩa hẹp, thường được tính đến trong hệ thống cửu tộc, tính đến huyền tôn (chút). Những thành viên trong một chi, thường được gọi nôm na là người cùng một họ hay họ nội, hay là cùng một ải nọong (Thái), một tai hem (Khơ Mú).


Suy đến cùng, các thành viên khi còn biết cùng một họ, cho dù đã vượt ra khỏi phạm vi tông tộc (thực tế là 5 đời) không theo trực hệ, mà theo bàng hệ, thì cũng ít dám lấy nhau . Chỉ những người trong vòng 5 đời, theo lệ tục xưa khi mất phải để tang, thì mới thuộc cộng đồng ngoại hôn, tức là không được lập quan hệ với nhau và nếu vi phạm là mắc tội loạn luân.


Tại sao lại nói chỉ là 5 đời chứ không phải 9 đời (cửu tộc). Nếu tính theo các tên gọi, ta có từ ego trở lên là 4 đời; từ ego trở xuống cũng là 4 đời. Đời đây được hiểu là thế hệ. Nhưng trên thực tế, ta thường thấy một chi hay một tông tộc thường chỉ tính theo trực hệ đến đời thứ năm; từ đời thứ sáu, các nhánh bàng hệ thường tách ra thành một chi riêng. Thành viên thuộc mỗi chi riêng, tuy vẫn hiểu biết có những thành viên các chi khác, còn ở trong làng hay cư trú ở làng khác; thì việc cúng bái, giỗ tết đối với người đã khuất hay việc tương trợ, giúp đỡ đối với người còn sống, thường cũng chỉ hạn chế trong phạm vi tông tộc.


Các chi còn biết chung là thuộc về một thủy tổ, thường tuỳ theo quy định, tổ chức những buổi tế thờ ở nhà thờ tổ hay thường gọi là từ đường; hoặc nếu đường xa cách trở thì cũng đến ngày đó, mà thờ vọng. Nếu các họ không có từ đường, thì có lăng miếu, ở đó tương truyền là nơi đặt mộ tổ, hoặc vì chiến tranh loạn lạc, thì xây dựng một lăng, dựng một tấm bia, ghi công tích vị thủy tổ, các vị tiếp nối có công. Chi trưởng là người chủ trì từ đường đời đời giữ hương hỏa, trừ khi tuyệt tự thì truyền sang chi thứ. Thực tế cho thấy sự thay đổi ngôi thứ, cũng có khi còn do sự hưng thịnh của chi trưởng, thứ buổi ban đầu, về sau rất khó đoán định, bởi lẽ ngay trong gia phả cũng có đổi thay. Vậy nên một họ khi đã cư trú cách biệt khó đoán định được ai là thủy tổ ở nơi ở cuối cùng, nếu như gia phả không ghi hoặc ghi không chính xác, nên thường con cháu chỉ coi vị thủy tổ ở nơi ở cuối cùng làm đối tượng thờ cúng.


Ngoài từ đường thờ thủy tổ dòng họ nói chung, các chi thường lập nhà thờ họ riêng, có khi đặt ở nhà trưởng nam. ở đây ta thường thấy thờ các vị tổ tiên bốn đời nếu tính từ ego, nghĩa là thờ cao, tằng, tổ, khảo. Thường ego là người đứng tuổi nên trên thực tế lại còn các thế hệ dưới ego, là con, cháu, chắt, hiếm khi có chút. Cũng cần lưu ý, nếu ở những họ có nghề truyền thống thường có ban thờ tổ sư; cho dù tổ sư không phải cùng dòng họ; đồng thời có thờ những bà cô, ông mãnh... hay những thành viên đã khuất tuyệt tự, không nơi cúng bái. Một khi ego khuất núi, thế hệ –1 ego thay thế làm trưởng họ, thì trên ban thờ họ, người ta nhấc thần chủ cao tổ đi, đưa các vị tằng, tổ, khảo lên một bậc, và đưa ego lên thế vào chỗ thần chủ còn khuyết. Các chi thứ ngang hàng với – 1 ego lập nhà thờ chi họ mình, do đã không còn là tứ đại đồng đường cùng với –1 ego ngành trưởng.


4. Vấn đề ba họ


Cùng thuộc vào cộng đồng ngoại hôn, ngoài những thành viên cùng một dòng họ, họ nội, còn có họ mẹ và họ vợ. Do đấy có khái niệm ba họ.


Với các tộc người ở Trường Sơn - Tây Nguyên: Cho dù còn theo mẫu hệ, song hệ, hay phụ hệ, các cư dân ở đây còn theo nguyên tắc hôn nhân lưỡng hợp hay quá độ từ lưỡng hợp lên tam hợp, quan hệ ba họ chưa rõ ràng. Lấy ví dụ ở các cư dân Nam Đảo, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã được xác lập một cách vững chắc và theo nguyên tắc ngoại hôn djuê (Ê Đê), djuai (Gia Rai), djei (Chu Ru), pitê (Ra Glai) rất chặt chẽ. Những người cùng một djuê (djuai, djei, pitê) tính theo huyết thống mẫu hệ dù cách nhau bao nhiêu đời cũng không được lấy nhau. Để chỉ tất cả thành viên một dòng họ, người Ê Đê dùng một thành ngữ gặp djuê nuê epul, người Gia Rai là gop djuai nuai tơpuôl có nghĩa là bà con cùng họ cùng một giống nòi. Theo tư liệu của Vũ Đình Lợi, ta thấy người Gia Rai có 10 họ, người Ra Glai có 8 họ, người Chu Ru có 7 họ. Riêng Ê Đê số lượng dòng họ rất nhiều đều từ hai hệ dòng là Niê và Mlô mà sinh ra. Người Ê Đê gọi là sa djuê ana mbit (cùng một họ gốc, họ cái). Ví dụ dòng họ Mlô có dòng họ Ayun; họ Ayun lại có họ chi như Buôn Dang, B. Chữ, Tul, Ruê... Ta có thể ghi lại hệ dòng của người Ê Đê như sau:


Sơ đồ IV: Dòng họ ở Trường Sơn – Tây Nguyên


Bản vẽ: Đặng Nghiêm Vạn


 Hệ dòng Mlô  Hệ dòng Niê


1/ Ayun


Buôn Dang


B. Chữ


Tut hay Tul


Ruê


Ktăt Muũ


Đuôn Du


Kdoh


Aro


Kpor


2/ Eban.


B.Sut


B.Lang


Krah Elan


B.Eyaih


B.Kang


Rahlan


 


3/ Hdruê


Hmok


B.Krông


Kbuor


Ktul


Arul


Knul


Hwing


Mjao


Mkoei


M.Bi


   4/ Hmôk.


Mnu


Kniêng


Pra


Pai


5/ Mlô.


Aduon du


Hut


B.Dao


 


6/Kpạ.


K.Hoti


K.Tham Do


 


 


   1/ Niê


Kđăm


Siêng


Hrah


Sak


N.Kriêng


B.Đáp


B.Dong


Hra


N.Ktrei


B.Tô


Mnga


Mla


Tung


B.Driônghay Kriêng, Mriêng


Mơô


Adrâng


Chiêu


B.Briêng


B.Briêng


B.Kmiêk


Blô


Kwan


Kpơr


B.Ya


N. Sơr


Alê


Krong


B.Krung


Rôh       2/Ksơr


Ktrao


Knguôr


Prong


Diêt


3/Ktla


 Ya


Alep


 


4/B. Ya


Hlang


Ktê


Edim


Emăng


Kuk


Kman


Edun


Preh


 


 


 


 


 


Trong những họ, ta thấy họ Niê Kđăm là họ nổi lên thường làm pôlăn, chủ đất. Ở người Gia Rai, họ Siu làm vua Lửa hay vua Nước. Có họ Rchom Prong là họ được làm vợ vua Lửa và vua Nước (Mtao Ea, Mtao Pui). Theo quan niệm truyền thống, cùng một hệ dòng Mlô hay Niê, kể cả trực hệ lẫn bàng hệ gần xa, mặc dù không có quan hệ gì về huyết thống cũng không được lấy nhau, ai lấy mắc tội loạn luân nên ở người Ê Đê, ta thường xuyên thấy sự lấy đổi giữa Mlô và Niê. Người Ê Đê phân biệt hai cấp độ loạn luân là klăm và agăm, trong đó klăm là thuộc một hệ chi (gắp djuê) bị xử phạt nặng hơn, còn agăm là giữa người thuộc dòng họ khác nhau trong cùng một hệ dòng thì xử phạt nhẹ hơn. Ngày nay, nếu ở trường hợp agăm, thì tha không bắt tội.


Tội loạn luân là tội nặng gây ô uế cho đất đai, xúc phạm đến thần linh làm cho mất mùa hạn hán, đất sụt... Kẻ phạm tội phải trần truồng, ăn vào máng lợn. Mắc tội nặng nhất, nạn nhân ngày trước bị đuổi ra khỏi làng, chết không được về với tổ tiên. Gần đây, do thiếu lao động, sau một thời gian rời khỏi làng, sống bơ vơ trong rừng, cặp loạn luân được trở lại làng sau khi nộp phạt cho chủ đất (pôlăn) và chủ làng (pôpin ea). Nếu năm đó làng bị hạn hay dịch gia súc, hai người phải phạt vạ cho làng. Người Ra Glai còn cắt tiết lợn, gà cho vào máng nước đầu làng để tẩy uế các dơ dáy của nước và đất.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc Tố Hữu và Hội nghị Đảng viên 6/1979 - Vương Trí Nhàn 21.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (40) - Nguyễn Văn Khỏa 20.08.2019
Cò bất động sản - Tư liệu sưu tầm 20.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (39) - Nguyễn Văn Khỏa 19.08.2019
Toàn văn thông cáo phán quyết của PCA vụ kiện Philippines-Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 18.08.2019
Giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài theo phụ lục VII - Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 - Tư liệu 18.08.2019
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - Tư liệu 17.08.2019
Lý do tại sao Trung Quốc không thể tấn công Hàng không mẫu hạm của Mỹ - Tư liệu sưu tầm 13.08.2019
Cá tráp biển - Tư liệu sưu tầm 12.08.2019
Văn hóa Ẩm thực: Cá song biển Quảng Ninh & những đặc sản từ biển Quảng Ninh - Tư liệu sưu tầm 12.08.2019
xem thêm »