tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24294651
04.01.2010
Nguyễn Phan Quang
Phong trào Tây Sơn và AHDT Quang Trung (18)

3/ Xác định rằng “Trà Luật” là Trà Tân (mà không phải Trà Lọt), chúng ta thấy có những chỗ phù hợp với địa lý-lịch sử, cũng phù hợp với diễn biến của chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút:


            Thứ nhất, Trà Tân (tức Trà Luật) là một trong những khu vực mà các chúa Nguyễn đã sớm xây dựng làm nơi đứng chân trên đồng bằng sông Cửu Long, cũng là nơi Tân Chính Vương lui quân về đóng giữ khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo vào đánh tan đạo quân của Lý Tài năm 1777 (tức 8 năm trước khi diễn ra chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút). Sang thế kỷ XIX (nhất là vào nửa sau thế kỷ này) hai lưu vực rạch Trà Tân và rạch Ba Rài đã trở thành “những vùng đất phì nhiêu, những trung tâm dân cư đông đúc, nhà cửa san sát dọc theo các bờ rạch…” (Monographie…).


            Thứ hai, vùng Trà Tân có nhiều sông rạch ở bờ bắc sông Tiền, có một hệ thống cù lao lớn nhỏ nối tiếp từ cuối cù lao Tân Phong đến cuối cù lao Năm Thôn, thuận tiện cho việc tập trung hàng vạn quân lính – cả trên hai bờ sông Tiền, cả trên các cù lao giữa dòng sông – cũng tiện cho việc bố trí, di động của hàng mấy trăm chiến thuyền. Tác giả Mạc thi gia phả đã phản ánh thực tế này: “Quân của vua [Nguyễn Anh] thì cứ theo bãi sông đóng đồn, còn quân Xiêm đến đổ bộ lên bờ cố thủ, chiến thuyền dàn theo bờ sông làm thế ỷ giốc”. “Bãi sông” ở đây là chỉ các cù lao trên sông. Ví như ĐNNTC khi chép “bãi Kiến Lợi” (Kiến Lợi Châu) tức là nói về cù lao Kiến Lợi.


            Những thuận lợi của vùng Trà Tân như trình bày ở trên lại thiếu hoặc không có ở Trà Lọt. Đành rằng quân Xiêm-Nguyễn rất có thể đóng quân rải rác đến tận Trà Lọt, nghĩa là trên chiều dài 20 – 30km từ Trà Lọt đến Trà Tân, nhưng điểm tập kết chủ yếu của chúng, kể cả đại bản doanh, hẳn rằng phải nằm trong khu vực Trà Tân thì mới hợp lý hơn (Nguyễn Phan Quang-Dương Văn Huề – Báo cáo tại Hội nghị khoa học lịch sử Kỷ niệm lần thứ 200 chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút tại tỉnh Tiền Giang, tháng 12-1984).


 


PHỤ  LỤC 3


CHIẾU LÊN NGÔI VUA


CỦA NGUYỄN HUỆ (1788) (*)


            “Trẫm nghĩ: năm đời đế đổi họ mà chịu mệnh, ba đời vương gặp thời mà mở vận, đạo có thay đổi, thời cũng biến thông, đấng thánh nhân vâng theo đạo trời để làm chủ tể trong nước, làm cha mẹ dân, chỉ có một nghĩa mà thôi.


 


            Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần gây dựng ra nước cho đến ngày nay, thánh minh dấy lên không phải là một họ, nhưng thịnh suy dài ngắn, vận mệnh do trời, không phải sức người tạo ra được. Trước đây nhà Lê mất chính quyền, họ Trịnh và cựu Nguyễn chia bờ cõi. Hơn hai trăm năm ấy kỷ cương rối loạn, vua Lê chỉ là hư vị, cường thần tự ý vun trồng, giềng mối của trời đất một phen rơi xuống không nâng lên được, chưa có lúc nào hư hỏng quá như lúc này vậy. Vả lại mấy năm gần đây, nam bắc gây việc binh đao, nhân dân rơi vào chốn bùn than.


 


“Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn, không có một thước đất, vốn không có chí làm vua; chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn, mong mỏi được vua hiền để cứu đời yên dân; vì vậy trẫm tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ để mở mang núi rừng, giúp đỡ hoàng đại huynh, rong ruổi việc nhung mã, gây dựng nước ở Tây thổ, vỗ yên các nước Xiêm La, Cao Miên, đánh lấy Phú Xuân, tiến ra Thăng Long, cốt ý quét sạch loạn lạc, cứu vớt dân trong vòng nước lửa, rồi trả lại nước cho họ Lê, trả đất về đại huynh, Trẫm sẽ dùng xiêm thêu hia cỏ ngao du hai nơi làm vui mà thôi.


 


“Nhưng việc đời dun dủi, Trẫm không theo được cái chí xưa đã định. Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào Trẫm; về phần đại huynh có ý mỏi mệt, tình nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây vương, mấy ngàn dặm đất về phương Nam thuộc hết về Trẫm. Trẫm tự nghĩ tài đức không bằng người xưa, mà đất đai thì rộng, nhân dân thì nhiều, ngẫm nghĩ cách thống trị, lo ngay ngáy như dây cương mục chỉ huy sáu ngựa.


 


“Vừa rồi đây, văn võ tướng sĩ, trong ngoài thần liêu đều muốn Trẫm sớm lên ngôi báu để giữ chặt lòng người, đã hai ba lần dâng thư khuyên Trẫm lên ngôi; tờ biểu suy tôn, không ai bàn tính với ai mà đều cùng một lời tán thành.


 


            “Nay xem khí thần rất hệ trọng, ngôi trời thật khó khăn, trẫm chỉ lo không kham nổi. Nhưng ức triệu người trong bốn bể đều xúm quanh cả vào một trẫm, đó là ý trời đã định, không phải do người làm ra. Trẫm nay ứng mệnh trời, thuận lòng người, không thể khăng khăng cố giữ sự khiêm nhường. Trẫm chọn ngày 22 tháng 11 năm nay lên ngôi thiên tử, đặt hiệu là Quang Trung năm đầu, truyền bảo cho trăm họ muôn dân phải thuận theo giáo lệnh  của nhà vua. Nhân nghĩa, trung tín là đạo lớn của người, Trẫm nay cùng dân đổi mới, vâng theo mưu lược sáng suốt của vua thánh đời trước, lấy giáo hóa trị thiên hạ.


 


            “Một là: mười ba đạo các xứ địa phương, vụ đông năm nay, các khoản tô, dung, điệu chỉ thu năm phần mười, nơi nào bị nạn binh hỏa, cho phép các quan chức đến nơi xét thực, tha miễn tất cả.


 


            “Hai là: bầy tôi và nhân dân cựu triều bị vạ lây đã phải kết tội nặng, trừ tội đại nghịch bất đạo, còn thì đều cho đại xá.


 


            “Ba là: các đền thờ dâm thần đều bãi bỏ, không được liệt vào tự điển, còn các đền thiên thần và trung thần, hiếu tử, nghĩa phụ, trước đã được các đời bao phong thì nay đều cho thăng trật.


 


            “Bốn là: quan viên văn võ cựu triều, hoặc vì tòng vong trốn tránh, cho phép được về nguyên quán, người nào không muốn ra làm quan cũng cho tùy tiện.


 


            “Năm là: nhân dân Nam hà, Bắc hà, cách ăn mặc cho được theo tục cũ, dùng áo mũ triều nghi thì nhất luật phải theo quy chế mới.


 


            Than ôi! Trời vì hạ dân mà đặt ra vua, đặt ra thầy cốt là để giúp thần thượng đế, yên vỗ bốn phương. Trẫm nay có thiên hạ, sẽ dìu dắt dân vào đạo lớn, đem dân lên cõi đài xuân. Vậy tất cả mọi thần dân đều yên chức nghiệp, chớ có theo đòi những việc sai trái. Người làm quan giữ đạo công liêm, người làm dân vui theo lệ tục, giáo hóa thấm nhuần đi đến con đường chí thiện, để vãn hồi thịnh trị của năm đời đế, ba đời vương, để kéo dài phúc lành cho tôn miếu xã tắc không có bờ bến, chẳng là tốt đẹp lắm ru! “(*).


 


 


PHỤ LỤC 4


CHIẾU CẦU HIỀN


            “Từng nghe người hiền ở trên đời cũng như sao sáng trên trời. Sao tất phải chầu về Bắc thần (1), ngưới hiền tất phải do thiêh tử sử dụng. Nhược bằng giấu mình ẩn tiếng, có tài mà không để cho đời sống, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền tài.


            “Trước đây, thời gặp vận cùng, trung châu lắm việc, người hiền ở ẩn, cố giữ tiết tháo như da bò bền (2), người ở triều đình không dám nói năng như hàng trượng mã. Cũng có người đánh mõ giữ của, ra bể vào sông, chết đuối trên cạn mà không tự biết, chỉ lo trốn tránh, hầu đến trọn đời.


            “Trẫm đương để ý lắng nghe, sớm hôm mong mỏi. Thế mà những người tài cao học rộng, chưa có ai đến. Hay trẫm là người ít đức, không xứng để những người ấy phò tá chăng? Hay là đương thời loạn lạc, họ chưa thể phụng sự vương bản?


“Đương khi trời còn thảo muội, là lúc quân tử thi thố kinh luân, nay buồi đầu đại định, mọi việc còn đương mới mẻ. Mối giềng triều đình còn nhiều thiếu sót, công việc binh ải chính lúc lo toan. Dân khổ chưa hồi sức, đức hóa còn chưa thấm nhuần, trẫm chăm chẵm run sợ, mỗi ngày muôn việc lo toan. Nghĩ rằng: sức một cây gỗ không chống nổi tòa nhà to, mưu lược một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình. Hỏi rằng trong nước, một lấy mươi nhà hẳn còn có người trung tín, huống chi trong cõi đất rộng lớn đến thế này, há lại không có người kiệt xuất hơn đời, để giúp rập chính sự buổi đầu cho trẫm ư?


“Vậy hạn chiếu xuống, quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều cho phép được dâng thư tỏ bày công việc. Lời có thể dùng được thì đặc cách bổ dụng, lời không dùng được thì để đấy, chứ không bắt tội vu khoát. Những người có tài nghệ gì có thể dùng cho đời, cho các quan văn quan vũ đều được tiến cử, lại cho dẫn đến yết kiến, tùy tài bổ dụng. Hoặc có người từ trước đến nay giấu tài ẩn tiếng, không ai biết đến cũng cho phép được dùng những thứ tự cử, chớ ngại thế là “đem ngọc bán rao”.


            “ Ôi , “trời đất bế tắc thì hiền tài ẩn náu”! Xưa thì đúng vậy, còn nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức, nên đều gắng lên, để được rỡ ràng chốn vương đình, một lòng cung kính để cùng hưởng phúc tôn vinh.


            “Bố cáo xa gần để cùng nghe biết!”.


 Tạp chí Xưa và Nay, số 77B/7-2000.


---------------------


Bắc thần: sao Bắc đẩu. “Làm chính trị bằng đức thì ví như sao Bắc đẩu ở một chỗ mà các sao đều chầu về (Luận ngữ).


Ý nói: tính cương ác mà giữ bền một cách trung hậu, cẩn thận, bền da như dùng da bò mà bó thật chặt.


PHỤ  LỤC 5


HỊCH TRUYỀN QUAN LẠI  QUÂN DÂN


CÁC PHỦ QUẢNG NGÃI, QUY NHƠN (1792)(*)


            “Từ hơn hai mươi năm nay, tất cả các người từ lớn đến nhỏ đều không ngừng chịu ơn huệ của anh em Tây Sơn ta. Trong suốt thời gian đó, nếu anh em ta đã giành được những thắng lợi trong Nam ngoài Bắc thì rõ ràng cũng là nhờ vào lòng trung thành của hai phủ (1). Chính ở đây anh em ta đã tìm thấy những người dũng cảm và những bề tôi lương đống để lập nên triều đình. Nơi đâu anh em ta đã kéo quân đến là kẻ thù đều bị đánh cho thất bại và tan tác; nơi đâu anh em ta đã mở rộng chinh chiến là bọn quân Xiêm và quân Thanh tàn bạo đều phải quy hàng…


 


            “Về phần cái triều đình cũ thối nát còn rơi rớt lại (2) thì từ hơn ba mươi năm nay, ta chưa hề thấy chúng làm được điều gì hay. Trong trăm trận giao tranh với ta, binh lính của chúng đều bị đánh cho tan tác, tướng tá của chúng đều bị giết chết; đất Gia Định đã đầy rẫy xương khô của bọn chúng. Các ngươi đã từng được chứng kiến những điều ta nói, nếu chưa được nhìn tận mắt thì ít ra cũng đã nghe tận tai rồi.


 


            “Kể làm chi tên Chúa khốn nạn kia (3). Còn bọn dân hèn nhát (4) đất Gia Định ngày nay dám họp quân nổi dậy, tại sao các ngươi lại sợ hãi chúng đến thế? Tại sao lòng dạ các ngươi lại đầy nỗi kinh hoàng như vậy? Nếu như quân thủy, bộ của chúng đã kéo ra và chiếm đóng rất nhanh các cửa biển của các ngươi thì đức đại Hoàng đế (5) cũng đã biên thư cấp báo cho ta biết rõ sự tình, và ta nhận thấy rằng quan lại, quân lính và toàn thể dân chúng trong hai phủ đã không có can đảm để chống cự lại, và chính vì thế mà bọn chúng đã chiếm được các miền hiện lọt vào tay chúng, chớ đâu có phải vì bọn chúng tài giỏi. Hai đạo quân thủy, bộ của các ngươi đều bỏ trốn mỗi đạo một nẻo.


 


            “Giờ đây, tuân lệnh đức Hoàng huynh, ta sửa soạn một đạo thủy bộ hùng binh và sẽ thân hành kéo vào đánh bại quân giặc dễ như bẻ gãy cành khô củi mục. Còn tất cả các ngươi, các ngươi không cần để ý đến bọn giặc đó, đừng sợ hãi bọn chúng, mà chỉ cần mở mắt ngóng tai để nhìn và nghe những điều ta sẽ làm. Các ngươi sẽ thấy các phủ Bình Khang và Nha Trang thực ra chỉ là những mảnh vụn của cái thây ma Gia Định; phủ Phú Yên đã từng luôn luôn là trung tâm chiến tranh, và cuối cùng từ phủ Bình Thuận vào đến Cao Miên, ta sẽ lấy lại tất cả trong nháy mắt để cho mọi người biết rằng chúng ta thực sự là anh em với nhau, và chúng ta không bao giờ lại có thể quên được rằng chúng ta cùng chung một giòng máu.


 


            “Ta kêu gọi tất cả các ngươi lớn nhỏ hãy ra sức giúp rập Hoàng gia và giữ lòng trung thành gắn bó với Hoàng đế trong khi chờ đợi quân ta quét sạch phủ Gia Định và đặt lại vương quyền ở đây. Danh tiếng hai phủ các ngươi sẽ đời đời bất tử trong sử sách. Các ngươi không được quá nhẹ dạ tin vào những lời đồn đại về bọn người châu Âu. Hạng người đó nào có tài cán gì; bọn chúng đều tất cả mắt xanh như mắt rắn và các ngươi chỉ được xem chúng như những cái xác trôi bị sóng biển Bắc đánh giạt vào, có gì đáng lạ để đến nói với ta về những chiếc tàu đồng và bóng bay! (6).


“Tất cả các làng thuộc hai phủ nằm trên đường hành quân của ta phải lo làm cầu khắp nơi để quân ta đi được nhanh chóng. Một khi nhận được lệnh này, các ngươi phải cẩn thận tuân hành.


 


“Phải kính vâng hịch này, vì đây là ý muốn của ta (7).


        Ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ năm [27-8-1792]”                                                                                                     


---------------


Tức hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn của dinh Quảng Nam. Bản dịch tiếng Pháp viết là “tỉnh” (province), ta hiểu là “phủ”, vì bấy giờ chưa có đơn vị “tỉnh”.


Chỉ chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong và thế lực của Nguyễn Ánh.


Bản tiếng Pháp chú thích là “vị vua đang trị vì và đã từng chạy trốn sang các nước châu Âu”; đây là một sự sai lầm vì lẫn lộn Nguyễn Ánh với hoàng tử Cảnh. “Tên chúa khốn nạn” ở đây là Nguyễn Ánh đã xưng vương tại Gia Định ngày 5-2-1780 và về sau lên làm vua, nhưng chưa hề trốn sang châu Âu. Còn hoàng tử Cảnh thì có theo Bá-đa-lộc sang châu Âu cầu cứu nước Pháp, nhưng chết sớm vào ngày 20-3-1801 và chưa hề làm “chúa” hay “vua”. Ch.B.Maybon đã chú thích đính chính lại sai lầm này.


Chỉ  các đại địa chủ và tôi tớ của Nguyễn Ánh ở đất Gia Định.


Bản dịch tiếng Pháp là “le grand Empereur”, tức Nguyễn Nhạc, đã xưng Hoàng đế trung ương từ năm 1786.


Tức khinh khí cầu, do hai anh em Montgolfier người Pháp sáng chế và đưa thí nghiệm lần đầu tiên ngày 5-6-1783. Cách mấy năm sau, khoảng năm 1790, Boisserand, một giáo sĩ Pháp theo Bá-đa-lộc sang giúp Nguyễn Anh, đã làm thí nghiệm thả những khinh khí cầu lên trời để lòe bịp nhân dân Gia Định, Quy Nhơn về phép lạ của người Pháp. Năm 1797, Boisserand đã bỏ mạng ở Nha Trang sau trận đi đánh Đà Nẵng trở về.


De la Bissachère (dịch bài Hịch ra tiếng Pháp) là một giáo sĩ Pháp, sống ở nước ta trong khoảng thời gian từ 1790 đến 1806 hay 1807, nghĩa là vào lúc bài Hịch của Quang Trung được công bố. De la Bissachère sống ở Đàng Ngoài, nhất là ở Nghệ An, tức khu vực thuộc quyền cai trị của Quang Trung.


 


PHỤ LỤC 6


TỤNG TÂY HỒ PHÚ


Nguyễn Huy Lượng làm quan với nhà Lê, sau làm quan đời Tây Sơn, được phong tước hầu (Chương Lĩnh hầu). Bài “Tụng Tây Hồ” làm năm Bảo Hưng nguyên niên đời Tây Sơn, lúc Nguyễn Quang Toản ra Bắc hà làm lễ tế trời đất ở Hồ Tây. Nội dung mượn cảnh Hồ Tây mà ca tụng sự nghiệp công đức triều đại Tây Sơn.


(Theo “Phú Việt Nam cổ và kim” - Nxb Văn Hóa, 1960 – H ợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập III - Thề kỷ XVIII-Giữa thế kỷ XIX – NXB Văn Hóa, 1963):


 


 


Phú:


Lạ thay cảnh Tây Hồ (1)!


Lạ thay cảnh Tây Hồ!


Trộm nhớ thuở đất chia chín cõi, nghe rằng đây đá mọc một gò (2)


Trước bạch hồ (3) vào ở đó làm hang, Long Vương (4) trổ nền vùng đại trạch;


Sao kim ngưu (5) dò vào đây hóa vực, Cao Vương (6) đào chặn mạch hoàng đô.


Tiếng nghe gọi Dâm đàm, Lãng Bạc;


Cảnh ngắm in tinh chử, băng hồ (7).


Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo;


         Hình lượn lượn uốn vòng trăng bạc, tưởng vầng ngân (8) rơi xuống mảnh nhò nhò.


Dư nghìn mẫu nước trời lẫn sắc;


Trải bốn bên hoa cỏ nhiều mùa,


Ang đất phơi mỏ phượng (9) còn in, kẻ rằng đài thượng nguyệ (10);


Vũng nước hút hàm rồng chẳng cạn, người gọi trản trung tô (11).


Toà thạch tháp nọ nơi tiên để báu; Chốn thổ dôi kià  chỗ khách chôn bùa.


Đền Mục Lang (12) hương lửa chẳng rời, tay lưới thép còn ghi công bắt hổ;


         Quán Trấn Vũ (13) nắng mưa nào chuyển, lửa gươm thiêng còn để tích giam rùa.


Kề bến nọ, quán Thiên Niên lớp lớp;


Cách ngàn kia, ghềnh Vạn Bảo (14) nhấp nhô


         Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc (15) tưởng in vùng tĩnh phạn;


      Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên (16) nhận sẵn thú Nghi, Vu (17).


Dấu Bố Cái (18) rêu in nền phủ,


Cảnh Bà Đanh (19) hoa khép cửa chùa.


   Trông mở màng dường đỉnh Thứu (20) nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích chích;


Nghe phảng phất ngỡ động Đào mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o.


Lò Thạch Khối (21) khói tuôn nghi ngút;


Ghềnh Nhật Chiêu (22) sóng giật ỳ ồ.


        Rập rềnh cuối bãi Đuôi Nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm;


Thanh lảnh đầu hồ Cổ Ngựa (23), tháp cao tăng còn khép cửa tò vò.


Chày Yên Thái (24) nện trong sương chuẻnh choảng,


Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co.


Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm (26);


Sen vũng nọ nẩy tiền xanh lác đác,lửa đóm ghen năm xã gây lò.


Cầm ve gẩy lầu thư ảnh ói


Mõ cuốc khua án lệ rì rù.


Gò Châu Long (27) khi ngọn gió đưa quanh, hồi thú cổ thẳng kề bên mái Trúc;


             Non Phục Tượng (28) lúc vầng trăng hé nửa, tiếng hàn châm (29)


 nghe cách giải sông Tô.


Người ngoạn cảnh thẩn thơ đòi đoạn,


Khách thâu nhàn lai láng từng khu.


Mảnh áo tơi lớp xớp trong mưa, ca Thanh Thảo quyến đàn tâu gã Nịnh;


       Con thuyền trúc lân la trước gió, khúcThương Lương (31) đưa gánh củi chàng Chu.


Vầy cuộc ẩn, mọi nghề chẳng thiếu;


Mượn thú vui, bốn bạn cùng no.


Cảnh Khán Sơn (32) chưa gác cuộc cờ, lòng thơ đã bồi hồi ban lãnh thổ (33).


Làng Võng Thi (34) còn đông tiệc rượu, tiếng cầm đà não nuột buổi tà ô.


Khách Ngô, Sở chợ tây ngồi san sát;


Người Hy Hoàng (35) song bắc ngáy phi pho.


        Bến giặc tơ người vốc nước còn khuya, gương thềm (36) đựng trong tay lóng lánh;


Vườn hái nhị kẻ giày sương hãy sớm, túi xạ rơi dưới gót thơm tho.


Ngang thành thị ghé yên hà một thú;


Dọc phố phường, thung phong nguyệt hai kho.


Gió hiu hiu dòng Nhị Thủy đưa lên, lồng hơi mát tới chùm hoa khóm trúc;


Trăng vằng vặc mái Tam Sơn (37) rọi xuống, đớp bóng trong từ lũ cá, đàn cò.


Phong cảnh cũ nhiều nơi thắng lãm;


Triều đại xưa mấy lớp thanh ngu.


Tựa bóng hoa đặt quán quan ngư, kìa đời Hưng Khánh (38);


Đè mặt sóng đem đường dụ tượng (39), nọ thuở Kiền Phù (40).


Trải Trần trước đã nhiều phen xe ngựa;


Tới Lê sau càng lắm độ tán dù.


Trộm nhớ thiên bát vịnh du hồ, trong tỷ hứng cũng ngụ lời quy phúng;


Lại nhớ khúc liên ngâm thưởng nguyệt, lúc tiếu đàm dường thỏa ý giao phu.


Tòa đá nọ hãy ghi câu canh họa,


Dòng nước kia dường nổi chén tạc thù.


 


Năm sau từ nổi bụi tiêu tường (41), ba thước nước khôn cầm màu hiệu khiết;


Buổi ấy cũng góp phần tang hải, sáu thu trời bao xiết nỗi hoang khô.


Hình cây, đá, mưa trôi gió giạt


Sắc hoa, chim, mây vẩn sương mù.


         Chốn trì đàm làm bợn vẻ thanh quang xuôi ngược những vẫy đuôi khoa đẩu (42);


Nơi phạn vũ (43) để che màu sảng lãng, dọc ngang trao mắc võng tri thù (44).


Hương cổ miếu đôi chòm lạnh lẽo,


Đèn viễn thôn mấy ngọn lù mù.


Kênh đâu đâu đều chảy đến trung sa,lầu túc điểu gió còn sớm quạt;


Sen chốn chốn đã bay về Tây Vực (45), vũng du ngư nguyệt hãy tối mò.


Kêu trị, loạn, đau lòng con đỗ vũ (46)!


Gọi công, tư, mỏi miệng cái hà mô (47)!


Lũ cày mây (48) lần tưởng bóng nghê, thơ Thất Nguyệt thở than cùng mục thụ;


Khách điếu nguyệt biếng tìm tăm cá, chữ Tam Mô (50) bàn bạc với tiều phu!


Nghe xóm nọ rù rì ve nhặng.


Ngắm ghềnh kia thấp thoáng trai cò.


Thú cao lưu chếch mác thế cờ, người nhạo thủy (51) ôm cầm khi rạng quế;


    Màu yên cảnh (52) bâng khuâng hồn rượu, khách đăng đài gác bút buổi bay ngò (53)


Chiều phong vị xem dường quạnh quẽ,


Dấu đồ thư ngắm hãy mơ hồ.


Dưới cầu vồng nước chảy mênh mông, đường xưa đưa ngựa;


Trên thành trĩ (54) đá xây chơm chởm, bến cũ gọi đò.


Trước cố cung treo nửa mảnh gương loan (55) vừng trăng he hé,


Sau cổ tự gửi mấy phong da ngựa, đám cỏ lù rù


Lớp canh dịch người xưa man mác,


Vẻ tiêu lương cảnh cũ thẹn thò


Ang phồn hoa vì cảnh muốn phô người, người trải khi vật đổi sao dời,


                                                                     cảnh phải chiều người buổi ấy;


Thời thanh lãng có người còn mến khách, cảnh có sẵn nước trong trăng sáng,


                                                                                 người nên phụ cảnh này ru?


Vầng trăng nọ buổi tròn buổi khuyết;


Ngọn nước kia nơi hoắm nơi nhô.


Tới Mậu Thân (56) từ rỡ vẻ tường vân, sông núi khắp nhờ công đãng địch;


Qua Canh Tuất (57) lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức triêm nhu (58).


Vũng trì chiểu nước dần dần lặng;


Nơi đình đài hoa phới phới đua,


Chốn bảy cây (59) còn mấy gốc lăng vân,


                          chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão;


Nơi một bến đã đông đoàn hý thủy, tới uyên ương đều thỏa tính trầm phù.


Vẻ hoa thạch châu thêu gấm dệt,


Tiếng trùng cầm, ngọc gõ vàng khua.


Bãi cỏ non trâu thả ngựa buông, nội Chu (60) đã lắm người ca ngợi.


Làn nước phẳng kình trầm, ngạc lặn (61), ao Hán (62) nào mấy kẻ reo hò.


Mặt đất đùn này thóc này rau, dầu lòng Cô Trúc (63);


Mặt nước chảy nọ dòng nọ bến, mặc chí Sào, Do (64).


Cây quán kia còn đứng dậy thần uy, đoàn Mán tới dám khoe lời Tây hữu (65);


Sen chùa nọ lại bay về Phật cảnh, lũ Ngô về từng niệm chữ Nam vô.


Dấu linh dị rành rành vẫn sáng,


Mạch hậu nhân (66) dằng dặc bao rò.


Mặc thành xưa đem lại thế kim thang, đất xây phẳng lặng;


Cánh hàn (67) cũ sửa ra hình chỉ trụ, đá xếp xô bồ.


Nghé vùng danh nẻo lợi bấy lâu, cảnh tuy rằng nhỏ;


Song nước trí non nhân (68) mấy chốn, cảnh đã chi thua,


Trải mấy thu từng tựa bóng tàn xanh, thâu canh đã vào trong vũ trụ;


Song nghìn dặm đã xa vời bệ tía, góp cảnh còn gọi chốn biên ngu.


Tuy thú vị đã giãi bày ra đó;


Song thanh dung còn trang điểm lại cho.


 


Nay mừng:


Trời phù chính thống,


Đất mở hoành mô,


Quyền tạo hóa tóm vào trong động tác,


Khi càn khôn vận lại trước đô du (69).


       Nền hoàng thành đặt vững Long Biên, ngôi bắc cực muôn phương đều cùng hướng;


        Nền bắc trạch xây kề Ngưu Chử (70), cảnh Tây Hồ trăm thức lại phương phu (71).


Chòm hủ thảo chưa qua tuần đom đóm;


Ang tường vân đà cách độ tua rua (72).


Ngắm nguyệt chiêm từ Cấn tượng (73) bốn hào, ống âm dương đà quét bụi;


Xem tuế luật (74) đến Di tân bảy tấc, lò thiên địa mới bay tro (75).


Cơ vãng phục lạnh thôi lại ấm,


Lẽ doanh hư bớt đã lại bù.


Dưới lục âm vừa sinh khí nhất dương (76) vạn phẩm đã nhờ ơn khôn tạo;


Trên cửu đạo (77) lại tầy ngôi thất chính, bốn mùa đều theo hướng đẩu khu.


Hướng khâm kính xông miền hiệu đãng (78),


Rượu cung kiền thấm cõi linh u.


Ang năm mây bày ngọc bạch đôi hàng, thảo mộc hãy ca công Thang, Vũ;


Vang chín bệ nổi tiêu thiều mấy khúc, điểu thú đều vũ  đức Đường, Ngu.


Vẻ hoa lẫn dấu cờ năm thức,


Mặt nước in bóng giáo ba ngù.


        Trước huân phong (79) phảng phất cung đàn, làn thâm thủy muốn vái lên ngũ bái;


Dưới ngọ nhật vang lừng tiếng trúc, hình viễn sơn mong rạp xuống tam hô.


Lễ nhạc ấy nghìn thu ít thấy


Phong cảnh này mấy thuở nào so.


Trên dưới đều rồng mây cá nước phải duyên, giọt vũ lộ tưới đôi hàng uyên lộ;


        Gần xa cũng bờ cõi non sông một mối, tấm đan thành dung khắp lũ nghiêu sô (80).


Hơi yêu mị quét dưới cờ thanh đạo,


Ang tường quang tuôn trước ngọn huyền lô.


Rặng đầu ghềnh người mượn chữ vu viên (81), răn loài hồng nhạn;


Ca cuối vũng kẻ ngâm câu tại chử, nhủ lũ ê phù.


Lời ca ngợi, tưởng ngồi trong Chu Nhã (82);


Điệu ngâm nga, nghe đứng giữa Nghiêu cù (83).


Ngẫm nay đà vui thú tạc canh, đành chốn chốn cũng ca đồng vũ tẩu;


Nhớ trước đã thỏa lòng động, thực, hẳn đâu đâu đều bặt qủy, êm hồ.


Nay lệnh tiết đã tin điềm thái lãng,


Xin thánh nhân càng ghín chữ dự du (81).


       Ngọn nguồn tuôn ràn rụa mái kia ghềnh, đèn chiếu thủy (85) chia dòng Kinh, Vị;


Chòm cỏ mọc tần vần bên nọ miếu, trống thôi hoa (86) rẽ khóm huân do.


Nhận giá sắc, xét dân phong cần nọa;


Ngắm phong quang soi vật tính thanh ô.


Chốn chiểu đài, xem cá nhảy chim bay, thâu sĩ lộ nơi thông nơi trệ;


Miền thôn ổ, lắng chim kêu gà gáy, lượng dân gian nơi háo nơi trù,


Tình u ẩn khắp bày trên thị thánh,


Hiệu trị bình dành sắp dưới tề tu.


Nơi mạch kia, dân tựa lấy làm giời, hang chuột ẩn há chừa nơi cỏ khuất;


         Bờ liễu (87) nọ, kẻ xây đà vững đất, lỗ kiến đùn khôn chuyển buổi nguồn xô (88).


Đem phong cảnh lại một bầu chí nhỏ,


Mở thái bình ra bốn bể mới to.


Tôi nay:


Hổ mình thiển lậu,


Dại trí sơ thô.


Dư một kỷ yên bề hu lịch (89),


Ngoài năm tuần thẹn bóng tang du (90).


   Trước phượng đàn đứng sánh hàng loan, trông hồ cảnh tiến một chương ly ngữ (91);


Bên ngự đạo ngửa trông vừng nhật, nổi thanh sơn mừng muôn kỷ dao đồ (92).


CHÚ THÍCH


Hồ Tây ở Hà Nội. Khi Bắc thuộc về đời Hán thì gọi là hồ Lãng Bạc. Đến đời Trần gọi là Dâm Đàm. Đến đời Lê đổi làm Tây Hồ; sau kiêng tên húy của chúa Trịnh, lại đổi là Đoài Hồ; từ đời Tây Sơn về sau lại gọi là Tây Hồ.


Đá  mọc một gò: tương truyền Hồ Tây ở đời cổ là một núi đá.


(Bạch Hồ: con cáo trắng. Theo truyền thuyết trong núi đá có con cáo trắng chín đuôi, làm hại dân ở vùng quanh đấy.


Long vương trổ nên vùng đại trạch: Vua Thủy Tề dâng nước và đem các loài ở dưới nước đánh bắt được cáo trắng, làm núi ấy sụt xuống thành đầm lớn (đại trạch), tức là Hồ Tây này.


Kim Ngưu: trâu vàng. Tục truyền Khổng Minh Không tức Nguyễn Chí Thành chữa cho thái tử nhà Tống khỏi bệnh. Vua nhà Tống cho phép vào kho muốn lấy gì thì lấy, sức mang được bao nhiêu thì mang. Khổng Minh Không lấy hết cả kho đồng đem bỏ vào bao, ra bờ biển ngửa nón hóa phép nón làm thuyền chở về. Ong đem về đúc chuông, khi đánh chuông, tiếng vang sang Trung Hoa, con trâu vàng tưởng tiếng mẹ gọi, chạy sang đến Hồ Tây không thấy mẹ, vẫy vùng dẫm sụt đất thành hồ.


Cao Vương: Cao Biền là người Trung Hoa, sang làm đô hộ sứ nước ta, gọi là Cao Vương. Hoàng Đô: kinh đô nhà vua. Tương truyền Cao Biền xem địa lý nước ta, chỗ nào có mạch đế vương thì đào cho đứt mạch.


Tinh chử: (tinh: vì sao; Chử: bến nước). Tinh chử có nghĩa là vùng trên trời có nhiều sao. Băng hồ: cái lọ đựng nước băng. Tinh chử băng hồ là nói cảnh đẹp nước trong.


Vầng Ngân:  (Ngân: bạc). Sông Thiên hà trên trời trắng như bạc nên cũng gọi là Ngân Hà. Tưởng vầng Ngân rơi xuống mảnh nhò nhò: trông nước Hồ Tây trắng xóa, tưởng như sông Ngân Hà trên trời rơi xuống những mảnh nho nhỏ vậy.


Mỏ phượng: Cao Biền bảo Hồ Tây là kiểu đất phượng hoàng uống nước.


 Đài thượng nguyệt: kiểu đất như mặt trăng ở trên đài.


 Trản trung lô: sữa ở trong chén.


 Đền Mục Lang: (Lang: chàng, chỉ người con trai còn trẻ tuổi). Đền thờ ông Mục Thận ở bên hồ. Tay lưới phép hãy ghi công bắt hổ: tục truyền khi vua Lý Anh Tông chơi thuyền ở trong hồ, thái sư là Lê Văn Thịnh có phép lạ, hóa làm con hổ, toan sự giết vua, người đánh cá là Mục Thận lấy lưới chụp được hổ, xem ra thì là Lê Văn Thịnh.


 Quán Trấn Vũ: đền thờ Trấn Thiên Chấn Võ Đại Đế. Đời nhà Lê có đúc tượng đồng, tay cầm gươm để trấn yêu quái phương Bắc là con rắn và con rùa.


 Ghềnh Vạn Bảo: Ghềnh này ở khúc sông Nhị gần hồ Tây.


 Chùa Trấn Quốc: chùa ở cạnh Hồ Tây. Tĩnh phạn: cảnh Phật thanh tĩnh.


 Phụng Thiên: phủ Phụng Thiên ở Hà Nội, nay ở khoảng phố Ngõ Huyện ở nội thành.


 Nghi, Vu: Luận ngữ: “Dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu”, nghĩa là: tắm ở sông Nghi, hóng mát ở nền Vũ Vu.


 Bố Cái: Chỉ ông Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương). Rêu in nền phủ: đền thờ nay đã mọc rêu.


 Cảnh Bà Đanh: Bà Đanh là công chúa triều Lý, lập nên chùa này, ở làng Thụy Chương. Hoa khép cửa chùa: chùa này không có người đến lễ bái.


 Thứu: (Thứu Lĩnh) là qủa núi chỗ Phật ở.


 Thạch Khối: làng Thạch Khối ở cạnh sông Nhị, làm nghề nung vôi.


 Ghềnh Nhật Chiêu: ghềnh này ở sông Nhị đối diện Hồ Tây, nay là vùng Nhật Tân.


 Hồ Cổ Ngựa: ở phía nam hồ Trúc Bạch. Trên hồ Cổ Ngựa có chùa Linh Sơn.


 Yên Thái: làng Yên Tháiở phía bắc Hồ Tây, làm giấy ta (giấy bản). Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng: tiếng chày giã giấy của làng Yên Thái nghe chểnh choảng lúc ban đêm có sương xuống. (ca dao: Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ).


 Nghi Tàm: làng Nghi Tàm cạnh Hồ Tây, làm nghề nuôi tằm và đánh cá.


 Hai phường dệt gấm: về đời Lê có phường Tích Sài, phường Bái An ở Hồ Tây làm nghề dệt gấm.


 Gò Châu Long: ở hồ Trúc Bạch.


 Non Phục Tượng: ở gần làng Thụy Chương có đền Voi Phục, nay ở cạnh đường Cầu Giấy.


 Hàn châm nghe cách giải sông Tô: tiếng hòn đá vỗ vải ở giải sông Tô Lịch.


 Ca thanh thảo: cuối đời Đông Hán có trẻ con hát rằng “Thiên lý thảo, hà thanh thanh” cỏ nghìn dặm. Sao xanh xanh? Gã Nịnh: ông Nịnh Thích đời Chiến Quốc đi chăn trâu, sau làm quan nước Tề. Câu này nói về người đi chăn trâu.


 Khúc Thương Lương: bài hát của người làm chài nước Sở rằng: nước sông Thương Lương trong thì ta giặt giải mũ, đục thì ta rửa chân. Chàng Chu: Chu Mãi Thần đời Hán đi kiếm củi mà vẫn chăm học, sau làm quan to. Câu này nói về người kiếm củi.


 Khán Sơn: núi này ở phía tây núi Nùng, nay còn di tích ở vườn Bách thảo Hà Nội.


 Lãnh thỏ: tục truyền trong mặt trăng có con thỏ giã thuốc tiên.


 Võng Thị: ở phía bắc Hồ Tây, làm nghề nấu rượu.


 Hy Hoàng: vua Phục Hy đời thượng cổ ở Trung Hoa. Ong Đào Tiềm đời Tấn bỏ quan về ở ẩn, nằm cao ở cửa sổ bên bắc, tự bảo mình là người ở trước đời vua Phục Hy.


 Gương thiềm: Hậu Hán Thư chép:nàng Hằng Nga uống thuốc tiên, bay lên mặt trăng, hóa làm con thiềm thừ. Người sau nhân gọi mặt trăng là thiềm thừ.


 Tam Sơn: tên một hòn núi nhỏ có 3 ngọn, gần Cửa Bắc Hà Nội, đã bị san phẳng, vị trí ở vào chỗ Cửa Bắc ngày nay.


 Hưng Khánh: niên hiệu vua Trần Duệ Tông.


 Dụ tượng: dụ voi. Đè mặt sóng đem đường dụ tượng: phải đi qua Hồ Tây mới đến núi Voi Phục.


 Kiền Phù: niên hiệu vua Lý Thái Tông.


 Nổi bụi tiêu tường: loạn ngay trong nhà. Chỉ những biến loạn trong cung phủ do mâu thuẫn Đặng Thị Huệ (vợ yêu của Trịnh Sâm) Trịnh Khải (con lớn của Trịnh Sâm) gây ra.


 Khoa đẩu: con nòng nọc. Xuôi ngược những vẫy đuôi khoa đẩu: trong hồ chỉ có con nòng nọc xuôi ngược mà thôi.


 Phạn vũ: nhà chùa. Sảng lãng: sáng sủa. Che màu sảng lãng: mờ tối đi.


 Tri thù: con nhện. Dọc ngang trao mắc võng tri thu: tha hồ cho con nhện chăng lưới.


 Tây Vực: cõi Tây, tức là cõi Phật ở. Sen chốn chốn đã bay về Tây Vực: ý nói cuối đời vua Lê Hiển Tông sen ở Hồ Tây chết cả.


 Đỗ vũ: con cuốc. Sử Trung Hoa chép: vua Vọng Đế nước Thục nhường ngôi vua đi ở ẩn, sau chết hóa làm con đỗ vũ.


 Hà mô: con ễnh ương. Vua Tấn Huệ Đế người ngu đần, nghe thấy con ễnh ương kêu, hỏi các quan rằng: con ễnh ương kêu như thế là vì việc công hay việc tư?


 Cày mây: đi cày ở dưới bóng mây. Bóng nghê: bóng cầu vồng. Sách Mạnh Tử: “Nhược đại hạn chi vọng vân nghê” nghĩa là như lúc trời đại hạn, mà trông mây và cầu vồng. Lần tưởng bóng nghe nghĩa bóng là đang loạn mong thấy thái bình.


 Thơ Thất nguyệt: thơ này ở trong Kinh Thi; ông Chu Công làm ra để kể cơ nghiệp nhà Chu khó nhọc. Mục thụ: trẻ chăn trâu. Thơ Thất nguyệt thở than cùng mục thụ: thở than với đứa chăn trâu về cơ nghiệp nhà vua.


 Tam mô: Kinh Thư có ba thiên Vũ mô, Cao dao mô và Ích tắc mô, toàn nói những mưu mô về chính trị. Tiều phu: người kiếm củi. Chữ tam mô bàn bạc với tiều phu: chỉ đem chính trị ra bàn với người kiếm củi chứ không bàn với triều đình.


 Nhạo thủy: Luận Ngư “Trí giả nhạo thủy” nghĩa là người trí thức yêu thích nước (vì người trí thức hoạt bát như nước chảy, cho nên thích chơi nước). Rạng quế: tương truyền mặt trăng có cây quế đỏ; rạng quế tức là cảnh mùa thu trăng tỏ. Om cầm khi rạng quế: ý nói nhìn cảnh trên trăng dưới nước mà có đàn cũng không muốn gảy.


 Yên cảnh: Lý Thái Bạch nói “Dương xuân triệu ngã dĩ yên cảnh” nghĩa là mùa xuân vời ta lấy cảnh đẹp.


 Đăng đài:  lên đài cao. Bay ngô: cổ văn: “Nhân gian nhất diệp ngô đồng phiêu” nghĩa là nhân gian một lá ngô đồng bay (lá ngô đồng rụng là cảnh thu). Gác bút buổi bay ngo: ý nói dẫu lúc đăng đài là cảnh mùa thu nên thơ mà cũng không có thơ đề vịnh gì.


 Trĩ: tường xây cao một trượng, dài ba trượng là một trĩ. Mỗi trượng bằng 4 thước tây. Thành xây trăm trĩ là một thành to.


 Gương loan: Sách Dị Uyển:  Diêm Tân Vương có một con chim loan, không chịu kêu; phu nhân nói rằng: chim loan trông thấy bóng thì kêu. Bèn treo cái gương soi vào nó, quả nhiên nó kêu. Duyên loan là nói duyên vợ chồng. Trước cố cung treo nửa mảnh gương loan: ý nói gặp loạn lạc, các nàng hầu trong cung tan nát cả.


 Mậu Thân: năm Nguyễn Huệ xưng hoàng đế.


 Năm Nguyễn Huệ dẹp yên giặc giã.


 Triêm nhu: ngấm nước mưa, tức là ngấm ân trạch nhà vua.


 Bảy cây: ở trên bờ Hồ Tây giáp với hồ Trúc Bạch, ngày trước có bảy cây to. Lăng vân: lấn đến mây, ý nói cây cao lắm.


 Nội Chu: vua Chu Vũ Vương thả trâu buông ngựa ra ngoài nội, tỏ ý không dùng đến việc binh nữa.


 Kình trầm ngạc lặn: kình là cá to, ngạc là cá sấu. Ý nói: có kình chìm, cá sấu lặn, ví như giặc giã đã yên.


 Ao Hán: Hán sử: Cung Toại nói: “Xích tử lộng giáp binh ư hoàng trì chi trung” nghĩa là trẻ con đùa giỡn áo giáp và đồ binh khí ở trong ao hoàng trì (ý nói giặc giã chẳng ra trò gì, cũng như trẻ con đùa bỡn). Ao Hàn nào mấy trẻ reo hò: ý nói không còn có giặc giã nữa.


 Cô Trúc: Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc, ở ẩn, không ăn thóc nhà Chu, hái rau Vi để ăn.


 Ao, Do: Sào Phủ, Hứ Do là hai người ở ẩn. Vua Nghiêu toan nhường ngôi vua cho Hứa Do, Hứa Do không muốn nghe chuyện ấy, đi rửa tai. Sào Phủ dắt trâu đi uống nước, thấy thế, bảo là làm bẩn chỗ nước ấy, lại dắt trâu đến bến phía trên cho uống.


 Tây hữu: Hán sử: “Tây vực hữu thần, kỳ danh viết phật” nghĩa là phương Tây có vị thần tên là Phật.


 Mạc hậu nhân: Tống sử: “Nhân hậu nhất mạch” nghĩa là một dòng nhân đức, phúc hậu.


 Cảnh hàn: chỗ đất lở, đắp hàn khẩu lại. Chỉ trụ: “Ngật chỉ trụ ư đồi ba” nghĩa là vững cột đá ở chỗ đổ sóng.


 Nước trí non nhân: Luận ngữ: “Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy” nghĩa là kẻ nhân giả ưa thích núi, người trí thức ưa thích nước.


 Đô du: khen là phải; đời Nghiêu Thuấn dùng để khen lời nói phải. Người ta dùng tiếng đô du để chỉ đời thịnh trị như đời Nghiêu Thuấn.


 Ngưu chử: bến con trâu vàng, chỉ Hồ Tây.


 Phương phu: phương là thơm, phu là phô bày ra. Phô bày các mùi thơm.


 Tua dua: sao này mọc về tháng tư. Ang tường vân đà cách độ tua dua: là quá tháng tư rồi.


 Cấn tượng: quẻ Cấn trong Kinh Dịch, một hào là khí âm, đây là vào tiết tháng năm.


 Tuế luật: đời cổ ở Trung Hoa làm ra ống luật bằng đồng hay bằng trúc, dùng để xem khí hậu trong một năm. Mỗi tháng một thứ ống riêng. Di tân: ống luật để xem khí hậu tháng năm, dài bảy tấc.


 Bay tro: Ong luật cắm xuống đất, một đầu có  tro, hễ đến ngày tiết ấy (đông chí, hạ chí) thì tro bay đi. Lò thiên địa: cổ văn: “Thiên địa vi lô” nghĩa là trời đất làm cái lò.


 Nhất dương: tháng mười là thuần âm, đến tháng mười một thì một khí dương sinh ra. Ý nói loạn đã lâu thì giờ lại trị.


 Cửa đạo: chín đường quỹ đạo của các vì sao luân chuyển trong không. Thất chính: tức là thất tinh (mặt trời, mặt trăng và năm vì sao Kim, Mộc. Thủy. Hỏa, Thổ). Tày ngôi thất chính: Kinh Thư “Dĩ tề thất chính” nghĩa là làm cho bảy vì sao đi đều đặn.


 Khâm kính: tức là kính cẩn .Hiệu đãng: rộng rãi bao la, tức là trời. Hương khâm kính xông miền hiệu đãng tức là tế trời.


 Huân phong: thứ gió ấm áp. Vua Thuấn gảy đàn, trong bản đàn có câu rằng:Nam phong chi huân hề” nghĩa là gió nam ấm áp vậy.


 Tấm đan thành dung khắp lũ nghiêu sô: dẫu đến kẻ thường dân như người kiếm củi hái rau, nếu có lòng trung nghĩa thực thà mà muốn tâu nói sự gì với vua, thì vua cũng dung nạp tất cả.


 Vu viên: đắp tường. Kinh Thi: thơ Hồng nhạn nói:”Dân chúng phải xiêu lưu, nay lại về đắp tường làm nhà, cũng giống như chim hồng, nhạn bay đi lại về chỗ cũ”.


 Chu Nhã: thơ Đại Nhã và Tiểu Nhã đời Chu trong Kinh Thi nói cảnh thái bình.


 Nghiêu cù: đường đi thời vua Nghiêu có ông lão hát vui vẻ.


 Dự du: vui chơi. Hạ ngạn: “Nhất du, nhất dự vi chư hầu độ” nghĩa là một vui một chơi làm khuôn phép cho chư hầu.


 Đèn chiếu thủy: đèn soi xuống nước. Đời Tấn, Ôn Kiệu đốt sừng tê soi thấy các loại ở dưới nước. Kinh, Vị: sông Kinh đục, sông Vị trong, ví như người thiện người ác khác nhau.


 Trống thôi hoa: vua Đường Minh Hoàng sai đánh một hồi trống, trông ra thì các hoa đã nở cả. Huân do: huân là cỏ thơm, do là cỏ hôi.


 Bờ liễu: vua Tùy Dương Đế sai dân trồng liễu trên bờ những con kênh đào để đi chơi cho đẹp mắt, do đó có tên bờ liễu (liễu đê).


 Lỗ kiến đùn khôn chuyển buổi nguồn xô: tục ngữ, ý nói tổ kiến vỡ đê. Đây nói đê đã vững vàng, dẫu có lỗ kiến đùn, nước nguồn xô đẩy cũng không vỡ được đê. Câu này ngụ ý nói cơ nghiệp Tây Sơn vững vàng lắm.


 Yên bề hu lịch: yên phận hèn như cây hu, cây lịch là loại cây gỗ xấu.


 Tang du: cây dâu, cây du, chỉ về cảnh già. Thẹn bóng tang du: ý nói thẹn tuổi già.


 Y ngữ: lời nói quê mùa.


 Dao đồ: cơ nghiệp qúy báu như ngọc dao, tức là nghiệp nhà vua. Muôn kỷ dao đồ: ngôi vua lâu dài muôn năm.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.


www.trieuxuan.info


 


 (*)  Nguyên văn chữ Hán trong Hàn các anh hoa. Toàn văn bản dịch tiếng Việt trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Quyển III, Hà Nội, 1963.




(*)  Bản dịch tiếng Việt của Phan Huy Lê-Đinh Xuân Lâm (gồm các chú thích), đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sư, số 79 - tháng 10-1965 (căn cứ bản dịch tiếng Pháp của De la Bissachère do C.B.Maybon công bố năm 1920 trong La relation sur le Tonkin et la Cochinchine de Mr de la Bissachère).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những cái chết bi tráng của Gia Định tam hùng: Đỗ Thanh Nhơn, Châu Văn Tiếp và Võ Tánh - Lê Nguyễn 16.10.2018
Việt Nam, nước sản xuất và xuất khẩu Hồ tiêu hàng đầu thế giới - Nguyễn Văn Lạng 15.10.2018
Phan Thanh Giản - Tiến sỹ Khai khoa của Nam Kỳ - và chuyện ông được giải oan - Phan Huy Lê 13.10.2018
Nhà giàn DK1 kiên cường trụ vững trước Bão Biển Đông - Nhiều tác giả 09.10.2018
Võ Trường Toản và “Gia Định Tam gia” - Lê Nguyễn 09.10.2018
Diễn văn của PTT Mỹ Mike Pence về vấn đề Trung Quốc, đọc tại Hudson Institute ngày 5/10/2018 - Michael Richard "Mike" Pence 07.10.2018
Việt sử Xứ Đàng Trong (4) - Phan Khoang 07.10.2018
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - vài nhận xét về cách dùng "ăn chay, ăn kiêng, ăn tạp, khem, cữ" (p12) - Nguyễn Cung Thông 07.10.2018
Cà phê Paris - Nhiều tác giả 06.10.2018
Coffee và Cà phê ở Pháp - Nhiều tác giả 06.10.2018
xem thêm »