tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29373341
03.02.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (39)

Chương Năm: Dòng họ


I.   Khái quát


II. Ngoài quan hệ cộng đồng láng giềng, các tộc người còn bị ràng buộc bằng quan hệ huyết thống tức quan hệ dòng họ.


Theo phương pháp Dân tộc học so sánh, ta thấy một số cư dân Môn-Khmer ngành Banaic hay Kơtuic như tộc người Ba Na, Xơ Đăng, Gié Triêng, Co, Hrê, Bru-Vân Kiều v.v... đều không có thuật ngữ để chỉ họ. Gần đây có hiện tượng đồng bào lấy họ Hồ (Vân Kiều), họ Hồ và họ Phạm (Hrê) làm họ. Có chăng từ xa xưa, các tộc này chỉ có một bổ ngữ từ mà ta thường gọi là chữ đệm để phân biệt nam hay nữ, như người Xơ Đăng, người Bru-Vân Kiều có từ A để chỉ nam, Y để chỉ nữ. Một là nữ, anh A Doắt là nam, người Bru-Vân Kiều có anh A Vơk, có chị Y Leo. Hay ngược lại, người Ê Đê lại có từ Y để chỉ nam và H’ để chỉ nữ (chú ý người Ê Đê có từ để chỉ họ). Thậm chí, người Ba Na lại cũng không có từ để phân biệt cả nam lẫn nữ. Trong một buôn, tên các thành viên không được trùng lặp nhau, với mục đích duy nhất để phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác.


Trường hợp dòng họ ở người Mường cũng rất đáng nghĩ là xưa trong một mường, một quêl chỉ có từ chỉ dòng họ theo giai tầng xã hội - quý tộc hay dân thường, chứ không để chỉ một cộng đồng huyết thống hay ngoại hôn. Các dòng họ quý tộc từng mường to hay nhỏ đều mang một trong các họ Đinh, Quách, Bạch, Hà. Toàn thể dân chúng đều là họ Bùi. Vậy nên rất có thể, trong trường hợp người Việt, qua một ngàn năm Bắc thuộc, do ảnh hưởng văn hóa Hán, từ dùng để chỉ các dòng họ ở người Việt mới ra đời. Lúc đầu phải chăng họ cũng không có dòng họ, chỉ có từ chỉ giới tính như văn chỉ nam giới và thị chỉ nữ giới.


1. Quan hệ dòng họ với tôtem giáo


Tên các dòng họ gốc đều gắn liền với hiện tượng tôtem giáo. ở cư dân Môn-Khmer, ta thấy rõ rệt nhất ở tộc người Khơ Mú. Những dòng họ Khơ Mú ở rải rác khắp các bản (cung) đều mang tên thú, chim, cây cỏ và các vật vô sinh. Nhóm gồm tên thú có họ Rvai tức họ hổ chia ra các nhánh: R.veng ung (tiếng Thái là xửa lai chen tức hổ vằn có chấm to), R.xênh khương (x.chống hay căn tao tức hổ vằn đen sắc vàng) và R.tlắp (x. nộc tức báo hay loại hổ không vằn, màu hung hay ăn gà, vịt). ở Nghệ An có thêm R.derr tức hổ xám lớn, dữ. Các họ Khơ Mú còn có họ Thái là Lộc: R.veng ung, họ Quàng: R.tlắp, họ Lường và họ Lự, R.xênh khương hay R.krlư.


Nhóm Tmoong tức chồn, cầy gồm có T.hol (tiếng Thái: nhển moong là con cày có vệt ở sống mũi, màu mốc hay ăn hoa quả vả) và T.rung (nhển hang cản) là loại cáo đuôi đen pha trắng, ăn gà vịt... Ngoài ra còn nhóm tiác (hươu nai, ho họa (khỉ), huall (gấu), goi (sóc bé), di vê (rái cá). Những nhóm sau còn rất ít.


Nhóm tên chim gồm có nhóm Thràng (phượng hoàng đất - Buceros bicornis), Tgóoc và Slóoc; nhóm Ôm gồm có các nhóm Ô.Lit praga (nộc sỉ hin tức chim chìa vôi (Motacilla alba) và Ô.Cô tlê (nộc khoa nậm tức chim bồng chanh (Alcedo atthis); nhóm Chưnđre (nộc chen ven tức chim chàng làng – Lanius Schach). Ngoài ra còn các nhóm rất ít như nhóm Ric (nộc pít đón tức loại én Hirunda ruslica); nhóm Rivi (nộc phay tức chim phường chèo - Pericrocutus flammeus); nhóm Lang tu (chim họa mi – Garrulax canorus); nhóm Khư tlốc (cuốc – Amaucornis phoenicerus); nhóm Klảng (cắt – Falco severus).


Nhóm tên cây gồm có nhóm Tvạ tức nhóm dương xỉ nay còn thấy có ngành T.tờ rông blai (co cút tức cây guột); T.ngăm (phiắc cút tức rau dớn) và T.vơơr (cút mọn tức dương xỉ). Những họ còn ít, có họ Sinh ưrr tức họ Tỏi.


Theo Ngô Đức Thịnh, ở Lào còn thấy các họ khác. Cần chú ý có họ rắn (không phải rắn nước) và các họ mang tên các vật vô tri như họ Rọ, họ Đũa cả, họ Môi múc canh v.v... và họ Sấm. ? Nghệ An, theo điều tra sơ bộ ở Tương Dương, chúng tôi thấy có các họ Man (rắn), Kăm bur (tê-tê), Rét (con ông lão hay tu niểu), Klang (diều hâu), Iar glaạ (bìm bịp), cũng thấy họ Soong (dọ lợn).


ở tộc người Gié Triêng, ta còn thấy hiện tượng tôtem theo giới, tôtem nam và tôtem nữ, do con trai theo tôtem cha, con gái theo tôtem mẹ. Ví dụ dòng họ nam (choong con khló) gồm có họ Brôl, (dúi), Đoắt (khướu), Đê hay Tệ (nai), Hiêng (ong)...; nhóm tên cây như họ Próc (nấm mối), Dé cây lá lông nhỏ mịn, thân gỗ to có nhựa màu đỏ, Lăng hay Chlăng cây gỗ, lá chua ăn ngon, Plong cây cao, quả chua ngọt. Ngoài ra còn có họ Tavác, Na xó (vùng đất đỏ), Trơ rim: cầu treo, Ún: lửa v.v... Các dòng họ nữ (choong con hđrây) gồm có họ Che hlâu: máng nước, Te rang (một loại hoa); Tơ ré hay Chu ré: con sóc; Ách: rắn; Lếp p- hê: con dế; Kếp p-ir: cào cào; Tri pưs: rắn v.v...


Những dòng họ liên quan đến tôtem thường gắn liền với một huyền thoại đơn giản, ngắn gọn giải thích vì sao nhận sinh vật đó là vật tổ hay các sự việc đó liên quan đến dòng họ nên phải kiêng cữ và lấy tên đó đặt tên cho dòng họ. Xin kể mấy chuyện làm minh chứng:


 Ví dụ 1: Một gia đình nọ, người cha hóa hổ, thường đi kiếm ăn. Một hôm, hổ vồ bắt một cô gái hái củi. Cởi bỏ lốt hổ về nhà, người chồng thấy vợ khóc bên xác con gái bị hổ ăn thừa để lại. Biết mình nhầm, hối hận, người cha bảo vợ con sau cắm ta - leo ở những nơi thường đi qua để khỏi lầm lẫn. Từ đó bốn họ Lộc, Lự, Quằng, Lường kiêng không ăn, giết hổ (Thái).


 Ví dụ 2: Có người làm chắn ngăn nước bắt cá. Vì chim chìa vôi hay lấy chân đạp đá làm nước chảy nên không chặn được. Tức giận, người đó nấp ở chỗ đá kê nhằm tóm chân chim. Nào ngờ, chim biết, xô đá đè chết người đó. Con đi tìm bố gặp chim, chim báo tin bố chết. Con vẫn không rõ tại sao bố chết, sau thấy cứt chim ở chỗ chắn nước mới biết lí do. Từ đó, con cháu lấy tên chim làm họ (Ôm lít praga - Khơ Mú).


 Ví dụ 3: Có người được sinh thực khí dài hay chơi gái, bị phạt vạ nhiều không trả được. Một hôm người đó ngồi câu cá (có nơi nói bẫy chuột) đợi lâu không thấy lim dim ngủ. Bất đồ, chim bồng chanh chao mình xuống. Giật mình, người đó chặt phải sinh thực khí nên chết. Con cháu ơn chim làm bố chết thoát nợ, coi chim là người thân thích (Ôm Cô tlê - Khơ Mú).


 Ví dụ 4: ? làng nọ, có người không dám lên nương, vì trong người có lửa, nếu đi ra gặp gió, sẽ cháy rừng. Đến mùa phát rẫy, vợ phải đi làm một mình, nên mùa đó nhà thiếu ăn. Năm sau, vợ bắt chồng lên rẫy. Ông ra đến rừng, đi đến đâu, lửa trong người bốc ra, rừng cháy đến đó. Chẳng mấy chốc, gia đình được một đám rẫy to. Cuối cùng, sợ cháy hết rừng, ông lội xuống nước, lửa trong người mới tắt. Ông chết. Nay con cháu mang tên Ún là lửa (Gié Triêng).


 Ví dụ 5: Xưa người Triêng đẻ nhiều, nuôi được ít. Một nhà kia, bà mẹ đẻ được con nào đều chết con ấy. Tức giận, bà lấy dao bổ đầu đứa bé, một con chuột (p-ur) chạy ra; ở gần nhà có cây gừng lửa (Chà uynh) khi có chửa, bà lấy ăn, đẻ con ra; con khỏe mạnh. Từ đó bà đặt tên con theo họ Chà uynh và kiêng ăn thịt chuột (Triêng).


 Những huyền thoại tôtem giáo đều đơn giản như vậy nhưng lại thân thương với người dân, họ giữ làm tên họ, kiêng không giết và ăn thịt tôtem và với người Khơ Mú còn làm lễ thức quan hệ với tôtem. ở đây, họ diễn lại huyền thoại của tôtem giáo. Thí dụ: Họ Rvai ở người Khơ Mú. Lễ diễn ra vào ban đêm, chỉ riêng trong gia đình, người chồng thức dậy, mặc áo hổ (vẽ vằn lên áo) nhảy qua cửa dành cho ma, xuống bắt một con lợn sữa, không cho kêu. Con lợn khoảng 3 kg bị bóp chết. Người chủ nhà ngậm con lợn vào miệng, nhảy lên sàn, qua cửa "ma". Lợn được làm thịt bằng cách nướng ở bếp III. Khi xong, cả gia đình bắt chước hổ, mặc áo hổ (vẽ vằn lên áo) bò theo chủ nhà, miệng kêu ầm ầm. Chủ nhà bò trước, người vợ bò theo cùng các con, đến bếp II, bếp dành riêng thờ tổ tiên. ở đó đã để sẵn chum rượu cần và mâm cúng, con lợn được đặt tại đó. Khi làm lễ chủ nhà đặt ít thịt lợn và thay nắm xôi lên mâm cúng đặt sẵn ở gác bếp; đồng thời bỏ ít xương lợn vào sọt treo ở dưới mâm cúng. Tiếp theo, cả nhà xé con lợn ra, ăn bằng hết. Xương và các thứ bỏ đi được túm vào lá và được chủ nhà ngậm vào miệng mang chôn ngoài vườn. Nghi lễ chấm dứt. Cả nhà đi nằm ngủ. (Tài liệu điền dã huyện Tương Dương, xã Kim Đa năm 1972).


Sơ đồ I


             Hình I: Nhà


1. Cầu thang ma.      2. Chỗ ngủ của chủ nhà.


3. Buồng trong.         4. Ban thờ tổ tiên.


5. Chỗ thờ tổ tiên (hroi gang) nơi để chum rượu.        Hình II: Bàn thờ tổ tiên.


2. Quan niệm dòng họ


Vậy họ ở đây nên hiểu thế nào? Theo Nguyễn Kim Thản, sau được Lê Trung Hoa đồng tình, từ họ là cùng gốc với từ Hán là


hộ (?) thực sự đã được nhà Triệu sử dụng khi lập chế độ hộ tịch. Theo tôi, điều này cần xem lại. Chế độ hộ tịch mà tác giả dẫn Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư, có từ đời nhà Triệu đã dùng, chắc không kiểm kê họ, mà là nhà, là nóc, cho dù là đại gia đình lớn, bốn năm thế hệ cùng chung sống. Tôi thiên về ý của Phan Văn Các hay đúng hơn là ngữ nghĩa của Trung Hoa họ là tính  (?) hay thị (?). Tính là từ thông dụng hiện nay (người Thái gọi là xính). Tên họ của người Việt đại đa số giống tên họ của người Hán, một số ít tự đặt hay ảnh hưởng của các tộc người ngôn ngữ Nam - Thái.


Ở đây tác giả chỉ giới hạn vào việc nghiên cứu dòng họ liên quan đến việc xác định những cộng đồng ngoại hôn tức là những thành viên của cộng đồng còn được quan niệm là cùng một quan hệ huyết thống và không được lấy nhau.


Họ có thể hiểu theo các nghĩa khác nhau.


a) Là những người cùng mang tên họ, như những họ gắn liền với một tôtem thường là ngoại hôn, không được lấy nhau. ? các cư dân Tạng-Miến, như ở người Hà Nhì, có những dòng họ liệt kê theo lối phu tử liên danh tức tên của người cha là họ của người con, hay đúng hơn phần cuối tên của người cha là chữ đầu tên của người con. Có tục lệ, cứ hàng năm vào đêm giao thừa, tất cả gia đình quây quần quanh bếp lửa nghe người già đọc tên từng tổ tiên, thanh niên đọc theo. Có những họ đọc đến 4-50 đời chưa dứt. Buổi đọc đó được gọi là buổi kể đời của dòng họ mà người Hà Nhì gọi là chự cư hay sự dú (xã ý Tí). Như họ Ly ở xã ý Tí sau khi kể sự hình thành của ông tổ là Ô Ma, tiếp theo là Ma Hồ, qua 42 đời mới đến đời Ly Ngô. Rồi từ những thế hệ của những người họ Ly trên 60 tuổi hiện nay, dòng họ này đã trải qua 29 đời. Bằng cách tính chự cư như vậy, người không quen biết dễ tìm ra quan hệ họ hàng của mình. Chự cư còn được đọc vào dịp tang lễ. Khi đưa người chết vào quan tài, người con trai hay người chủ lễ đọc gia phả dòng họ kể từ người bố hay mẹ đã khuất ngược lên đến người thủy tổ, nhằm trình bày trước tổ tiên để tổ tiên đón nhận người đã khuất (bố hay mẹ). Tục phụ tử liên danh nay còn vang bóng ở người Khmer như đối với các họ Uôn, Khan, Khum... Ví dụ: Cha là Uôn Tiêm, con là Tiêm Phu, cháu là Phu Sóc v.v... Bên cạnh những họ gốc Khmer còn có những họ do triều Nguyễn đặt cho họ như Danh, Lâm, Kim, Sơn, Thạch hay những họ lai Việt hay Hoa hoặc là người ngụ cư ở An Giang.


Rất nhiều tộc người ở miền núi miền Bắc được khóac tên dòng họ theo ngôn ngữ mẹ đẻ và theo ngôn ngữ tộc người trước đây mình lệ thuộc, như người Khơ Mú, Kháng, Xinh Mun, La Ha ở Tây Bắc, có họ Thái cạnh họ tộc người; người Pu Péo, người Pa Thẻn có họ tính theo tên gọi bằng ngôn ngữ tộc người lại được gọi bằng tiếng Hán phương Nam. Ví dụ: Người Pà Thẻn, mỗi họ có hai tên gọi, một theo âm Hán, một theo tiếng mẹ đẻ. Họ Phù được gọi theo tiếng tộc người là Ca bô; họ Sình - Ca sơ; họ Đừ – Ca đo; họ Làn – Ca lame. Mỗi họ lại chia ra từng nhánh như họ Phù ở Tân Trịnh lại có ba chi: Ca bô cộ (họ Phù lớn), Ca bô ca đe (họ Phù dê) và Cabo ra xi (họ Phù gio bếp). Họ Sình chia làm ba chi 1. Ca sơ quơ. 2. Ca sơ pi. 3. Ca sơ công hay Pế ca công... ? đây phải chăng các họ lớn là một bào tộc sau chia nhỏ thành các thị tộc. Các dòng họ đều thấy vết tích của tôtem.


Ta cũng thấy hiện tượng trên ở người Pu Péo. Bên cạnh dòng họ theo chữ Hán: Củng, Tráng, Chủ, Pề, Vàng... ta thấy có đến 22 tên họ (păn) cổ xưa của tộc người như Ka cung, Ka căm, Ka ram, Ka châm, Ka sô, Ka bu, Ka bổng, Ka ru, Ka rựa v.v... Nhưng dòng họ trên đều có hai dòng họ đi kèm nhau. Ví dụ: Ka bu - Ka bổng; Ka ru - Ka rựa, Ka cung - Ka căm... có thể là tàn dư của các thị tộc lưỡng hợp.


Những loại mang tên cùng dòng họ này, giống như người Hán, Sán Dìu, Ngái hay như người H’mông, Dao, nếu còn nhớ là cùng dòng họ, cho dù không phải cùng huyết thống cũng không được lấy nhau. Đó là do các tộc người này có một quá trình di cư rất lâu đời, tính tương trợ trong một dòng họ rất lớn, lại dễ rơi vào hoàn cảnh bị lép vế so với người khác tộc, nên quan hệ tộc người, quan hệ huyết thống rất được đề cao. Để nhận là người cùng họ, các tộc người hay có một chu kỳ chữ đệm thống nhất, thông thường là 5 đời 7 đời có khi là 9 đời hoặc hơn nữa để nhận nhau. Nếu nhận được họ, tùy theo chữ đệm và tuổi mà nhận là anh em hay bác chú, cháu. Khi đã nhận nhau, họ coi như anh em, chú cháu phải có trách nhiệm giúp đỡ nhau.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
John Adam, Jr. - Tư liệu 13.09.2019
Nhà báo, nghệ sỹ nhiếp ảnh Lâm Hồng Long - Trần Mai Hưởng 12.09.2019
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (13) - Đạm Phương Nữ Sử 11.09.2019
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (12) - Đạm Phương Nữ Sử 11.09.2019
1954-1975: Quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam như thế nào - Tư liệu sưu tầm 10.09.2019
Bùi Thế Mỹ viết về văn Tản Đà - Tư liệu 02.09.2019
Hùn một tài liệu vào việc kỷ niệm nhà đại học giả Trương Vĩnh Ký - Huỳnh Thúc Kháng 02.09.2019
Di chúc Hồ Chí Minh: Những nghi vấn đặc ra từ văn bản - Nguyễn Thị Từ Huy 02.09.2019
Khái niệm “Hán Nhân” và “Hán Tộc” mới hình thành đầu Thế kỷ XX - Tư liệu 02.09.2019
Nhìn lại lịch sử: Thư của Hồ Chí Minh gửi TT Mỹ/ Phương châm hiếu hòa, đối thoại và "ngũ tri" với các nước lớn - Nhiều tác giả 30.08.2019
xem thêm »