tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24334412
06.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (26)

Hai là, con đường dựa trên sở hữu tư nhân


Nếu con đường dẫn đến phương thức sản xuất cống nạp, phổ biến ở một phần rộng lớn trên toàn cầu là dựa vào mối quan hệ sở hữu công cộng, vắng bóng sở hữu cá nhân một cách đầy đủ,


thì con đường thứ hai dẫn đến một loạt phương thức sản xuất: Giéc-manh, nông nô, nông dân, thủ công, tư bản thương nghiệp... đều dựa trên mối quan hệ sở hữu tư nhân, ở đấy quyền sở hữu tư liệu sản xuất, đặc biệt là ruộng đất và các công cụ lao động thuộc về một cá nhân.


Dưới chế độ xã hội nguyên thủy không giai cấp, trong giai đoạn điển hình của nó, ta thấy tất cả các tư liệu sản xuất hay nói đúng hơn là đất đai, lãnh thổ dùng để săn bắt và đánh bẫy đều thuộc về công xã thị tộc. Con người được phân công lao động một cách hợp lý theo giới, theo tuổi, được làm tùy theo sức lực, được hưởng thành quả lao động của bản thân với sức đóng góp mang tính tập thể. Có thể nói đó là một xã hội "mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người", một xã hội hoàng kim nguyên thủy. ở đây vắng bóng quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Đúng như C. Mác viết trong bức thư gửi Vera Daxulitx (1881): "Kiểu sản xuất tập thể hay hợp tác nguyên thủy đó đương nhiên là kết quả của sự yếu đuối của cá nhân, chứ không phải là của việc xã hội hóa các tư liệu sản xuất".


XÃ hội nông nghiệp vào giai đoạn mạt kỳ có sự lũng đoạn của một tầng lớp có quyền lực, cùng với sự tách riêng việc canh tác từng mảnh đất đã nảy sinh sự phát triển của cá tính, song song với việc lao động sản xuất tập thể, có thể có khả năng dẫn đến sự tan rã của các công xã nông thôn, không giống như ở phương thức sản xuất cống nạp. Đó có thể là do sự xuất hiện giai cấp từ tầng lớp nắm quyền lực và giàu có biến ruộng đất trồng trọt hay bầy súc vật thành tài sản tư hữu, bóc lột người đồng tộc, từ đó phát triển cộng đồng thị tộc - bộ lạc thành dân tộc, thành quốc gia,


đế chế. Bộ phận thống trị nắm quyền sở hữu các tư liệu sản xuất đi đôi với nó là quyền chính trị, tôn giáo; bộ phận bị trị là những người trực tiếp lao động sản xuất, những công dân tự do, những nô lệ - tù binh chiến tranh, và người vay nợ không trả được phải gán thân. Đó là bộ mặt của châu Âu trong thời kỳ tan rã của đế quốc La Mã cùng với cuộc thiên di lớn của người Giéc-manh. Ta đã thấy sự quá độ của chế độ sở hữu công cộng sang chế độ sở hữu tư nhân. Trong hoàn cảnh lịch sử và địa lý cụ thể, bộ máy thống trị - Nhà nước - đã có đầy đủ sức mạnh để phá nát công xã nông thôn không cho chúng tồn tại như thời nguyên thủy hay như ở phương thức sản xuất cống nạp.


Đúng như M. Godelier phân tích, chính cái sức mạnh của một nhà nước tập trung trong tay cả thế quyền và thần quyền kết


hợp với sức mạnh của các đơn vị cơ sở - các công xã nông thôn bền chặt - đã đưa một bộ phận thế giới loài người sớm bước vào thế giới văn minh. Những tư liệu lịch sử cho thấy suốt một vùng chạy dài từ miền ven Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, ấn Độ, Trung á đến Đông á và Đông Nam á, đã sớm bước vào giai đoạn hình thành nhà nước, với những trung tâm trồng trọt, những hệ thống tưới nước nhân tạo to lớn. Sự trì trệ của phương thức cống nạp như C. Mác và Ph. Ăngghen nhận thức chỉ có thể đúng trong giai đoạn con người ở đó bước chân vào xã hội công nghiệp với chủ nghĩa tư bản. Theo T. Needman mà M. Godelier trích dẫn thì một số xã hội cống nạp, như Trung Quốc đến tận đầu thế kỷ XVI còn tiến bộ hơn cả xã hội phương Tây. Chẳng hạn, sự phát triển của khoa học ở Trung Quốc cho tới thời kỳ Phục hưng của châu Âu, đã có những khoa học thực nghiệm mà châu Âu chưa hề biết tới.


Theo C. Mác và Ph. Ăng ghen, có thể các phương thức sản xuất dựa trên quyền sở hữu tư nhân xuất hiện muộn, không trực tiếp với phương thức nguyên thủy như phương thức sản xuất châu á.


Loại sở hữu tư nhân đầu tiên phải kể đến, được C. Mác gọi là hình thức sở hữu cổ đại là loại mà các nông dân tập hợp "ở một địa điểm dân cư trung tâm" được gọi là đô thị hợp thành những công xã một cách ngẫu nhiên, được "bảo vệ theo tổ chức quân sự". Công xã ở đây được xây dựng trên cơ sở những người tiểu nông (tôi nhấn mạnh - ĐNV) sở hữu mảnh đất của mình, chỉ quan hệ với nhau bằng việc sử dụng chung ager publicus - những mảnh đất công cộng không thể phân chia được: rừng, đồng cỏ, đường sá, nơi thờ tự, nghĩa trang... Đó là dạng sở hữu quirites của sở hữu La Mã đối với những công dân tự do. Đó cũng là những nông dân có ruộng tư của các xã hội sau này.


c) Bên cạnh đó là hình thức sở hữu Giécmanh, hình thức của những người nông dân cũng thuộc đế chế La Mã, không tập trung vào những trung tâm, những thành phố, mà ở nông thôn, được toàn quyền sở hữu mảnh đất riêng của mình giống như những công dân La Mã cư trú ở các trung tâm, các đô thị. ở đây ta cũng thấy công xã không phải một tổ chức thống nhất cho dù những thành viên của nó là những người cùng cư trú trên một lãnh thổ, thậm chí cùng một huyết thống. Công xã chỉ là nơi các thành viên tụ họp khi cần thiết vì những lí do không trực tiếp đến việc sản xuất. Phải chăng đó cũng lại là do những thành viên trong công xã, những chủ sở hữu tư nhân, không bị ràng buộc với nhau bằng một công trình trực tiếp phục vụ cho sản xuất, ví dụ như hệ thống thủy lợi, vì họ sinh sống bằng chăn nuôi gia súc theo đàn và canh tác trên các mảnh ruộng khô, mà nguồn nước tưới phụ thuộc vào lượng tuyết tan nhiều hay ít.


Hai loại người tiểu nông này, số phận có khác nhau, gánh những nghĩa vụ với đế chế La Mã khác nhau bằng binh dịch, bằng thuế khóa, nhưng đều là những chủ sở hữu tư nhân, tự bản thân trực tiếp gánh trách nhiệm với nhà nước. Họ đều là người lao động đồng thời là người sở hữu tư liệu sản xuất và được hưởng sản phẩm làm ra với điều kiện làm tròn trách nhiệm là người công dân hay người lệ thuộc.


Như vậy ta có thể tóm tắt đặc trưng của phương thức nông dân hay tiểu nông thể hiện trên hình thức sở hữu cổ đại hay Giécmanh như sau: "Rõ ràng là chế độ sở hữu tự do của những người nông dân tự canh là hình thức bình thường nhất của chế độ sở hữu ruộng đất đối với nền sản xuất nhỏ, nghĩa là đối với một phương thức sản xuất trong việc có ruộng đất là điều kiện cho phép người lao động trở thành kẻ sở hữu sản phẩm lao động của mình, và trong đó người canh tác - dù anh ta là người sở hữu tự do hay là bị lệ thuộc - bao giờ cũng phải, cùng với gia đình anh ta, sản xuất ra các tư liệu sinh họat của mình với tư cách là người lao động độc lập và riêng lẻ. Quyền sở hữu ruộng đất cũng cần thiết để cho phương thức sản xuất này có thể phát triển một cách đầy đủ, như quyền sở hữu những công cụ đối với sự phát triển tự do của nền sản xuất thủ công".


Hai phương thức này đều có mặt trong tất cả các phương thức sản xuất tiền tư bản.


Loại hình thức sở hữu thứ ba là hình thức sở hữu nô lệ, ở đây người trực tiếp sản xuất là một phần của những tư liệu sản xuất, bản thân người sản xuất làm nô lệ cho chủ kể cả nhân thân của mình và gia đình. Đó là món quà tặng cho người chủ sở hữu có một công tích gì với đế chế, với nhà vua. Theo C. Mác, chế độ chiếm nô phải xuất hiện muộn hơn chỉ khi quyền tư hữu được xác lập, nguồn cung cấp nô lệ hoặc từ các tù binh của những quốc gia, những bộ lạc bại trận, hoặc từ những con nợ không trả được, chúng trở thành một thứ hàng hóa, ban đầu phục vụ công việc trong gia đình, sau làm việc trên đồng ruộng và các ngành nghề. Nó chỉ trở thành một phương thức sản xuất điển hình nhất của đế chế La Mã khi miền Địa Trung Hải trở thành trung tâm buôn bán nô lệ, với các chợ nổi tiếng ở Chypre, Samos, Ephese, Chios vào thời kỳ trước Công nguyên. Chế độ nô lệ tiếp tục tồn tại đến thời kỳ Trung cổ châu Âu, nổi lên từ thế kỷ thứ XVI - XVIII với việc buôn người sang làm nô lệ ở châu Mỹ, phổ biến ở các châu lục khác. ở Đông Nam á các chợ buôn người ở miền Tây Đông Dương nổi lên ở thế kỷ XVIII – XIX, nổi tiếng ở Attôpơ, Viêng Chăn, Bangkok, Phnôm Pênh... chỉ bị dẹp đi vào đầu thế kỷ thứ XX. Tuy nhiên, để trở thành một phương thức ta phải thấy chế độ buôn người đó mục đích chủ yếu là bóc lột lao động sản xuất giữa một bên kẻ chiếm nô, một bên là người nô lệ phải nổi lên như một phương thức sản xuất chi phối.


Loại hình thức sở hữu thứ tư là hình thức sở hữu nông nô dựa trên quyền của người sở hữu tư liệu sản xuất và người lao động sản xuất trực tiếp không có ruộng, phải nhận ruộng của lãnh chúa hay các các chủ đất và gắn chặt vào ruộng của chủ, do đó lệ thuộc hoàn toàn nhân thân vào chủ đất. Họ có gia đình riêng, nhà cửa, tài sản, nông cụ, được chủ động canh tác trên mảnh ruộng được phân, nhưng phải chịu những khoản đóng góp tùy tiện theo ý muốn của chủ đất bằng hiện vật, lao dịch, tiền... Người nông nô không có ruộng, ngay quyền lĩnh canh cũng bị tước đoạt theo ý chủ, nữa chi là quyền thừa kế. Khi chết, tất cả của cải, kể cả con cái lại thuộc về chủ. ở châu Âu, có chế độ nhà vua phân phong vĩnh viễn đất đai của nhà vua cùng với cư dân sinh sống trên mảnh đất đó cho các con cái, người thân thích họ hàng, những người có công coi như một thứ lương bổng. Nên chế độ nông nô ở đây được gọi là chế độ phong kiến. Chế độ phân phong ở đây có khác chế độ phân phong đất đai không vĩnh viễn mà chỉ một đời ở Việt Nam.


3. Những hình thức sở hữu bóc lột khác


a) Hình thức sở hữu nông nô khác với phương thức bóc lột địa tô của quan hệ địa chủ - tá điền. C. Mác viết rất đúng là tất cả các hình thức địa tô: lao động, sản phẩm, thậm chí tiền là do người trực tiếp canh tác hay chiếm hữu ruộng đất nộp cho người sở hữu ruộng đất là thuộc về chế độ cho cấy rẽ (métayage), hay chế độ bóc lột theo lối chia sản phẩm - một hình thái quá độ từ hình thái nguyên thủy của địa tô sang địa tô tư bản chủ nghĩa. ở đây ngoài lao động, người nhận cấy rẽ phải bỏ thêm một số tư bản để sản xuất (công cụ, phân bón). Có thể xem đây là một lối khoán, với sự đồng ý của hai bên vì bên khoán có thể xem như kẻ cho vay tư bản, chứ không hẳn chỉ là người sở hữu ruộng đất; ngược lại người được khoán có thể lao động hay lại thuê lao động vì anh ta cũng phải bỏ vốn, bỏ một phần công cụ lao động nghĩa là anh ta cũng là nhà tư bản của bản thân mình". Như vậy cũng không nên quy đơn giản phương thức bóc lột đó chỉ là phương thức bóc lột phong kiến.


b) Bên cạnh những hình thức sản xuất gắn liền với nông nghiệp, trong các hình thái kinh tế xã hội tiền tư bản, ta còn thấy hình thức sản xuất thủ công đã có mặt từ thời mạt kỳ nguyên thủy. Nếu không kể các nghề phụ gia đình, nghề thủ công được tách ra khỏi các công xã nông thôn, cùng thương nghiệp tham gia vào cơ cấu kinh tế của các trung tâm, các đô thị. Những người thợ cũng như những người buôn bán chưa bao giờ được sự kính nể của xã hội "nông vi bản" không kể ở châu Âu hay châu á trong thời kỳ cổ đại. Nó khác hẳn cái nhìn nhận của những con người về sau này trong xã hội manh nha tư bản chủ nghĩa, nền công nghiệp đã xuất hiện, mặc dù những người thợ, những con buôn đều rất cần cho cộng đồng và đều có một đời sống vật chất khá giả hơn, với một lí lẽ đơn giản "họ không phải là người của công xã, hay nói theo cách khác vì họ nằm trong cộng đồng "khác ta" và "không một ai trong người La Mã được sống kiểu sống của thương nhân hay thợ thủ công". Cần lưu ý về tư liệu sản xuất của người nông dân tự do cũng khác người thợ thủ công. Tư liệu sản xuất của người nông dân là đất đai, của người thủ công lại là hàng hóa. Đất đai mãi sau này mới trở thành hàng hóa, cũng như các nông phẩm chủ yếu ban đầu cũng là tự cụng tự cấp và là một phần dùng để nộp cống, nộp tô. Một điều khác nhau nữa là hình thức sản xuất thủ công có thể đã xuất hiện rất sớm trong các đô thị cổ đại, trong khi hình thức sản xuất nông nghiệp không hoàn toàn đã phổ biến từ thời đó.


Cuối cùng là hình thức sản xuất tư bản thương nghiệp. Điều này được Nguyễn Hồng Phong phân tích khá rõ khi phân biệt thương nghiệp tiền tư bản khác với sản xuất tư bản chủ nghĩa ở chỗ nó độc lập với sản xuất; một đằng là sản xuất để bán (tư bản chủ nghĩa), một đằng là mua để bán (thương nghiệp tiền tư bản). ở đây thương nhân thường kết hợp với thợ thủ công, đặt hàng để họ sản xuất, đồng thời họ cũng mua hàng của người nông dân.


Như vậy, trong các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp tiền tư bản chủ nghĩa, trong từng hình thái, đều có thể thấy xuất hiện nổi trội hay tiềm ẩn những hình thức sản xuất (hay thường gọi là những thành phần kinh tế) với hai con đường chính: 1.Công hữu dưới hình thức cống nạp. 2. Tư hữu dưới hình thức Giécmanh, nô lệ, nông nô hay phong kiến, nông dân tự do (tiểu nông), nông dân cấy rẽ, thợ thủ công và thương nhân tiền tư bản chủ nghĩa. Những phương thức diễn ra trong từng hình thái kinh tế - xã hội rất đa dạng, vì là xã hội nông nghiệp nên vấn đề sở hữu đất đai đóng vai trò quan trọng. Chúng thay đổi cùng với sự tiến triển lịch sử, có lúc cũng khó phân biệt, nhất là những phương thức tư hữu lại diễn ra trong lòng xã hội tiến lên bằng con đường công hữu dưới hình thức cống nạp như ở Việt Nam, từ đấy nảy ra trong giới khoa học những ý kiến khác nhau là điều dễ hiểu.


Bản thân tác giả cũng chỉ muốn trình bày ý kiến của riêng mình với ý muốn khiêm tốn là rõ thêm một bước bức tranh về tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam đa tộc người. Ưu thế của tác giả là gần đây những xã hội của các tộc người thiểu số được giới thiệu ngày một nhiều, một sâu qua các sách, các bài nghiên cứu của nhiều tác giả, qua các bộ luật tục (hay tập quán pháp), các bản trường ca và sử thi. Những tộc người đó rõ ràng lại đã sống ở những thang bậc lịch sử khác nhau mà ta có thể còn tiếp cận trực tiếp được trong những thời gian gần đây. Qua đấy, ta có thể hiểu rõ thêm những khái niệm chưa rõ rệt trong các văn bản lịch sử nước nhà.


Trước khi kết thúc phần khái niệm, có thể tóm tắt hai con đường phát triển như sau:


Sơ đồ 1: Con đường tƯ hữu ruộng đất (phương Tây),


con đường công hữu ruộng đất (phương Đông)


   Con đường công hữu ruộng đất  Con đường tư hữu ruộng đất


Bộ phận thống trị       Vua - thần


(chuyên chế phương Đông)(1)


   Nhà thờ


   Nhà nước


   Địa chủ(2)


   Thần quyền


Thế quyền tô-thuế lương


   Thần quyền


   Thuế các loại


  


Bộ phận bị trị   Công xã


Cá nhân


   Cá nhân       Cá nhân      


(1) Chuyên chế phương Đông, thuật ngữ của C. Mác. Chuyên chế chỉ nên hiểu là quyền hành tập trung vào một người duy nhất, được đồng nhất với quốc gia - dân tộc, người cha của dân tộc. Không nên nhấn mạnh toàn mặt xấu. Có những trường hợp có những ông vua tốt, hay như trường hợp đế chế Incas còn là một đế chế xã hội chủ nghĩa như L. Baudin đã dẫn: L'Empire socialiste des Incas (1928) mà M. Godelier trích dẫn trong: Bàn về các xã hội tiền tư bản, Sđd, tr.645. C. Mác nhận xét sự trì trệ của phưong thức sản xuất châu á (hay cống nạp) là nhấn mạnh tuy xuất hiện sớm, có nhiều ưu điểm hơn, nhưng phương thức cống nạp không ứng đáp được yêu cầu của sự phát triển chủ nghĩa tư bản, nên phần lớn bị lệ thuộc vào phương Tây. Vả chăng, phương thức này hiện nay cũng phát triển theo nhiều tuyến khác nhau, khó có thể tiên đoán được. Những con sư tử đang ngủ, biết đâu có ngày nó sẽ thức dậy!


(2) Có trường hợp 3 thế lực đó đồng nhất với nhau nhưng về nguyên tắc thì tách rời.


ii. Tổ chức chính trị xã hội Việt Nam: vùng trường sơn – Tây Nguyên


Như trên đã trình bày, ưu thế của dân tộc Việt Nam đa tộc người trong việc tìm hiểu phương thức sản xuất đã diễn ra trong thời kỳ xã hội tiền tư bản, hay thời kỳ nông nghiệp là sự tồn tại ba vùng khá điển hình của ba giai đoạn phát triển khác nhau:


1. Vùng Trường Sơn - Tây Nguyên: vùng đang ở giai đoạn manh nha có giai cấp.


2. Vùng miền núi phía Bắc: vùng còn tồn tại chế độ thổ ty, lang đạo, phìa tạo, thống lý, chủ đất của các cư dân Tây Bắc, tây Thanh Hóa, Nghệ An, và một số vùng dọc biên giới Việt - Trung từ Phong Thổ (Lào Cai), Hà Giang, Cao Bằng đến Lạng Sơn.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tỉnh Quảng Ninh & Vân Đồn - Tư liệu 19.10.2018
Những cái chết bi tráng của Gia Định tam hùng: Đỗ Thanh Nhơn, Châu Văn Tiếp và Võ Tánh - Lê Nguyễn 16.10.2018
Việt Nam, nước sản xuất và xuất khẩu Hồ tiêu hàng đầu thế giới - Nguyễn Văn Lạng 15.10.2018
Phan Thanh Giản - Tiến sỹ Khai khoa của Nam Kỳ - và chuyện ông được giải oan - Phan Huy Lê 13.10.2018
Nhà giàn DK1 kiên cường trụ vững trước Bão Biển Đông - Nhiều tác giả 09.10.2018
Võ Trường Toản và “Gia Định Tam gia” - Lê Nguyễn 09.10.2018
Diễn văn của PTT Mỹ Mike Pence về vấn đề Trung Quốc, đọc tại Hudson Institute ngày 5/10/2018 - Michael Richard "Mike" Pence 07.10.2018
Việt sử Xứ Đàng Trong (4) - Phan Khoang 07.10.2018
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - vài nhận xét về cách dùng "ăn chay, ăn kiêng, ăn tạp, khem, cữ" (p12) - Nguyễn Cung Thông 07.10.2018
Cà phê Paris - Nhiều tác giả 06.10.2018
xem thêm »