tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29458527
01.02.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (38)

Giáp là tổ chức lưu ý đến lớp tráng đinh. Theo Bùi Xuân Đính, trong đời sống của làng, thì giáp là tổ chức năng động nhất. Từ Chi cũng thấy giáp là hình thức tổ chức dành riêng cho nam giới, lực lượng năng động của cộng đồng phụ quyền xưa, tuy rằng tổ chức giáp không thống nhất giữa các làng xã. Có nhiều hình thức giáp khác nhau, chỉ có một điều duy nhất thống nhất giữa các giáp là cha truyền con nối, cha thuộc giáp nào, con theo giáp đó. Giáp đảm nhận những công việc hệ trọng của làng: 1. Phú sinh tống tử, tức công nhận người mới sinh, đưa người đã khuất về với tổ tiên. 2. Quản lý nhân đinh. 3. Phân cấp và quản lý công điền, công thổ. 4. Tổ chức việc biện lễ và thờ cúng Thành hoàng. Giáp còn là đơn vị thu thuế, phu phen tạp dịch, giúp làng xã đảm bảo nghĩa vụ với Nhà nước. Như vậy, giáp đảm bảo hai việc nặng nhọc nhất của làng, một là khẳng định sự tồn tại của làng trước triều đình như một đơn vị xã hội của cả nước bằng cách thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ: thuế má, phu phen binh dịch. Hai là săn sóc trật tự làng xã, lo lắng việc sinh tử, việc tồn tại của thành viên trong làng khi còn sống cũng như khi đã khuất, tổ chức việc tế lễ trong làng.


Từ lúc làm tráng đinh cho đến khi lên lão, những người trong giáp phải cắt lượt nhau làm đại diện cho giáp, được gọi là câu đương, điều khiển các ông lềnh. Các ông lềnh (thành viên của giáp) thường được phân chia ra từng nhóm, mỗi thành viên của giáp lần lượt trải qua tất cả các nhóm từ thấp lên cao. Việc cắt đặt tuỳ theo địa phương được phân khác nhau. Chức câu đương cũng vậy, mỗi thành viên trong giáp lần lượt đảm nhiệm một kỳ một năm. Đúng như Từ Chi viết, công việc này không ai từ chối, nó là một trách nhiệm, một vinh dự, một con đường tất yếu để tiến thân. Tuy nhiên do tính xôi thịt của làng xã, do gà thi tiếng gáy, người đăng cai gặp dịp phải sửa lễ cho làng, ai cũng muốn làm to hơn người trước, lại phải ứng trước cái lễ, rồi mới thu dần từng người đóng góp, nên nhiều gia đình khốn khổ, mắc nợ phải bán ruộng, bán nhà để làm tròn trách nhiệm. Họ không chỉ lo việc ăn uống ở đình làng, lại còn lo đôn đốc việc của làng (chia ruộng công, bổ thuế, bắt phu, bắt lính...).


Giáp chỉ kết nạp những thành viên trai. Đó là cái lệ xưa triều đình chỉ lưu ý các xuất đinh, sau lưu ý đến ruộng và ruộng công cũng chỉ chia theo đầu đinh. Từ Chi từ đấy có liên tưởng một cách dè dặt đến các hội bí mật ở Mêlanêxia, ở châu Phi. Thiết tưởng ở nước ta, địa vị phụ nữ luôn được đề cao không chỉ trong đời sống sản xuất, mà cả trong đời sống tôn giáo do đất nước luôn bị đe doạ trước nạn ngoại xâm và nội chiến trong nước. Nhất là miền núi, ở đó vai trò phụ nữ càng được đề cao vì tàn tích của chế độ mẫu hệ còn đậm đà và kéo dài đến nỗi một số tác giả Pháp như M. Ner, P. Lingat còn ngỡ đây là xứ sở của chế độ mẫu quyền. Thật khó có thể xuất hiện các hội kín cứ đến mùa nhất định, các thành viên giàu có, có thế lực lại tổ chức nhau lại trong rừng để về cướp phá ngay bản thân làng mình và đe dọa phụ nữ nhằm khẳng định chế độ phụ quyền.


Chỉ nên coi giáp là vết tích của tổ chức lứa tuổi với các nghi lễ chuyển tiếp, ở đây khẳng định những tráng đinh là lực lượng chủ yếu cho sự tồn vong và phát triển của cộng đồng. Giai đoạn ấu niên là giai đoạn được giáo dục để chuẩn bị bước vào đời, kết thúc bằng lễ thành đinh. Giai đoạn lên lão là giai đoạn ân hưởng sự trọng vọng của cộng đồng, được phép ăn trên, ngồi trốc, nhàn hạ, nghỉ ngơi, thanh thản, truyền bảo kinh nghiệm cho con cháu trước khi về với tổ tiên.


Cũng phải kể đến vai trò quan trọng của chiếc đình làng, của ngôi nhà rông, với việc thờ cúng tổ tiên mà  Chủ tịch Hồ Chí Minh "đã coi là một hiện tượng có tính xã hội...". Người Việt Nam đã thần thánh hóa những ông bà tổ tiên dòng họ và làng bản với tinh thần ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đã thiêng hóa các vong linh tổ tiên, các thánh thần, qua họ củng cố mối liên kết giữa các thành viên trong làng. Vấn đề này còn trở lại ở chương sau.


Cuối cùng lệ làng hay hương ước có trách nhiệm thống nhất cái tập thể chằng chéo của các xóm ngõ, các phe giáp, các dòng họ, các nghề nghiệp, các chức dịch, các phường hội vào một mối, tuân thủ tự giác những quy ước cụ thể được toàn thể cộng đồng làng xóm quy định và tuân theo. Là công dân một nước, mọi người phải tuân theo phép nước hay luật pháp. Luật pháp được cụ thể hóa ở các làng bằng lệ làng hoặc hương ước. Người dân chỉ thấy lệ làng qua đó mà hiểu phép nước. Bùi Xuân Đính cho biết hương ước chỉ mới ra đời sau này vào cuối đời Trần, đầu đời Hồ (cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV) vì căn cứ vào một đạo dụ 5 điểm được ban bố vào năm Quang Thuận thứ 5 (1464), điểm đầu tiên quy định "Các làng xã không nên có hương ước riêng vì đã có pháp luật chung của nhà nước".


Miền Trường Sơn – Tây Nguyên phổ biến có các luật tục, các lệ làng hay tập quán pháp mà người Ê Đê gọi là phăt kđi; người Gia-Rai gọi là tơlơi djuat; người Mạ, n-dri; người Mnông, phat kđuôi; người Ba Na, klabar khôy; người Chăm, ađat... Những điều của luật tục được cấu tạo bằng văn vần truyền từ đời này qua đời khác. Những bộ luật tục của người Ê Đê, Gia Rai, M’nông, Mạ, Chăm, Ba Na... chứng tỏ điều đó. Những điều luật được chia ra từng khoản phản ánh sâu sắc và toàn diện bộ mặt xã hội bằng những lời lẽ xác đáng nhằm răn dạy nhiều hơn là trừng phạt, buộc con người tự giác nhận lỗi sửa chữa, cam chịu những hậu quả trước thần linh và cộng đồng, cực chẳng đã thì phải đuổi ra khỏi làng. Nên luật tục là những quy định của cộng đồng mà mỗi cá nhân nếu phạm phải là quan hệ đến cộng đồng, nạn nhân chịu trách nhiệm, một trách nhiệm liên đới đến cộng đồng. Lấy ví dụ tội loạn luân, một tội rất lớn, vì đó mà "cây củ ấu dưới suối, cây khoai môn trong đầm bị héo khô, chính là vì chúng đã ăn nằm với nhau giữa anh và em, giữa cha mẹ và con cái. Chính vì chúng mà cái nong, cái nia, lưng của ông bà (ý là đất đai - ĐNV) đã bị uế tạp nên chủ đất sẽ phải làm một lễ giải uế cho lưng ông bà. Nước cũng sẽ đổ tưới cho đất, để đất được trở lại xanh tươi, để nước không phải ngừng chảy, để dân làng được sống yên vui, để mưa cho nhiều, cho thuận, để cây kê mọc cho tốt, cây lúa mau nảy hạt, không bị vàng lụi"... Vì vậy "người ta sẽ trích máu những kẻ phạm tội, dâng máu cho thần sao băng, cho thần đất để gột sạch các tội lỗi loạn luân gây ra".


Các tộc người miền núi phía Bắc, do không có chữ, đã lưu hành những điều khoản bằng văn vần dễ hiểu dễ nhớ. Đó là những thành ngữ đúc kết thành luật như "nếu bỏ nhau, gái bỏ trai, phải trả gấp đôi (lễ vật khi dẫn cưới); nếu trai bỏ gái, mất không của"... Đặc biệt ở người Thái do có chữ sớm nên đã có những lệ luật mường bản được quy định rõ ràng (hít khoòng mường bản), có thể có từ thời Hồng Đức. Thế nên, ở các châu mường Thái đều có các bộ luật thành văn. Rất tiếc ở vùng Tày-Nùng, chưa tìm thấy một bản nào cho dù tiếng Nôm Tày xuất hiện từ thời nhà Mạc lên chiếm Cao Bằng vào thế kỷ XVI. ở các bản làng, cũng chỉ có những khoản ước bất thành văn. Đó cũng là tình trạng của các tộc người H’mông – Dao, Cơ Lao và Tạng - Miến. Tộc người Mường cũng chỉ có khoản ước đơn giản được chép lại.


Lệ làng dưới đồng bằng cũng vậy. Ban đầu khi chưa có các nhà Nho chắc cũng chỉ là những điều quy ước thống nhất trong làng để mọi người tuân theo. Những làng nhỏ ít người có học và số đông những làng ở đồng bằng sông Cửu Long chưa thấy có các khoản hương ước thành văn. Đến đời Trần, các hương ước thành văn mới ra đời, sau được Lê Thánh Tông quy định lại, loại bỏ các điều khoản trái với tinh thần của phép nước. Hương ước đã bị nhà nước quân chủ tập quyền ngày càng can thiệp sâu để biến các làng thành một đơn vị cấp cơ sở theo kiểu "nhất xã nhất thôn", "nhất xã nhị hay tam thôn". Trong mỗi làng đã có những người hiểu biết Nho học có trình độ soạn thảo giấy tờ, trong đó có hương ước. Những người đó thường là quan chức, nên lệ làng bị biến chất không khỏi không bị "quân chủ" hóa, định ra các điều khoản có lợi cho giai cấp thống trị. Tuy nhiên, hương ước vẫn giữ được phần nào tính tự quản nhất định, nó mang tính chất thoả hiệp, dung hoà giữa quyền lợi của dân làng và triều đình.


Khoán ước quy định quyền lợi và trách nhiệm của dân làng với cộng đồng. Nếu so với các luật tục của các tộc người thiểu số như ở Tây Nguyên hay Tây Bắc (Thái), thời có điều quy mô không bằng vì các luật tục áp dụng cho toàn tộc người hay cả một mường hàng châu, nhưng về nội dung các điều luật cụ thể thời chặt chẽ hơn, rõ ràng hơn. Những điều khoản nêu rõ ràng hai phần: 1. Đảm bảo các nghĩa vụ sưu thuế, binh dịch với nhà nước, lệ mừng, đón rước, khao vọng các vị trong làng đỗ đạt, được bổ nhiệm làm quan, được thăng chức; chia các công điền, công thổ. 2. Đảm bảo các nghĩa vụ với làng xã liên quan đến cơ cấu tổ chức và quan hệ xã hội trong xã như việc bầu bán, mua nhiêu, mua xã, việc lên lão, bầu bán hội đồng kì mục... đảm bảo các việc tế lễ trong làng, đặc biệt là việc thờ cúng Thành hoàng, tổ chức các hội hè; việc canh phòng bảo vệ an ninh làng xã, việc trông nom cây cối, đường sá, cầu cống, đê điều, việc nạp cheo cho làng đối với người lấy chồng trong ngoài làng xã. Ngoài ra có bản hương ước còn đề cập đến việc bảo vệ sinh thái, việc sản xuất, lập quỹ từ thiện, hội tư văn...


Những ai vi phạm những điều khoản của hương ước đều phải chịu hình phạt do làng quy định có thể bằng tiền, hiện vật, đánh đập bằng roi, gậy, hoặc truất ngôi thứ trong làng một thời gian hay vĩnh viễn, thậm chí đuổi ra khỏi làng. Ngược lại, những người thực hiện lệ làng tốt được khen thưởng như thưởng tiền, ban tặng ngôi thứ trong làng, giảm bớt một số nghĩa vụ hay số đóng góp như trường hợp bắt trộm cướp, cứu nạn cho dân làng...


Như vậy lệ làng, hương ước đã củng cố khối đoàn kết trong làng xã, quy định trách nhiệm và quyền lợi của dân làng thông qua chế độ thưởng phạt, làm mọi người quan tâm đến làng xã, đến nơi quê cha đất tổ, tạo nên ý thức gắn bó với quê hương, mong cho quê hương ngày càng được thịnh đạt, từ đấy nảy sinh ra ý thức quốc gia và ý thức tộc người. Đối với người Việt, ý thức tộc người dường như trùng lặp với ý thức quốc gia, ngược lại với các tộc người thiểu số, nhất là các tộc người mới cư trú ở Việt Nam chưa lâu hay có những mâu thuẫn tồn tại trong lịch sử, thì việc giáo dục ý thức quốc gia là cần thiết.


Làng xã ở miền Nam có những điểm về cơ bản giống với làng xã ở miền Bắc. Những khác biệt nếu có là sự tập hợp ban đầu của một làng chưa hẳn đã là người cùng làng cùng xóm, cùng dòng họ, mà có thể là một tập hợp của những người tứ xứ, những lưu dân từ phương Bắc của đồng bằng sông Hồng, sông Cả, sông Mã đi vào lập nghiệp. Họ là những quan, quân lính của triều đình được giữ lại làm nòng cột cho các đồn điền, là dân nghèo tự do của các làng, là những tội đồ bị phát lưu thích chữ vào mặt, là những con dân người Chiêm, người Việt thất trận, là những người Hoa bỏ xứ... Những người này được tổ chức lại khai khẩn đất hoang theo lối chiêu dân, lập ấp hay tập hợp trong các đồn điền của nhà vua trên cơ sở những cánh đồng của người bại trận. Những làng được tái lập theo mô hình làng cũ nơi quê xưa, nên ngày nay ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam còn tồn tại các giáp như một đơn vị cư trú. Những làng miền Trung mật độ dân số đông không thua miền Bắc, khác chăng những làng ở đây có lợi thế ven biển có thêm nghề đánh cá, thậm chí có làng vạn chài riêng lẻ, còn vẫn là những làng làm ruộng nước với một nghề phụ gia đình như: chăn nuôi hay làm nghề thủ công để có cái trao đổi với các làng bên. Việc thông thương phát triển hơn tác động đến sự phát triển


nông thôn.


Vào đến Nam Bộ, buổi đầu, đất rộng người thưa, những người dân tuỳ sức khai hoang những vùng đất mới. Triều đình khuyến khích người dân vỡ hoang lập ấp. Đất rộng, dân thưa, ban đầu nhiều người thả sức khai phá được bao nhiêu không hạn chế, tự ý đóng thuế với triều đình, được bao nhiêu cũng tuỳ, triều đình chưa kiểm soát nổi. Các điền chủ thả sức làm ăn. Chế độ ruộng công lúc đầu không có. Theo Nguyễn Đình Đầu: "Việc tư nhân chiếm hữu mọi thứ tài sản, kể cả mua nô lệ là điều phong tục Việt Nam vốn ngăn cấm đã được tháo khoán không hạn chế. Do đấy chế độ công điền, công thổ không có điều kiện xuất hiện". Đến khi Nguyễn ánh bị Tây Sơn đánh đuổi chạy vào Nam, lấy đất này làm nơi "phục quốc", đồn trại mở thêm nhiều, lính tráng tập trung, buộc phải lập các đồn điền nuôi quân. Xuất hiện các đồn điền do triều đình cai quản, về sau cũng trao lại cho các làng. Đến đời Minh Mạng, việc chiêu dân khai hoang lập làng càng được tăng cường do triều đình nhận thấy rõ ích lợi của ruộng công. Đời Tự Đức còn cử Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược đặc trách việc chiêu dân làm đồn điền (7.1854) và tiếp tục khuyến dụ các điền chủ hiến 3/10 ruộng đất cho làng làm công điền. Số đồn điền do nhà nước cai quản cũng chia cho các làng và coi như ruộng công, nên số ruộng công đến thời Pháp thuộc mới còn được 1/5.


Vì thế, làng ở Nam Bộ ngoài việc khác làng miền Bắc về hình thức (không ẩn hiện trong lũy tre xanh, mà trải dài theo các kênh rạch), mà về cơ cấu dân cư cũng không chặt chẽ bằng. Người dân không chịu nổi cảnh áp bức của các điền chủ, họ rủ nhau tìm những miếng đất khác khai hoang lập chòm, xóm hay bỏ đi kiếm một nghề khác. Vì thế mà cơ cấu của làng lỏng lẻo hơn, không có phe giáp, không có phường hội, không có những lệ tục gò bó, người dân năng động hơn. ý thức về làng xã cho dù không sâu sắc bằng nhưng ở đâu họ cũng vẫn coi đó là nơi quê hương của họ, sống chết với nó. Họ cũng lại tiềm ẩn trong thâm tâm ý thức về nơi quê cũ ở miền Trung hay miền Bắc. Những người làm ăn khá giả, lập gia phả vẫn nhớ về dòng họ, về quê quán, có họ đã lập đền thờ vọng. ý thức về quốc gia dân tộc được thử thách. Cho dù thực dân Pháp xảo quyệt muốn lập xứ Nam Kỳ tự trị, người Việt Nam Bộ vẫn kiên trì chiến đấu cho một nước Việt Nam thống nhất.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
John Adam, Jr. - Tư liệu 13.09.2019
Nhà báo, nghệ sỹ nhiếp ảnh Lâm Hồng Long - Trần Mai Hưởng 12.09.2019
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (13) - Đạm Phương Nữ Sử 11.09.2019
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (12) - Đạm Phương Nữ Sử 11.09.2019
1954-1975: Quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam như thế nào - Tư liệu sưu tầm 10.09.2019
Bùi Thế Mỹ viết về văn Tản Đà - Tư liệu 02.09.2019
Hùn một tài liệu vào việc kỷ niệm nhà đại học giả Trương Vĩnh Ký - Huỳnh Thúc Kháng 02.09.2019
Di chúc Hồ Chí Minh: Những nghi vấn đặc ra từ văn bản - Nguyễn Thị Từ Huy 02.09.2019
Khái niệm “Hán Nhân” và “Hán Tộc” mới hình thành đầu Thế kỷ XX - Tư liệu 02.09.2019
Nhìn lại lịch sử: Thư của Hồ Chí Minh gửi TT Mỹ/ Phương châm hiếu hòa, đối thoại và "ngũ tri" với các nước lớn - Nhiều tác giả 30.08.2019
xem thêm »