tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24963200
28.11.2009
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (5)

Nếu như ta không thấy có huyền thoại gắn liền các loại củ, kê, bầu bí với việc đem lại cho con người một thời "hoàng kim", thì ta lại thấy phổ biến huyền thoại cây lúa tự mọc, tự về nhà, hạt to phải bổ ra mới nấu được, đem lại sự no ấm và nhàn hạ cho con người. Hình tượng của thời kỳ vàng son đó thường được phản ánh vào mơ ước về cuộc sống sau khi chết về bên kia thế giới ở đó "lúa tự mọc, tự về, tiếng hát, câu ca không lúc nào dứt". Điều đó phản ánh tầm quan trọng của lúa đối với đời sống con người cổ xưa lớn lao biết nhường nào. Nếu sự xuất hiện việc trồng các loại củ, kê, bầu bí làm lương thực chưa làm cho con người thóat khỏi cảnh săn bắn hái lượm, thì việc trồng lúa đã đưa con người ta đến một cuộc sống văn minh với nền kinh tế sản xuất là chính. ở đây cũng cần phân biệt việc thuần dưỡng lúa với việc đưa nghề trồng lúa trở thành hình thái kinh tế chủ yếu của cư dân là hai giai đoạn khác nhau và cách nhau rất xa. Nếu như ở thời văn hóa Hòa Bình có tìm thấy vết tích của lúa trồng  thì cũng chỉ tương ứng với giai đoạn thuần dưỡng lúa, còn phải đợi đến sau này ở thời kỳ đá đồng, với sự xuất hiện những mảnh đất trồng ít nhiều có sử dụng thủy lợi, lúa mới có thể trở nên cây lương thực chính nuôi sống con người. Phải chăng, thời kỳ đó là thời kỳ phù hợp với cuộc cách mạng đá đồng thường được các nhà Khảo cổ học nhắc đến và cũng là thời kỳ mà con người bước vào một xã hội có tổ chức cao, bước vào ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp. Thời kỳ đó là vào khoảng 4000 - 8000 năm trước đây.


Có thể xem như nương rẫy, mảnh đất trồng cạn, nếu không tính mảnh vườn nguyên thủy, chí ít cũng đã trải qua ba giai đoạn phát triển ở Việt Nam. Giai đoạn đầu là giai đoạn rẫy sơ khai. Tổ tiên các tộc người ở đây, dựa vào các chứng cứ Khảo cổ học cho biết, tuy sinh hoạt chủ yếu bằng săn bắn và hái lượm, đã biết trồng trọt trên những mảnh đất bằng hoặc độ dốc không đáng kể dưới chân núi. Họ đã biết trồng các loại bầu, bí (Lagenaria), dưa (Cucurbitaceae), rau, đậu (Pisum, Vicia, Phaseolus thuộc họ Đậu (Papilionoideae), cây ăn quả thuộc họ Mận (Rosacese) họ Cam quýt (Rutaceae), họ Môn (Araceae) họ Dứa dại (Pandanaceae), họ Táo (Rhamneceae), họ Bứa (Garcinia), họ Cọ (Palmae) họ Chuối (Musaceae) v.v... Ban đầu hình thái canh tác này còn rất hạn chế vì quy mô chưa to lớn, gắn liền với chiếc rìu đá, mà năng suất chặt cây còn rất thấp, và hiện nay không còn một cư dân nào ở Việt Nam còn duy trì nguyên vẹn. Giai đoạn thứ hai xuất hiện về sau, với việc trồng lúa, các loại ngũ cốc, các loại hòa thảo, bầu bí và cây có củ, hình thái này trở nên phổ biến. Đó cũng là nhờ sự xuất hiện chiếc rìu bằng kim khí, nhờ kỹ thuật canh tác đã điêu luyện, nhất là việc tính toán khá chính xác nông lịch phù hợp với từng địa phương, với việc bảo vệ các cây trồng khỏi nạn thú rừng tàn phá đã có hiệu quả nhất định. Nên từ đó đến nay, tính chất của rẫy không thể xem là sơ khai nữa, mà là một hình thái canh tác đã phát triển thích ứng với một miền nhiệt đới, ở đấy kỹ thuật nông nghiệp này đòi hỏi một loạt những hoạt động phức tạp thứ tự, nối tiếp nhau và phối hợp với nhau rất khéo léo. Điển hình cho giai đoạn này có thể thấy ở vùng người Xơ Đăng, M’nông, hay có thể nói là ở các cư dân Môn – Khmer, Việt - Mường núi. Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ khi các nhóm H’mông - Dao, Tạng - Miến, một bộ phận của người Tày, Nùng, Thái... với việc sử dụng chiếc cuốc và cày trên rẫy, đã dẫn hình thức canh tác này đến giai đoạn suy vong của nó. Ngược lại, các nhóm Ê Đê, Gia Rai, Ba Na... với việc sử dụng nhiều loại công cụ cuốc khác nhau, đã dẫn hình thức này vững chắc chuyển sang hình thức ruộng khô trên cao


nguyên đất đỏ bằng cách be bờ giữ nước... Các cư dân Tạng - Miến, H’mông - Dao, Cơ Lao (hay Kađai) cũng lại chuyển đất trên rẻo cao và sườn núi thành những d•y ruộng bậc thang tuyệt mỹ ở miền núi phía Bắc.


1. Chu kỳ canh tác nương rẫy


Chu kỳ canh tác nương rẫy được tính từ khi phát đốt cho đến khi rừng bị bỏ hóa ngắn, dài phụ thuộc vào tính chất của rừng, độ dốc của đất, lượng màu của thực bì cung cấp cho cây trồng và đặc tính canh tác của từng cư dân bao gồm các hoạt động: chọn đất, phát đốt, gieo hạt, chăm sóc và bảo vệ rẫy, thu hoạch, đốt, gieo hạt... Quá trình đó phụ thuộc vào điều kiện thời tiết từng địa phương mà quy định. ở vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam thường có hai mùa rõ rệt: mùa khô, rét và mùa mưa ẩm ướt, nóng. Từ tháng 3 cho đến tháng 5, tháng 6, trời ấm lên khỏang trên 30oC, lại bắt đầu có những trận mưa đầu mùa, độ ẩm thuận lợi cho việc gieo trồng. Sang tháng 7, tháng 8, lũ lụt đã xảy ra, việc gieo trồng trên rẫy khó thực hiện, nên ở đây, việc làm theo đúng thời vụ rất quan trọng. Với kinh nghiệm tích lũy từ đời này qua đời khác, các cư dân làm rẫy đã tự định cho mình một nông lịch riêng rất cụ thể, sít sao, thích ứng với sinh hoạt theo nương rẫy, chứng tỏ trình độ canh tác đã thuần thục, không còn mang tính ngẫu nhiên, nguyên thủy nữa. Nông lịch mang tính thống nhất của chu kỳ gieo trồng thường bắt đầu hoặc từ khi phát đốt, chọc trỉa cho đến khi thu hoạch. Người dân Trường Sơn – Tây Nguyên coi thời gian từ ngày thu hoạch đến khi bắt đầu lao động sản xuất mùa sau là thời gian Tết. Nếu so với Tết âm lịch ngày đó thường muộn hơn một vài tháng. Đặc biệt, ngày sấm đầu năm có thể coi là ngày báo hiệu một năm mới, năm lao động, năm của sự sống. Có thể nói đây là ngày mở đầu quá trình canh tác, ngày kết thúc một giai đoạn nghỉ sản xuất, nhàn hạ. Phải chăng, xưa ở vùng phương Nam này, ngày sấm đầu năm được coi là ngày Tết. Tộc người Việt và nhiều tộc người miền núi miền Bắc như Tày - Thái, Mường..., cho đến gần đây vẫn có tục đến ngày sấm ra, gia chủ sửa sang lại ban thờ, lau rửa ấm chén, đồ thờ, lấy nước mới, cúng gia tiên, với tâm thức tống cựu, nghênh tân. Ngày đó sau được thay bằng Tết Nguyên Đán theo như tục lệ người Hán.


a) Việc phát đốt nương rẫy


Theo kinh nghiệm cổ truyền, đất tốt nhất cho việc trồng trọt nương rẫy là những khu rừng thường cây có độ tuổi khỏang 15 đến 35 năm tùy theo chất đất, ở những sườn đối hay núi đất có độ dốc từ 0 - 30o, nằm phơi ra ánh mặt trời, có một độ mùn dày do lá rụng xuống, màu nâu vàng xám hay đen, tơi xốp. Đất không mặn, chua, dính tay và dẻo quánh. ở đây, có hiện tượng fêratêric hóa. Vào khỏang tháng hai hay tháng ba, những chủ nhà giàu kinh nghiệm đi tìm đất. Một khi đã ưng ý, họ đánh dấu để khẳng định quyền chiếm hữu. Có nhiều cách đánh dấu tùy theo từng địa phương, từng tộc người, có thể là chiếc ta-leo, mảnh đan hình mắt cáo, cắm trên một chiếc que, hoặc đánh dấu chữ thập chéo ở thân cây to hay bẻ cành cây đầy lá cắm làm dấu hoặc phát quang xung quanh miếng đất định gieo trồng.


Công cụ và phương pháp chặt phát rẫy thường ít khác nhau, tuy nhiên có sự khác biệt nhất định giữa phía nam và phía bắc đất nước. Chặt phát thường dùng rìu, dao và sà gạc (chà gạc) tùy nơi. ở đây, không còn bóng dáng chiếc rìu lưỡi bằng đá hay bằng đồng, mà bằng sắt. Có ba loại rìu: loại rìu cán kép có mỏ cán dài, rìu cán kép không có mỏ cán và rìu tra cán qua họng lưỡi.


Hai loại rìu trên, mỏ dài, thẳng hay cong, lưỡi hình tứ giác hay hơi xòe, hơi cong về phía tay cầm, hay không có mỏ cán thường thấy ở các cư dân phía Nam, đặc biệt là cư dân Trường Sơn – Tây Nguyên. Loại rìu thứ ba thường thấy ở phía Bắc, cả dưới đồng bằng và trên miền núi. Rìu là công cụ của nam giới với chức năng cơ bản là chặt cây lớn phục vụ cho việc canh tác nương rẫy, đồng thời cho việc làm nhà, chế tạo dụng cụ hằng ngày. ở Trường Sơn – Tây Nguyên rìu còn dùng để đẽo quan tài và chế tác tượng nhà mồ.


Dao phát dùng để chặt, phát cây, các loại dây leo, phát cỏ... Dao quắm phổ biến ở hầu hết các tộc người của nước ta. Ngược lại, người Việt Bắc Bộ, người Mường, người Tày, Nùng, Thái lại ít hay không dùng loại dao quắm, mà dùng loại dao thẳng giống như một số cư dân miền Tây Đông Dương và Trung Hoa. Cách tra cán có loại tra chuôi lưỡi dọc thân cán (Việt, Trường Sơn – Tây Nguyên) và tra cán vào họng của dao (H’mông, Thái...). Dao có loại dài, có loại ngắn, loại riêng cho đàn ông, loại riêng cho phụ nữ. Dao đóng vai trò quan trọng trong đời sống đồng bào miền rừng nhiệt đới. Người Thái có sự tích để phân biệt ba loại người của ba thế giới: Người ở trần gian, đeo dao ở thắt lưng, người ở trên tầng mây, đeo dao ở cổ, người ở dưới mặt đất đeo dao ở chân. Dao cũng còn dùng để phát bờ ruộng nước hay làm vườn.


Sà gạc là loại công cụ phổ biến ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, còn thấy ở các cư dân thiểu số ở Hạ Lào. Có hai loại sà gạc. Loại dùng làm vũ khí chiến đấu lưỡi có hai ngạnh, có khi ba ngạnh; loại dùng để chặt, phát rẫy, lưỡi thẳng, đầu lưỡi vuông cạnh hay cong như chiếc dao quắm. Cán sà gạc làm bằng đoạn tiếp giữa gốc và thân cây le, một loại tre đặc biệt ở miền núi miền Trung Đông Dương, đầu cán cong, bền chắc, chuôi của lưỡi xuyên qua chỗ cong của cán.


Hình dáng, kích thước cũng như cách sử dụng các loại rìu, dao, sà gạc có điểm khác nhau nhất định tùy theo từng tộc người, từng nhóm địa phương. Người dân ít khi dời hai thứ công cụ đa năng dao hay sà gạc này khi xa nhà.


Việc sử dụng rìu, dao hay sà gạc giúp một người đàn ông trong một ngày có thể đốn ng• từ 25 đến 30 cây có đường kính từ 50 đến 60 cm. Hai lao động một nam, một nữ có thể phát một khu rừng chừng một đến hai hécta trong một vụ. Do vậy, hình thức canh tác nương rẫy đã trở thành hình thức trồng trọt phổ biến ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Phát rẫy cũng tùy theo tộc người, thậm chí từng dòng họ, có thể từ thấp lên cao, hay từ tây sang đông và ngược lại.


Phụ nữ thường phát quang những cây nhỏ và dây leo cho đổ rạp xuống. Nam giới dùng rìu, dao hay sà gạc ngả các cây to, chặt rời từng cành. Đối với các cây quá to, họ lột vỏ hay đẽo một khoanh vỏ xung quanh thân để cho cây chết dần. Qua 1 - 2 tháng, khi cây đã khô họ mới tiến hành đốt. Dân ở đây có kinh nghiệm phát quang một khoảnh xung quanh chỗ định đốt, lựa theo chiều gió thổi để châm mồi lửa nên ít xảy ra nạn cháy rừng. Sau khi đốt xong, họ gom dọn các cành, thân cây cháy chưa hết chất thành đống đốt tiếp.


Tiếp đó, nếu là các tộc người "ăn" nương, hay các tộc người làm ruộng là chủ yếu, nhưng có rẫy rộng ở xa nhà, thì chủ rẫy dựng lều nương trên miếng đất được phát làm nơi cư trú tạm thời. Lều nương thường đơn giản, nhưng cũng có đủ vườn tược, chuồng heo, chuồng gà...


b) Việc gieo trồng, tra hạt


Tùy theo từng loại rẫy, đồng bào tính toán nên trồng loại cây gì. Nếu rẫy tốt thì trồng lúa rồi đến ngô, khoai, sắn. Theo các tộc người ở Tây Bắc, như người Khơ Mú, chỉ trồng mạch ba góc hay ý dĩ (Croix lachryma jobi L.) khi nương đã kiệt màu. Có nhiều loại lúa nương, tất cả đều thuộc loại Oriza Sativa Linvar glucotisa. Bên cạnh lúa, đồng bào còn trồng ngô, bầu bí, các loại khoai sọ (Colocasia antiquorum Shott), các loại củ mài (Dioscoréa alata L.), lúa Miến (Sorghum saccharatum) kê, kê Chân Vịt (Eleurine Coracana (L) Gaerta), vừng, lạc, sả, riềng, tỏi, các loại cà, các loại rau. Ngoài ra, còn có các vườn thuốc phiện, chàm, bông, đay, gai... trên rẫy (sẽ trình bày sau).


Cách gieo trồng rất phong phú, đặc biệt là phương pháp xen canh, gối vụ, đã được một số nhà nông học giới thiệu, vừa có tác dụng tiết kiệm đất, giữ lớp đất màu, chậm xói mòn.


Xuất phát từ chiếc gậy xưa dùng để hái lượm, săn bắt hay làm vũ khí (lao, giáo), gậy chọc lỗ là nông cụ thích hợp nhất với canh tác nương rẫy trong việc xới đất gieo hạt, tránh được nạn xói mòn, bảo vệ lớp đất mùn. Một số cư dân vì điều kiện lịch sử phải trở lại với nương rẫy, đã dùng cuốc, cày xới đất trên nương dốc, chỉ làm đất nhanh bạc màu (H’mông - Dao, Việt, Tày - Thái...). Có nhiều loại gậy chọc lỗ. Loại đơn giản nhất là khi lên nương, đồng bào mới tìm đẵn xung quanh một chiếc gậy thích hợp với chủ nhân, khi dùng xong, họ vứt bỏ. Rõ ràng đây chưa thành một công cụ hẳn hoi, có thể gọi là tiền công cụ hay một công cụ tạm thời.


Loại công cụ đơn chỉ xuất hiện khi đồng bào đẽo chiếc gậy bằng một thứ gỗ chắc, bền. ở Tây Bắc, các tộc người thường chọn một loại cây chỉ mọc ở núi đá vôi – tiếng Thái gọi là mạy cu, hoặc bằng gỗ lim, táu, cẩm lai, săng lẻ... Có loại công cụ kép, đầu nhọn của chiếc gậy được bịt sắt hoặc có thêm một lưỡi sắt như một chiếc mai. Chiều dài của cán có thể tới 1,8 – 2 m, hoặc ngắn khoảng 1,2 - 1,5 m, tùy theo cách sử dụng. Đặc biệt, người Khơ Mú còn nối chiếc gậy liền với nhạc cụ. Gậy dài tới 5 m gồm ba phần: Phần đầu nhọn làm bằng gỗ cứng, cán là thân tre dài, một loại nhạc cụ đơn giản lắp trên đầu cán, dùng làm nhịp cho người tra hạt, đồng thời cũng dùng để múa trong điệu tăng bu quen thuộc. Loại này thấy ở tộc người Bagôlô ở Philippin.


Có nhiều cách tra hạt. Cách thông thường nhất là một nam vừa chọc lỗ, vừa lùi, một nữ vừa tra hạt, vừa tiến, hoặc nam giới hay nữ giới vừa chọc lỗ, vừa tra hạt. ở đây không thấy cách gieo v•i (sạ), vì sợ chim mổ hạt, mà mỗi lỗ thường tra 3, 4 hạt lúa, rồi dùng tay quờ đất lấp kín. ở một số tộc người như Gia Rai, Ê Đê, người đàn ông dùng hai tay cầm hai gậy chọc lỗ. Tốc độ chọc lỗ rất nhanh theo một nhịp đều đặn, trung bình một buổi được một thửa khỏang ngàn mét vuông, với công sức một nam (chọc lỗ), với một có khi hai nữ đi theo tra hạt. Việc dùng hai gậy chọc lỗ chỉ tiến hành ở các nương bằng phẳng hay ruộng khô mà thôi.


c) Việc bảo vệ và chăm sóc nương rẫy


Việc bảo vệ chăm sóc nương rẫy là điều rất quan trọng nhằm chống lại sự phá hoại của chim muông, thú rừng. Sau khi tra hạt, đồng bào phải ở trên lều nương xua đuổi chim chóc không cho chúng mổ hạt cho đến khi hạt nảy mầm, mọc cao được 5-10 cm mới về. Sau đó, họ phải rào nương chuẩn bị cho lúa trổ bông, ngô có bắp, khoai sắn bắt đầu có củ. Có nhiều hình thức bảo vệ:


1. Rào nương. Vì nương rộng, đồng bào chỉ rào những nơi thú rừng hay qua lại hay phía gần nhà tránh trâu, bò, lợn phá hoại nhiều hơn là thú rừng; 2. Để xua đuổi chim thú, đồng bào dùng mõ, khánh buộc vào các dây chăng từ lều nương tỏa đi khắp rẫy;


3. Dùng các loại "bù nhìn" cắm trên nương cho chim đến sợ bay đi. Đối với sâu bọ, họ đốt giẻ rách, các cây có nhiều khói, có chất dầu cay để xua đuổi hay diệt trừ; 4. Cách tấn công bằng bẫy, chông, thò, bằng săn bắn sẽ trình bày sau. 5. Có tộc người còn gián tiếp bảo vệ cây lương thực chính (thường là lúa) bằng cách trồng xung quanh sắn, khoai, các loại rau đậu...


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Toàn văn điếu văn của cựu tổng thống Bush tại lễ tang cha - Tư liệu 09.12.2018
Tự bạch của cụ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha & Thư Tuyệt mệnh gửi Hồ Chủ tịch - Thiều Chửu 08.12.2018
Thư tuyệt mệnh của Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha gửi Hồ Chủ tịch - Thiều Chửu 08.12.2018
Tỉnh Trà Vinh - Tư liệu 05.12.2018
Danh sách Tướng Công an bị vướng vòng kỷ luật và lao lý... - Nguyễn Thế Thanh 05.12.2018
Chuyện biệt thự ông Tố Hữu, bây giờ mới kể - Quốc Phong 03.12.2018
Thư Nguyễn Khắc Viện gửi Tố Hữu - Nguyễn Khắc Viện 02.12.2018
Bài học dạy con trứ danh của cố Thủ tướng Đài Loan - Tôn Vận Tuyền (Sun Yun-suan) 29.11.2018
Một thời ấu trĩ quá hóa sai lầm nghiêm trọng! - Đánh tư sản - Huy Đức 27.11.2018
Quyền tự chủ chính trị - Từ bị kịch dân tộc Ukraina, nghĩ về tình huống dân tộc ngày hôm nay - Tư liệu sưu tầm 26.11.2018
xem thêm »