tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24963290
07.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (27)

3. Vùng trung tâm: vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, duyên hải Trung Bộ, đồng bằng Nam Bộ. Tất cả ba vùng đều là dưới hình thức làng – nước, hay nước vua, mường bản, dân.


Sự khác nhau giữa ba vùng và trong từng vùng là do tính đa dạng về địa lý, về tộc người, do những nguyên nhân lịch sử tạo nên, thuận lợi cho người nghiên cứu thấy được rõ những tiến triển của toàn xã hội và những yếu tố cụ thể cấu thành, về vấn đề sở hữu tài sản, đặc biệt là sở hữu đất đai, về việc phân tầng giai cấp, về thiết chế xã hội.


Mới đến vùng Trường Sơn - Tây Nguyênai cũng có cảm tưởng đến với một vùng cách biệt với bên ngoài, từ lâu đời đã trải qua một cuộc sống phẳng lặng, yên ổn. Nằm giữa biên giới ba nước Việt - Lào - Campuchia, trên sườn núi cao dọc dải Trường Sơn và vùng cao nguyên Trung Bộ, rừng già phủ kín, ở đây sinh sống hơn 20 tộc người với hơn một trăm nhóm địa phương thuộc hai dòng ngôn ngữ lớn Nam á và Nam Đảo. Vùng đất này đã trải qua nhiều biến động lịch sử trong công cuộc chống thiên tai: dịch bệnh, mất mùa, thú dữ..., đặc biệt về phần xã hội lại bị giằng xé bởi những thế lực bên ngoài: Chămpa, Chân Lạp, Lào... ròng rã từ thế kỷ này qua thế kỷ khác. Dựa vào những ghi chép sơ sài đôi khi thiếu chính xác của các bộ chính sử, của các tác giả đương thời từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, dựa vào các bộ trường ca, các tập quán pháp, các truyện kể theo trí nhớ người già, ta có thể khẳng định thiết chế chính trị - xã hội vùng Trường Sơn - Tây Nguyên đã bị suy thóai. Những cư dân ở đây giữ được tính chung nhất của một cộng đồng thống nhất qua tên tự gọi là Tơmoi (Tamoi) để phân biệt với các cộng đồng xung quanh là Doan, Doắt (tức người Việt), Kur (người Khmer), Chăm và Lào. Nhưng giữa họ cũng đã trải qua những xung đột đẫm máu do muốn tạo cho tộc người bản thân một quyền lực, một lãnh thổ từng miền vượt ra khỏi vùng kiểm soát ban đầu hoặc do bị xua đuổi phải đi lấn chiếm tranh giành đất đai của tộc người khác. Nếu loại trừ những biến động dữ dội, từ khi thực dân Pháp có mặt ở đó, vào cuối thế kỷ XIX, có thể nói rất ít tộc người vùng Trường Sơn - Tây Nguyên không có sự chuyển dịch nơi cư trú, chuyển dịch cả cộng đồng, một bộ phận, một buôn làng. Nếu so sánh với các tộc người vùng Nam Lào trên cao nguyên Bôlôven vùng Salavan và Attôpơ, ta thấy ở Trường Sơn - Tây Nguyên, đến ngày trước Cách mạng tháng Tám, đã mất đi những tổ chức nhà nước sơ khai, chỉ tồn tại trong trí nhớ người già hay trên danh nghĩa, tương ứng với các nhóm địa phương như tring Giơ Lơng (Ba-Na) ở Kon Plông, tring Chu-Chreo (Gia-Rai) ở Ayun Pa, vết tích của ba ông vua: vua Lửa, vua Nước và vua Gió ở Chư Prông và Ayun Pa xưa là phiên quốc của triều đình Việt Nam (XVII-XIX), lại được Vương quốc Campuchia nộp cống vì lí do tôn giáo, cũng có thể vì muốn giữ Tây Nguyên là vùng đệm đối với triều đình Huế. ở vùng người Cơ Tu, tồn tại những chrval một hình thức liên minh giữa các làng. Trong khi đó tổ chức tring (hay kring, kriêng, tà liềng, krung, kơniêng...) còn phổ biến ở Nam Lào, tương ứng với một tộc người hay một bộ phận tộc người cho dù một số nơi đã đồng nhất dưới hình thức tổ chức chính trị - xã hội của người Lào.


Đến cuối thế kỷ XIX, ở Trường Sơn - Tây Nguyên đâu chỉ


thấy các đơn vị hành chính duy nhất là buôn, plây, weel như hiện nay... mà còn thấy các tring, các chrval với sức sống của nó, quyền lực vượt ra ngoài một làng. Đứng đầu tổ chức này là một tù trưởng của một làng mạnh, giàu có, đông dân, được phóng đại trong các bản trường ca của bất cứ tộc người nào, thuộc về những tộc người lớn. Mỗi tộc cũng có tới ba, năm, bảy, có khi hàng chục tù trưởng lớn mạnh. Những tù trưởng đó lại có tài chiến đấu, được các vị thần linh phù hộ, tập hợp các làng cùng tộc đôi khi khác tộc xung quanh, để tổ chức thành một liên minh với một hội đồng những người chủ làng mà họ là chủ tring, với những người giúp việc sản xuất, sử kiện, chiến tranh, tôn giáo... Những tring đó có thể là những làng kết nghĩa, có thêm các làng bị chinh phục, chịu lệ thuộc, khi có chiến tranh có thể tạo nên những liên minh rộng lớn hơn, nhưng nó chỉ là một liên minh tạm thời và không cố định bao gồm các bộ phận tự quản tập hợp vì mục đích chiến đấu trong một thời gian nhất định.


Vì vậy, ta mới thấy xuất hiện các liên minh lớn mạnh như Xơ Đăng - Rơ Ngao, sau bị Marie de Mayréna tiếm quyền tự xưng là vua Xơ Đăng với quốc hiệu, quốc kỳ, hiến pháp, quân đội; liên minh Ba Na, sau là Ba Na, Rơ Ngao được sự hậu thuẫn của Nhà thờ Pháp; các liên minh Gia Rai như Tring Chu Chreo (Ayun Pa), Sa Gâm (Krông Pa), Hơ Drung (thị xã Plây Cu, Chư Prông, Măng Giang); liên minh những nhóm Mnông (tỉnh Đắc Nông) và Stiêng do Nơ T’rang Lơng cầm đầu đánh Pháp đến năm 1935 mới thất bại; liên minh Cơ Ho Đ'rông; liên minh Ê Đê gồm 3 thị tộc Kpơr, E Ban, Buôn Đáp; liên minh các tù trưởng Stiêng liên quan đến các nước Bà Lị, Thị Nại, Xích Thổ; liên minh Cà Dòn liên quan đến một vương quốc Mạ mà H. Maitre nhắc đến. Đó là chưa kể xưa nữa đến liên minh Ba-Na vùng An Khê, Con Hà Nừng với bà vợ ba Nguyễn Nhạc làm hậu cần cho quân Tây Sơn, sau của con cháu tù trưởng Xu với 5 plây tách từ plây Xu( v.v...…


 Khi Pháp đặt chân lên Tây Nguyên, nổi lên những tù trưởng nổi tiếng từng vùng như Nơ T’rang Lơng người Mnông (Đắc Nông); Khun Yanob tức Khun Thuh ở Bản Đôn; Me Sao tức Y. Yêne người Kpạ được coi là vua Mọi danh tiếng toàn Đắc Lắc qua Khánh Hòa, Phú Yên cuối đời bị Pháp sát hại; Ama Wal ở buôn Chấp, Chư Mgar; Ama Sô ở buôn Đring, Ama Thuột ở Buôn Ma Thuột; Ngeuh (Mnông) đánh Lào và Pháp; như Krui, người Ba Na được Marie đệ nhất cho làm chủ liên minh, rồi được Pháp cho làm đại diện một vùng Kon Tum; như Kiêm, người Ba-Na được triều đình Huế coi là đại diện; như Sam, San, Yơm... Đó là chưa kể Xăm Brăm, tù trưởng Hrê sau theo cách mạng đứng đầu phong trào nước Thần, một phong trào mang tính tôn giáo chống Pháp; ba ông vua: vua Lửa, vua Nước, vua Gió, mà Ơi át, ông vua ở Ayun Pa đã giết chết Odend'hal.


Có thể nói hình thức liên minh các buôn làng hay các tring là phổ biến, được tổ chức dưới hình thức quân sự, nên nếu hình thức dân chủ quân sự như L.H. Morgan và Ph. Ăngngen thấy, tuy không có tính phổ biến toàn thế giới, nhưng đã biểu hiện khá rõ ở Trường Sơn - Tây Nguyên trong thời kỳ quá độ tiến sang xã hội có giai cấp. Rất tiếc, những tring đó bản thân chưa gắn liền với một lãnh thổ cố định, với một hệ thống tổ chức chưa chặt chẽ, lại bị thực dân Pháp triệt phá vai trò của các thủ lĩnh lớn, có chăng bổ nhiệm một số vào những chức chánh tổng, lí trưởng, định ra một hệ thống hành chính không dựa trên cơ sở truyền thống. Nên hiện nay, không có một tài liệu nào mô tả tổ chức liên minh hay tring một cách cụ thể, chỉ biết rằng tổ chức đó mang tính quân sự là chủ yếu, thiếu hẳn ý thức xây dựng thành một trung tâm kinh tế chính trị.


Các buôn, plây còn tồn tại đến nay một số cũng bị chuyển dịch, xê dịch, tụ lại hay phân tán, hiếm thấy còn đứng trên mảnh đất của ông, bà. Tổ chức của buôn, plây với tập quán pháp (hay luật tục) trên thực tế cũng đã thay đổi, nhưng vẫn giữ được những nét cơ bản trên đại thể. Với một xã hội đã qua sản xuất nông nghiệp, cho dù mới ở giai đoạn sơ khai, đất đai (lăn, tơneh, teh...) vẫn là cơ sở để một buôn, plây, weel định cư. Với người Trường Sơn - Tây Nguyên, đất không chỉ là nơi chôn nhau, cắt rốn, là nơi nuôi ta suốt đời bằng các cây cỏ tự nhiên, bằng các chim, thú trong rừng, con cá dưới sông suối, mà còn là nơi ta trồng trọt "nhờ sữa mẹ để nuôi ta", nơi ta khi "về" gửi nắm xương tàn", là "cái nong, cái nia, là cái lưng của ông bà, tổ tiên". Đất lại còn cùng với Trời là cặp đôi sinh ra loài người, các tộc người, là nơi trú ngụ của các thần linh và các vong linh tổ tiên. Nên đất là nguồn sống, là linh thiêng. Thần Đất (yang Lăn, Tôneh..) bao trong mình các vị thần cụ thể: thần sông, suối, thần núi, thần gò đồi, thần rừng thần nương, ruộng, thần cây, thần đá, thần hang động, gắn chặt với vận mệnh buôn làng. Với Đất thuộc buôn làng lại là mảnh đất cụ thể do ông bà truyền lại, con cháu phải gìn giữ. Đó là lăn buôn hay lăn aga bon, là tơneh plây hay teh plây, là ku weel, tùy theo tộc người, là xứ sở của cả cộng động và của từng cá nhân. Khái niệm hồn mngắt, mngol... của từng người không dừng lại ở xác, mà lan toả ra khắp các vật, các cây cỏ, các muông thú... được tiếp xúc trực tiếp nên đã gắn con người vào xứ sở của buôn làng. Vì vậy ta mới hiểu được hình thức xử phạt nặng nhất đối với người Trường Sơn - Tây Nguyên là tội bị đuổi ra khỏi làng, sống như con thú bơ vơ, như con chim không tổ, cô đơn, chết là con ma không bao giờ trở về với cộng đồng.


Người pôlăn (Ê Đê), tơm bri (M’nông) được cử ra coi giữ, kiểm tra đất đai của làng là một con người trước hết đại diện cho thần linh, nặng về thần quyền, nên ta không lấy làm lạ, con người cố kết thành buôn làng là cố kết trên cơ sở mảnh đất cùng chung sống, không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần, tôn giáo. Về quyền lợi họ được là thành viên của cộng đồng, là đồng sở hữu không chỉ đất đai mà tất cả cái gì là sản phẩm của đất đai, được trở về thế giới với ông bà, tổ tiên, với các thần linh. ý thức đó thể hiện rõ nét trong một số lễ thức, ví dụ sau mùa thu họach, cả buôn làng sống trở lại với tổ tiên, thần linh trong một thời gian nhất định bằng săn bẫy, lượm bắt, theo cách sống của người xưa, hú gọi vong linh ông bà, các siêu linh về dự chuỗi ngày lễ hội cùng con cháu trong chuỗi ngày tết tại buôn làng (Xơ Đăng,Gié Triêng) hay trở lại sống trong hang một thời gian nhất định (Mã Liềng, Rục...).


 Người chủ đất pô lăn hay đúng hơn là pô rông lăn (Ê Đê) - là người coi sóc ranh giới đất đai của làng, chỉ có trách nhiệm thờ cúng, mong mưa thuận gió hòa, giải quyết những xung đột đất đai giữa những người trong buôn hay giữa những buôn mà mình có trách nhiệm, hoặc đứng ra làm lễ hiến sinh các thần linh và xử phạt những kẻ phạm tội loạn luân, cùng với chủ làng bảo vệ luật tục và tránh những tai họa giáng trả của thần linh. Pô lăn cũng có trách nhiệm phân xử trường hợp đất làng bị vi phạm. Quyền lợi của họ trên thực tế là hạn chế, ngoài số hiện vật được biếu khi


đi kiểm tra hay hành lễ, ở tộc người Ê Đê, luật tục cho phép họ được hưởng những cây ktơng hay kjar, những cây ong mật hay về làm tổ.


Người chủ làng thường ban đầu là một trong những người chủ nóc, hợp với các chủ nóc khác thành một tập thể coi sóc việc làng. Nhiều nơi người chủ làng cũng chưa có thuật ngữ riêng để gọi, chỉ gọi chung là già làng (krạ plây). Sau làng đông người, có thế lực mới bầu một chủ nóc đông người làm chủ làng (tơm plây) hay chủ làng (kăn plây, takah weel, quăng bon...). Những chủ làng và chủ nóc này điều hành công việc trong làng. Quyền sở hữu đất đai của làng thuộc về từng nóc, từng dòng họ, cả làng, ai có sức thì khai phá, có điều tuân thủ lệ làng không bỏ phí, không lấn chiếm, không cho người làng khác đến xâm canh, nên ở đây chưa thấy có hiện tượng chiếm đất để bóc lột.


Đôi khi xuất hiện sự giao tranh giữa các làng, quyền lực tập trung vào các tù trưởng lớn, uy thế lan ra một vùng, những mtao, những mđrông. Xuất hiện những người dân các làng nhỏ bị lệ thuộc vào một làng lớn do một tù trưởng lớn cầm đầu... Xuất hiện những tổ chức kết bạn giữa các làng không chỉ vì mục đích dựng vợ, gả chồng, vì lí do tôn giáo, mà vì mục đích tự vệ hoặc cướp phá các làng. Đó là kết quả của sự phát triển khách quan, nhưng cũng do bị kích động bởi những chợ buôn người phổ biến ở miền Tây Đông Dương trong những thế kỷ XVIII – XIX.


 Vì vậy, ta đã thấy trong làng đã có sự phân hóa giàu nghèo, đã thấy những nhà giàu trong đó có người tù trường cực giàu, với quyền lực rộng lớn, những người dân đủ ăn hay thiếu ăn chút ít, những người nghèo và người "gia nô" hay "dân lệ thuộc".


Tác giả tạm tổng kết theo tên gọi nhặt trên sách vở của các tác giả khác để tham khảo, tất nhiên những tên gọi đó cũng cần thẩm tra lại do phần đông tác giả không biết tiếng địa phương và các tộc người cũng chưa có cách phiên âm thống nhất.


Sơ đồ II : Các tầng lớp nhân dân thiểu số


Sơ đồ II Ê Đê


Gia Rai  Ba Na


Xơ Đăng Hrê   Cơ Tu Stiêng          M’nông


Cơ Ho   Chú dẫn


Giàu mạnh      mtao(1) mđrông chiêng chăt      mđrông tí, đol                 bu kuông     nơ rông (1) mtao: giàu có và có quyền hành như tù trưởng, vua lửa…


Giàu      mdrông       mđrông        kavan bu khủng     nơrông chau pa    


Đủ ăn    kđắp  gắp ca, lắp cha, gắp troong ca cabhổ (ca pôh)                        


Nghèo   bua, bua rin xa pạ, pa, nan đnú, đu né         đrhứt  alươi  chau rơpah 


Gia nô, lệ thuộc        hlun    đích, tẽc, đich-đăm(2), ha pong          kon đeh       chau đe, đí (2) đăm là người phải đi ở làm thuê không hẳn là gia nô đầy tớ, khác người lệ thuộc là ở làng khác phải làm cho chủ theo phân công.


Những nhà giàu, thật ra cũng chưa thể tách ra thành một hạng người đứng trên cộng đồng buôn làng, vì họ vẫn chỉ là thành viên gắn chặt với một cộng đồng nhất định, với quyền sở hữu đất đai cộng đồng. Giá trị thực của họ là do lao động nên để trở thành một mđrông, một kavan hay một chẩu pra, trước hết họ phải là chủ một nóc có đông con cháu, đông lao động, từ đó cũng có kinh nghiệm tổ chức sản xuất trên một mảnh đất chiếm dụng của buôn làng. Với một chút may mắn, như mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, lên rừng được những sản vật quý, đi buôn trúng quả, họ có điều kiện mở rộng quan hệ không chỉ trong buôn mà còn sang các buôn khác bằng các hình thức kết nghĩa nhằm phô trương thanh thế, tổ chức được các lễ thức đúng với phong tục vào loại to nhất làng: cưới xin, ma chay, khoản đãi dân làng khi gia đình có việc hay có điều kiện tương trợ những gia đình dân làng khi thất cơ lỡ vận. Tất nhiên, họ đủ điều kiện ở trong những căn nhà khang trang, có nhiều chiêng, ché, vải, nồi đồng, trâu, đồ trang sức... những tích luỹ phi sản xuất, ăn mặc tươm tất... Họ có điều kiện thu nhận những người góa bụa, con côi, người nghèo khổ, thảng hoặc mua các tù binh hay thu nhận những người vỡ nợ, hoặc lợi dụng hình thức đổi công tất nhiên có lợi cho người lắm ruộng nhiều rẫy, hay cũng nhận được nhiều biếu xén do uy tín tự có và tí chút vì quyền hành của bộ máy hành chính trong làng với tư cách người chủ làng hay chủ nóc...


Đúng là "không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời", như Anne de Hautecloque - Howe nhận xét ở người Ê Đê, nhưng cũng đúng với người Trường Sơn - Tây Nguyên là rất ít thấy có người giàu cha truyền con nối. Một gia đình đủ ăn, nếu gặp may mắn dễ trở thành mđrông và cũng dễ tụt xuống làm người nghèo. Một gia đình giàu có, nếu nhỡ bước, tai họa giáng xuống (thiếu lao động, bệnh tật, chết chóc, mất mùa...), thường được quan niệm là thần linh không phù hộ thì cũng lại xuống tầng lớp đủ ăn, thậm chí nghèo khổ.


Cho dù trong một xã hội đã phân hóa giàu nghèo, khó đã có thể nói ở đây đã xuất hiện sự phân hóa giai cấp. Người nông dân đủ ăn hay nghèo khổ, tự lao động, tự hưởng, ngoài một phần đóng góp với tư cách người "công dân", lại chiếm đa số, nếu không nói là tuyệt đại đa số dân trong buôn làng. Những tù binh bị bắt, những người bị gán nợ, những người góa bụa, con côi, tàn tật... (với xã hội cũ bị coi là người không làm tròn trách nhiệm làm người) bị gán xuống tầng lớp lệ nông hay gia nô (đik, hlun, téc...) cũng sẽ được coi như người nhà, cũng dễ được giải phóng. Họ không gắn bó cả đời, thậm chí cha truyền con nối, như tầng lớp cuông, nhốc, côn hươn... ở chế độ phìa tạo sẽ trình bày sau. Nên nếu như chính phủ Pháp có chủ trương huỷ bỏ chế độ nô lệ ở Trường Sơn - Tây Nguyên, thì chưa chắc đã mang lại lợi ích cho người đầy tớ. Tập tục cho phép họ nhiều khi ngồi hút thuốc, uống rượu cùng chủ, trong khi bà chủ nhà cùng các thành viên nữ lại vẫn sấp ngửa lao động hay nấu ăn. Đó là do việc phân công lao động theo giới còn duy trì chặt chẽ.


 ở đây cũng cần lưu ý hiện tượng thuê mướn nhân công làm theo từng vụ việc trong sản xuất hay dịch vụ trong nhà đã phổ biến, nhưng không mang tính thương mại giống như ở các xã hội trình độ phát triển cao, lại có khi mang tính tương trợ giúp đỡ vì công xá trả bằng sản phẩm lại rất cao. Ví dụ, gặt một mảnh rẫy chủ và người làm mướn được chia đôi số thóc; cho nuôi rẽ một con vật, ngoài con mẹ cho mượn, các con con đẻ ra đều chia đôi cho đến khi người thuê trả được con mẹ; bóc một cây quế, sản phẩm cũng được chia đều, chủ và người bóc thuê mỗi người một nửa.


Nguy hiểm là tập quán chia đôi này hiện nay đang bị một số kẻ khác tộc lợi dụng cho thuê đất trồng lấy tô 50%, chí ít 30%, cho vay tiền, lương thực cũng vậy, nhưng chỉ tính theo hạn từng vụ mùa như xưa.


Đáng chú ý là sự xuất hiện những tù trưởng lớn uy tín vượt ra khỏi buôn, quyền lực toả ra toàn bộ một tring hay một liên minh các tring hay của một số buôn làng là kết quả của những cuộc tranh chấp quyền lực giữa các tộc người, các buôn làng lớn, dưới hình thức dân chủ quân sự trong quá trình xây dựng nhà nước sơ khai. Những mđrông, pđrông hay mtao (mà nhiều tác giả dịch là vua) mà người Ê Đê gọi là m.chiang chăt, người Ba Na, m.tí, người Xơ Đăng, m.đol, người Cơ Ho, M’nông, nơ rông..., những người có duyên nợ được kết nghĩa với một thần linh hay nhiều thần linh: thần các con vật như kền kền, diều hâu, phượng hoàng, ong, thần sông thậm chí thần biển, thần cây đa, cây si, đặc biệt là thần núi, thần sét... ở người Ê Đê, Anne de Hautecloque - Howe có nói đến thần rắn nước (anak rai) được mô tả như một con rồng (có lẽ là thuồng luồng - ĐNV) nhả ra từ miệng một viên ngọc boh hriêl lên một mảnh vải trắng hay một loại cây trỉa mđuôt mà tác giả gọi là loại cọ đầm lầy: borassus.


Các tù trưởng kết nghĩa với thần nhằm làm tăng thêm sức mạnh bản thân, làm cho hồn, vía cứng mạnh. Người Ba-Na có khái niệm vía - ai cạnh hồn - mngol, lại coi vía là sức mạnh của họ đủ sức kết giao với các thần linh qua những lần gặp gỡ, chuyện trò (qua mộng mị) hoặc để được thần tặng một vật thiêng (đmoong) có thể là rìu đá, rìu đồng, hòn đá có hình thù kỳ dị lượm được trong trường hợp đặc biệt. Người được kết nghĩa không hẳn đã là những tù trưởng, nhưng rõ ràng là một người bất thường, tình cờ gặp thần phù hộ trở nên giàu có, tài ba, có sức thuyết phục người khác, nói tóm lại có một cái uy làm mọi người kính nể. Thần giúp cho người đó có thể làm được những việc cấm kỵ với người khác ví dụ như dùng một nhạc cụ hơi như đung nam, kipah hay đing buôt thường không được phép dùng trong làng, nhưng kèm theo một hiến tế đặc biệt ít người có thể bắt chước. Các vị thần thường trú ngụ trong các vật thiêng càng nhiều càng tốt, đựng trong túi đeo bên người hay đặt ở một chỗ trang trọng trong nhà, hoặc trú ngụ trong các ché quý làm giá trị chiếc ché tăng lên gấp chục lần, ví dụ hàng chục con trâu.


Để tỏ ra là một tù trưởng lớn, vừa nhằm tăng uy thế với xã hội, vừa nhằm được lòng các thần linh phù trợ, các tù trưởng buộc phải giao du kết bạn rộng rãi, tổ chức nhiều lễ hiến tế, nhà có nhiều lao động: người thân thuộc, các gia nô hay kẻ lệ thuộc được coi như người trong nhà, lấy nhiều vợ gốc ở những nhà giàu có, danh giá, thu nhận người cơ nhỡ, liên minh với các tù trưởng lớn trong vùng, buôn bán với những thương lái khác tộc từ miền xuôi đến hay từ Lào, Miên sang. Họ phải luôn gây ra những cuộc chiến tranh để tăng uy thế, từ đấy, có nhiều làng lệ thuộc phải cung phụng trong chiến đấu, trong lao động sản xuất.


Tất nhiên, trong hoàn cảnh xã hội sống chủ yếu bằng nông nghiệp, ở vùng núi rừng "ma thiêng, nước độc", lắm bạn cũng nhiều thù, trong đời một con người, những tù trưởng cũng trải qua các thời kỳ suy thịnh, rủi may, thành công, thất bại, năm nay thời vận lên, mai đây hạn lại đến. Sự thay đổi đó họ coi không phải do bản thân, mà phụ thuộc vào thần linh. Để lấy lòng thần thánh, anh phải hiến tế cho thần; càng hậu, thần càng phù hộ. Nhưng lòng tham của thần cũng lớn, nếu để thần không vừa lòng, thần sẽ trả thù, nhưng không phải ngay tức khắc. Nếu anh đang là chủ làng được tín nhiệm, đang giàu có, đang có nhiều lao động, thực tế sao anh sa sút ngay được (trừ trường hợp tai họa trên chiến trường và cũng ít xảy ra vì những loại vũ khí còn thô sơ, vì hiếm có chuyện đánh lén). Người ta giải thích, thần sẽ trả thù anh dăm bảy năm sau, hoặc nếu không kịp trả thù, thì con cháu anh sẽ hứng chịu.


Đó là do những liên minh các buôn làng không cố định, tổ chức trên làng cũng lỏng lẻo. Các làng vẫn giữ tính độc lập, cho dù là các làng lệ thuộc. Con người cũng không nhất thiết đời nọ tiếp đời kia thuộc về một tầng lớp nhất định. Những tù binh, những kẻ sa cơ lỡ vận dù thuộc tộc người khác, khi xin nhập vào một làng nào đó, hoặc phải đổi tộc thuộc. Làng là một khối thống nhất. Vì vậy, chiến tranh qua đi, các tổ chức buôn làng cho dù thay đổi chỗ ở, thậm chí thay đổi cả thành viên, thì vẫn là một làng kết cấu như cũ với một tên gọi, một lãnh thổ, với một ranh giới với các nóc, các gia đình cùng tộc.


Nếu không có sự can thiệp của thực dân Pháp biến dần các tù trưởng mạnh thành những công chức nhà nước, hoặc loại bỏ trong trường hợp chống lại chúng như các vị anh hùng chống Pháp mà Nơ T’rang Long là tiêu biểu, không xóa bỏ các tổ chức trên làng, chắc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên cũng đã phải có một tổ chức chính trị - xã hội cao hơn với nhiều phương thức sản xuất thường thấy ở các vùng khác trên đất nước. Nhưng lịch sử làm gì có chữ nếu. Tổ chức Trường Sơn - Tây Nguyên tồn tại đến Cách mạng tháng Tám chỉ với một tổ chức xã hội duy nhất là buôn, plây, weêl, với những thị trấn, thị xã, thành phố đa phần người khác tộc cư trú, khó có thể nói đó là một bộ phận của xã hội cổ truyền Trường Sơn - Tây Nguyên.


Như vậy, ta có thể thấy những đặc trưng của xã hội truyền thống Trường Sơn - Tây Nguyên như sau:


1. Mặc dù có nhiều chứng cứ cho thấy vào thế kỷ XVIII-XIX, ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã xuất hiện tổ chức xã hội trên buôn làng, một hình thức tiến tới một nhà nước sơ khai, đến trước Cách mạng tháng Tám, với sự kìm kẹp của thực dân Pháp, cơ sở duy nhất và cơ bản nhất của Trường Sơn - Tây Nguyên vẫn là buôn làng với quyền sở hữu đất đai cộng đồng. Chưa thấy xuất hiện quyền tư hữu đất đai trong xã hội truyền thống. Chưa thấy phát sinh từ xã hội đó những trung tâm kinh tế - xã hội, từ đấy có thể phát triển thành những đô thị, thậm chí còn chưa thấy có chợ búa. Cũng vì vậy, ta thấy, con người truyền thống khó tách rời nơi chôn nhau cắt rốn của mình là buôn làng. Những gia đình tù trưởng lớn thất thế lại trở lại làm dân, nếu không trở thành một viên chức của Pháp.


2. Hình thức sở hữu phổ biến vẫn là theo phương thức công hữu của toàn thể buôn làng chồng lên quyền sở hữu đất đai dưới dạng chiếm hữu và sử dụng của từng nông dân, cùng chịu cống nạp với một tổ chức xã hội cao hơn (các tring, các liên minh buôn làng, hay thông qua đó với triều đình, với chính quyền thực dân Pháp). Việc dành cho các chủ đất ở người Ê Đê các tổ ong để lấy sáp, lấy mật, việc thu sừng tê giác, ngà voi khi có yêu cầu của triều đình, chứng tỏ sự cống nạp của toàn dân thông qua người chủ buôn làng. ở đây cần chú ý, do đất đai thừa dư, trong nội bộ buôn làng chưa có sự tranh chấp, chủ đất (pô lăn) hay chủ làng cũng chưa phải là người đại diện cho quyền sở hữu đất đai, mà đất đai được người dân quan niệm là của giàng, của thần linh, khác với ở chế độ phìa tạo hay chế độ cống nạp của triều đình, ở đó chúa đất và nhà vua là đại diện cho quyền sở hữu đất đai, hay nói cách khác chúa đất, nhà vua đã tự đồng nhất mình với lãnh thổ, với mường, với đất nước. Đã thấy nhưng chưa nhiều các phương thức bóc lột khác. Việc thu nạp những của quý trong rừng của dân có phần để các tù trưởng trao đổi với các thương nhân cũng chưa được coi là phương thức tư bản thương nghiệp.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Toàn văn điếu văn của cựu tổng thống Bush tại lễ tang cha - Tư liệu 09.12.2018
Tự bạch của cụ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha & Thư Tuyệt mệnh gửi Hồ Chủ tịch - Thiều Chửu 08.12.2018
Thư tuyệt mệnh của Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha gửi Hồ Chủ tịch - Thiều Chửu 08.12.2018
Tỉnh Trà Vinh - Tư liệu 05.12.2018
Danh sách Tướng Công an bị vướng vòng kỷ luật và lao lý... - Nguyễn Thế Thanh 05.12.2018
Chuyện biệt thự ông Tố Hữu, bây giờ mới kể - Quốc Phong 03.12.2018
Thư Nguyễn Khắc Viện gửi Tố Hữu - Nguyễn Khắc Viện 02.12.2018
Bài học dạy con trứ danh của cố Thủ tướng Đài Loan - Tôn Vận Tuyền (Sun Yun-suan) 29.11.2018
Một thời ấu trĩ quá hóa sai lầm nghiêm trọng! - Đánh tư sản - Huy Đức 27.11.2018
Quyền tự chủ chính trị - Từ bị kịch dân tộc Ukraina, nghĩ về tình huống dân tộc ngày hôm nay - Tư liệu sưu tầm 26.11.2018
xem thêm »