tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30201267
22.10.2019
Vũ Ngọc Hoàng
Trao đổi tiếp về chuyện Biển Đông


Sau bài viết “Trao đổi nhanh về chuyện Biển Đông” đầu tháng 9 vừa qua, tôi đã nhận được nhiều ý kiến bình luận, phản biện. Trước hết, tôi rất cảm ơn quý anh chị và bạn đọc. Nhân đây, xin được trao đổi tiếp về chuyện Biển Đông xung quanh các ý kiến phản biện đó.


 


1.Có ý kiến cho rằng, hiện tại xét về tương quan lực lượng thì Trung Quốc mạnh hơn ta nhiều, ta không đủ sức chống lại họ, mà cũng không thể bài Hoa, kiện là có cớ để họ lấn tới, tấn công ta. Tôi xin thưa, ta đâu có định chống Trung Quốc. Đây chỉ là quyền tự vệ chính đáng bằng giải pháp hòa bình của một dân tộc văn hiến, có chủ quyền và biết tự trọng, chứ đi chống Trung Quốc để làm gì. Ta chỉ muốn sống hòa hiếu, hữu hảo thật lòng với láng giềng, trong đó có Trung Quốc, và bạn bè quốc tế năm châu. Bao đời nay Việt Nam vốn là một dân tộc yêu hòa bình và đường lối ngày nay là muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới.


 


Ta cũng không hề có ý định bài Hoa, mà bài làm sao được khi hai dân tộc sống gần cạnh nhau đã do thiên định, nhân dân hai bên biên giới sáng sớm nào cũng nghe tiếng gà gáy của nhau, và Việt Nam cũng rất cần có thị trường lớn bên cạnh để cùng nhau hợp tác phát triển trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau


 


Còn việc ta phải kiện Trung Quốc như tôi đã nói là vì họ ép ta phải làm thế, ta càng nhân nhượng họ càng lấn tới, họ đã xúc phạm ta, nên không có cách khác, không thể để chân lý bị chà đạp, chủ quyền quốc gia và các quyền lợi chính đáng của dân tộc bị cường bạo cưỡng chiếm. Không kiện là hữu khuynh, coi chừng thỏa hiệp vô nguyên tắc. Kiện để mở đường, để làm cơ sở cho các đấu tranh tiếp theo. Nếu chỉ đấu tranh song phương thì lâu nay đã làm, và không có kết quả, dễ bề cho họ ép ta. Cần phải đa phương, phải quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, dựa vào luật pháp và cộng đồng quốc tế để đấu tranh. Có ý kiến bảo nên bắt đầu bằng việc đưa vấn đề Trung Quốc giành biển của Việt Nam ra Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đồng thời tiếp tục kiện ra quốc tế. Kiện về chuyện Bãi Tư Chính và Hoàng Sa, Trường Sa nữa, từng vụ cho từng vấn đề. Tôi nghĩ thế là rất cần thiết, đáng lẽ phải làm sớm rồi, còn kiện cụ thể những gì và như thế nào thì chắc chắn các nhà nghiên cứu luật pháp sẽ thông thái hơn tôi. Việc khởi kiện cũng nên khẩn trương làm ngay, càng sớm càng tốt, vì họ đang ngày càng lấn tới, để càng lâu càng khó, và hành động thực tế của họ đã vượt qua ranh giới đỏ rồi. Gần đây, họ còn tuyên bố một cách ngạo mạn rằng khu vực bãi Tư Chính là của họ, rồi họ kêu gọi Việt Nam đối thoại hòa bình, mặt khác cùng lúc họ tiếp tục cho nhiều tàu lớn lấn sâu hơn vào phía bờ biển của Việt Nam, chỉ còn cách đất liền một đoạn ngắn. Cần phải rất cảnh giác với các chiêu bài của Trung Quốc. Đối thoại là đối thoại vấn đề gì phải cho rõ. Bãi Tư Chính đang yên ổn là của Việt Nam, luật pháp quốc tế cũng đã rành rành như vậy, nhưng họ đang chuyển sang vùng tranh chấp, coi chừng ta lại mắc mưu. Họ đi những “nước cờ” rất bài bản với âm mưu thâm sâu, ta không thể đối phó từng nước một trong thế bị động và lúng túng. Và cần phải chống “nhóm lợi ích” thân Tàu, coi chừng chúng nó bán rẽ Tổ Quốc ta cho Phương Bắc.


 


Về chuyện tương quan lực lượng thì từ ngày xưa đã thế, Trung Quốc lúc nào cũng to lớn hơn Việt Nam. Mười mấy lần họ xâm lăng nước ta trước đây xét về tương quan lực lượng vật chất họ đều mạnh hơn ta. Trong các cuộc kháng chiến vệ quốc trước đây, Việt Nam thậm chí đã phải bắt đầu bằng gậy tầm vông. Tương quan lực lượng ngày ấy còn chênh lệch hơn nhiều so với bây giờ, thế mà cha ông ta đã dám hành động dũng cảm, rất đáng tự hào và kính trọng. Từ xưa đến nay Việt Nam chưa bao giờ gây chuyện với Trung Quốc, mà chỉ có việc Trung Quốc luôn ức hiếp và nhiều lần xâm lược Việt Nam. Họ luôn có âm mưu thâm hiểm muốn biến nước ta thành thuộc quốc chư hầu của họ. Chẳng lẽ vì tương quan lực lượng của ta yếu hơn mà đất nước và dân tộc này phải cúi đầu nhịn nhục, không có quyền ngẩng lên để đấu tranh tự vệ. Và ngày nay vấn đề tương quan lực lượng cần được hiểu theo tư duy mở, trong đó có yếu tố con người, truyền thống văn hóa, chân lý, bạn bè và luật pháp quốc tế nữa.


 


Còn ý kiến nói rằng nếu ta chống lại họ thì tạo cớ cho Trung Quốc tấn công lấy biển của ta? Vì sao lại xem việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng của Việt Nam là tạo cớ cho kẻ xâm lăng thực hiện âm mưu. Quả là một kiểu tư duy không thể hiểu nổi. Đó chỉ là kiểu ngụy biện cho một sự nhu nhược về tinh thần và bản lĩnh. Thực ra họ chẳng cần cái cớ ấy đâu. Chính họ đã tạo ra rồi cái cớ hết sức vô lý khi nói vùng biển của Việt Nam là của họ, còn Việt Nam từ chủ nhân họ vu cáo là kẻ xâm phạm đấy thôi.


 


Có ý kiến giải thích rằng Trung Quốc đã làm được gì ở đó đâu, còn VN ta đã đặt được dàn khoan ở Bãi Tư Chính rồi, đất nước vẫn hòa bình yên ổn, thế mới là sách hay và khôn khéo, có chuyện gì đâu mà phải la ầm lên. Nghe nói vậy càng thấy buồn lo. Ta đặt dàn khoan trên phần lãnh hải thuộc chủ quyền của đất nước ta, sao lại đi so sánh với việc Trung Quốc ngang nhiên tự do đi vào “vườn nhà” của ta. Họ còn nói đó là vùng chủ quyền của họ và yêu cầu ta phải rút đi. Thật là một sự xúc phạm! Thực tế họ đã xâm lăng ta mấy tháng nay rồi và đang biến một vùng biển rộng lớn của ta thành của họ, thế mà lại nói họ chưa làm được gì. Sao lại phải biện minh cho hành vi ngang ngược của kẻ xâm lăng? Tại sao lại phải ru ngũ nhân dân? Biện minh theo kiểu đó thì vô tình hoặc cố ý làm lợi cho kẻ xâm lăng.


 


Lần này coi ra họ rất quyết liệt hành động. Việc chiếm được biển của Việt Nam có ý nghĩa lớn lao đối với họ, còn không chiếm được thì chiến lược về giấc mộng Trung Hoa có thể bị phá sản. Và họ nhận thấy lúc này về phía Việt Nam có những yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện âm mưu của họ. Trung Quốc đang sử dụng kế sách “không cần đánh mà vẫn thắng”, tức là không cần nổ súng vẫn lấy được biển, đó là thượng sách. Họ vừa muốn chiếm biển của ta, vừa không muốn “mất” Việt Nam, tức là vẫn giữ được một VN nằm trong tầm kiểm soát của họ. Vì vậy, tốt nhất là làm sao lấy được biển mà VN ít phản đối hoặc là chỉ phản đối chiếu lệ. Nhưng đồng thời họ cũng hăm dọa bằng tàu lớn súng nhiều và sẵn sàng động binh. Còn diễn biến thực tế trên chiến trường mấy tháng nay thì rõ ràng họ đang tiến và ta đang thua từng bước. Họ tiến vào ngày càng sâu hơn, gần đất liền hơn. Từ chỗ họ nói Tư Chính là vùng tranh chấp rồi sau đó họ nhanh chóng chuyển sang nói là vùng biển của họ và vu cáo cho Việt Nam cố tình lấn chiếm, yêu cầu Việt Nam phải rút đi, rồi bảo Việt Nam phải đối thoại để cùng khai thác…


 


Tình hình thật nghiêm trọng nhưng nhiều người vẫn tỏ ra như chưa có gì nghiêm trọng. Mấy tháng nay họ đã vào ra vùng biển của ta nhiều lần, như đi chợ, như ao nhà của họ. Có đợt cả tháng sau ta mới lên tiếng. Đẩy đuổi thì xem ra không đủ sức làm lâu dài. Lên án cũng không ra lên án. Đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân VN và thế giới biết bản chất của vấn đề cũng không làm. La làng lên cho mọi người biết là kẻ cướp đã đột nhập nhà tôi cũng không. Kiện cũng không chịu kiện. Tăng thêm đối tác chiến lược mới cũng không. Hợp tác quân sự mới cũng không thấy…. Nói chung dân chúng không hiểu thái độ và đối sách của lãnh đạo nước ta ra sao. Mà xem ra đây cũng không phải là sự bình tỉnh của một cao thủ có kế sâu nên nhiều người đã bảo “chẳng hiểu vì sao mà phải thế”.


 


Có người phê bình rằng các ý kiến từ nhân dân không hiểu hết tình hình nên nhận định, đề xuất không phù hợp. Thậm chí có ý kiến còn phê phán chì chiết những tiếng nói từ những người yêu nước. Trong nhân dân, có người không đủ thông tin như lãnh đạo cũng là chuyện bình thường, nhưng có thể họ lại hiểu lòng dân hơn lãnh đạo. Ý kiến nào không hiểu tình hình mà nói không đúng thì nên chỉ ra, nói lại xem thử thế nào là đúng. Nhưng riêng việc mấy tháng nay Trung Quốc liên tục (gần như thường xuyên) xâm phạm biển của Việt Nam một cách trắng trợn, họ tuyên bố đó là biển của họ, Việt Nam thì không la, không kiện, không nói rõ cho nhân dân biết, đặc biệt lãnh đạo đất nước không lên tiếng mạnh mẽ rõ ràng quan điểm…, đó có phải là sự thật hay dân nói sai? Thực tế mấy tháng nay quốc dân đồng bào không được các cơ quan hữu trách hoặc báo chí chính thống thông tin kịp thời và đầy đủ cho biết tình hình Biển Đông của Việt Nam đang bị xâm phạm. Cứ làm như mọi việc vẫn bình thường, không có chuyện gì xảy ra, thậm chí kẻ xâm lăng vẫn còn được coi là “đối tác chiến lược toàn diện” quan trọng nhất của VN. Tại sao không thông báo kịp thời mọi việc cho nhân dân biết rõ tình hình? Phải chăng sự quan tâm của nhân dân đối với chủ quyền của đất nước là không cần thiết, đó không phải là việc của nhân dân? Tất nhiên gần đây báo chí chính thống ít nhiều cũng đã có nói đến, dù chỉ ở mức độ hết sức khiêm tốn. Hãy nhớ rằng, từ lâu Trung Quốc đã tác động nhiều thông tin ra thế giới và trong nước để chuẩn bị dư luận, và hiện nay họ vẫn đang ngày đêm tác động thông tin để nhiễu loạn phía Việt Nam. Còn phía ta, cần xem lại ta đang ứng xử ra sao đối với tình hình đất nước rất nghiêm trọng vì chủ quyền của quốc gia đang bị xâm phạm? Trong số những người dân yêu nước có thể người này người khác có lúc nóng nảy, nói sai điểm này điểm khác, đụng chạm…thì nói lại, uốn nắn. Nhưng phải biết quý trọng tấm lòng của họ, nuôi dưỡng, hun đúc và tích góp chí khí của dân tộc để mà giữ nước. Không nên, không được làm điều gì gây tổn thương cho lòng yêu nước của nhân dân.Một số ý kiến phản biện rằng, nói đến liên minh quân sự là nguy hiểm, dễ gây ra chiến tranh. Mà họ cũng đã nổ súng đâu, đã có chiến tranh đâu mà nói đến liên minh chiến đấu. Lần trước tôi cũng đã nói không liên minh quân sự với ai để chống nước khác là quan điểm đúng đắn. Việc đó cũng là thể hiện tinh thần của một dân tộc yêu hòa bình, ghét hiếu chiến. Nhưng trong tình thế đất nước bị xâm lăng thì cần liên minh để bảo vệ chủ quyền. Chẳng lẽ thà chịu mất nước chứ nhất định không được liên minh chiến đấu để bảo vệ? Như ta đã biết và thường ca ngợi chiến thắng của phe Đồng Minh trong đại chiến thế giới II – đó chính là một liên minh chiến đấu vì hòa bình. Và khi ấy Việt Nam cũng đã đứng về phe Đồng Minh. Việt Nam và Lào đã nhiều lần cùng liên minh chiến đấu mà đến nay ta vẫn luôn ca ngợi liên minh ấy. Sau năm 1975 Việt Nam và Liên-xô cũng có lúc như vậy. Những lúc ấy, đó là sự cần thiết của tinh thần tự vệ chính đáng. Còn nói họ đã làm gì đâu mà ta lại tính đến việc liên minh chiến đấu? Sao lại biện minh là họ chưa làm gì? Họ đã chính thức xâm chiếm lãnh hải tức là một phần Tổ Quốc của chúng ta bị xâm lăng rồi, chứ sao lại nói “họ đã làm gì đâu”. Chẳng lẽ đợi đến khi “chậm mất rồi”, “thua mất rồi” thì mới bàn đến việc liên minh chiến đấu để tự vệ? Chủ động chuẩn bị tốt các biện pháp bảo vệ đất nước cũng là một cách phòng ngừa để chiến tranh không xảy ra. Còn nếu cuối cùng nó vẫn xảy ra thì đó là việc do đối phương muốn vậy, ngoài ý muốn của ta. Trong trường hợp ấy chúng ta sẽ chủ động hơn.


 


Trước đây có lúc Việt Nam đã ủng hộ và tham gia phong trào không liên kết. Gần đây cũng có ý kiến bảo chỉ cần nói Việt Nam không liên kết với bất cứ nước nào, bên nào là đủ rồi. Tôi cũng nhất trí với ý kiến ấy, nhưng đó là nói về đường lối đối ngoại đối với các vấn đề khác không liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trong quan hệ quốc tế (ví dụ trong chiến tranh thương mại Mỹ-Trung hoặc các cuộc xung đột trên thế giới và khu vực). Riêng đối với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam thì tôi giữ ý kiến sẳn sàng liên minh với bất kỳ nước nào ủng hộ chủ quyền của ta để tự vệ chính đáng. Tất nhiên là không ỷ lại dựa dẫm ai và hành động liên minh đó trên thực tế chỉ thực hiện khi có xung đột. Nhưng về nhận thức, quan điểm thì phải xác định trước, chứ đợi đến lúc xảy ra xung đột rồi mới triệu tập họp lại để bàn thì quá trễ. Trong thời đại công nghệ ngày nay, những nước như Việt Nam ta chưa đủ điều kiện về công nghệ thì càng phải có liên minh mới sử dụng được hệ điều hành từ vệ tinh của nước này hay nước khác.


 


Có người hỏi lại “nếu liên minh chiến đấu thì liên minh với ai và như thế nào?”. Đó là công việc của các nhà quân sự, họ sẽ thông thái hơn chúng ta, và tôi tin rằng họ sẽ không bó tay để đưa lưng cho người ta bắn và ngồi nhìn chủ quyền quốc gia thiêng liêng bị người khác cưỡng chiếm và xúc phạm. Ngày nay, các vấn đề chính trị, quân sự trong đối ngoại nhìn chung thường có gắn với lợi ích kinh tế. Phần biển đông thuộc nước ta đang chứa rất nhiều khoáng sản có giá trị lớn. Cần đẩy mạnh khai thác để có nguồn tài chính cho hiện đại hóa đất nước, không cần phải “để dành” mà kẻ tham dòm ngó và âm mưu cướp bóc. Tất nhiên chuyện Biển Đông không chỉ là tài nguyên mà còn vị thế chiến lược về địa kinh tế và địa chính trị mới quan trọng hơn nhiều. Ta có thể mở cửa rộng hơn với chính sách thuế phù hợp và thủ tục pháp lý thuận tiện để khuyến khích các đối tác từ các nước tôn trọng chủ quyền của VN vào hợp tác đầu tư khai thác theo luật pháp của Việt Nam và đôi bên cùng có lợi (ví dụ như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ấn Độ, Nga, Ôxtrailia…). Đồng thời ta đề xuất phương án cùng nhau liên minh bảo vệ vùng biển này để bảo đảm cho công việc đầu tư khai thác được an toàn và an ninh. Còn Trung Quốc, khi nào họ thay đổi quan điểm, tôn trọng chủ quyền biển đảo của Việt Nam thì ta hoan nghênh và cũng mời họ vào tham gia hợp tác khai thác như các đối tác nói trên.Khi tôi nhấn mạnh mục tiêu “dân tộc và dân chủ” thì có ý kiến nói “còn mục tiêu Xã Hội Chủ Nghĩa nữa chứ”. Tôi hiểu ý kiến này muốn nói đến mục tiêu XHCN gắn với ý thức hệ trong mối quan hệ với Trung Quốc. Tôi không bát bỏ mục tiêu XHCN, nhưng đó là CNXH theo cách hiểu mà tôi cho là khoa học, khác xa cái CNXH theo mô hình của Liên-xô, Trung Quốc. Theo tôi, cần tiếp cận CNXH theo hệ giá trị – đó là những giá trị tốt đẹp thật sự, đạt được trong đời sống xã hội, chứ không phải theo mô hình thế này và thế kia, càng không phải bằng từ ngữ và khẩu hiệu. CNXH theo nghĩa chân chính thì nhất thiết phải là kết quả của một trình độ phát triển rất cao của dân tộc và dân chủ xã hội, chứ không phải là những ý muốn chủ quan được vạch ra để bắt hiện thực phải khuôn theo. Giải quyết tốt vấn đề dân tộc độc lập và phát triển, xã hội thật sự dân chủ, con người thật sự tự do và hanh phúc thì đó mới chính là con đường đúng đắn tiến tới CNXH, chứ không phải như mô hình của Liên-xô, Trung Quốc và phe XHCN trước đây. Để mất nước, mất độc lập, hoặc dân tộc bị kìm hảm không thể phát triển vượt lên, xã hội mất dân chủ thì CNXH chỉ là chuyện hão huyền, không bao giờ có thật. Chúng ta đã nêu rất nhiều khẩu hiệu về CNXH nhưng đến nay trên thực tế thì các nước tư bản phát triển (CNTB hiện đại) mới là những nước đã đến gần nhất với CNXH mặc dù họ không có khẩu hiệu nào và mặc dù họ vẫn còn rất nhiều khuyết điểm. Nói các nước tư bản phát triển, nhất là Bắc Âu và khu vực gần đó, đang gần nhất với CNXH là trên cơ sở nghiên cứu về năng suất lao động xã hội, thu nhập bình quân đầu người, vai trò của sở hữu xã hội, vấn đề phúc lợi xã hội, giáo dục và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ quyền con người, quyền tự do và dân chủ…. Còn Việt Nam ta thì nằm ở khoảng cách phía sau xa so với các nước đó, và càng xa hơn nữa đối với mục tiêu XHCN, thậm chí trong lòng xã hội VN hiện tại đang bao gồm rất nhiều yếu tố của CNTB hoang dã trộn lẫn các tàn dư phong kiến. Còn Trung Quốc thì thực chất đã biến tướng thành một đế chế phong kiến độc tài và bành trướng bá quyền cộng với CNTB hoang dã. Nếu đem Trung Quốc, hay Liên-xô trước đây, ra so sánh với các nước tư bản phát triển thì chính các nước tư bản phát triển ấy lại gần CNXH hơn. CNTB hiện đại ngày nay cũng đã khác rất xa, khác về chất so với CNTB hoang dã thời Marx đã sống và viết Tư Bản Luận. Chính họ (chứ không phải Liên-xô hay Trung Quốc) đang và sẽ tiếp tục chứng minh nhận định của Marx là đúng. Đó mới là tư duy khoa học chứ không phải kiểu lý luận giáo điều đã bị chính trị hóa về mô hình CNXH sai lầm của phe XHCN trước đây mà mãi đến nay vẫn chưa khắc phục xong. Còn cái tư duy về hai hệ tư tưởng chia thành hai phe đối lập nhau là TBCN và XHCN thì đã lạc hậu lắm rồi. Đó là sự sai lầm hơn một thế kỷ của nhiều nước, bắt đầu từ những người đứng đầu mấy nước lớn ở hai phe, đã gây ra rất nhiều mâu thuẫn trong cộng đồng quốc tế và những cuộc chiến tranh gây chết chóc đau thương cho nhiều chục triệu người, để rồi cuối cùng sau gần một thế kỷ phải quay lại coi nhau là đối tác, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của thế giới và khu vực. Việc chuyển từ thù địch sang làm đối tác và bè bạn của nhau là xu hướng tiến bộ, đúng đắn, nhưng chính điều đó cũng đã chứng tỏ việc phân chia thành hai hệ tư tưởng thù địch như trước đây là sai lầm nghiêm trọng. Với cái kiểu của Trung Quốc như hiện nay mà cứ nhân danh CNXH và hệ tư tưởng để đi theo họ trong khi không đủ bản lĩnh và trí tuệ để ứng xử thì ta chẳng những sẽ mất độc lập chủ quyền mà còn có nguy cơ bị đồng hóa chứ không bao giờ đến được CNXH chân chính (tôi dùng chữ chân chính ở đây để phân biệt với cái biến tướng, lợi dụng, nhân danh, giả mạo, lừa phỉnh). Tất nhiên ta luôn thật lòng mong muốn quan hệ hữu hảo để hợp tác cùng phát triển và làm đối tác tốt của Trung Quốc cũng như các nước khác. Nhưng đó phải là đối tác bình đẳng và được tôn trọng chủ quyền, cũng như độc lập tự do về tư tưởng và tự quyết định mọi công việc.Cũng có ý kiến nêu vấn đề có tính nguyên tắc trong giải quyết chuyện Biển Đông là, ngoài việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, phải giữ cho được hòa bình và quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Mới nghe qua dễ nghĩ rằng phương châm đó là đúng bởi vì ai cũng mong muốn hòa bình để xây dựng đất nước. Nhưng phải suy nghĩ sâu hơn đối với vấn đề này. Nếu cùng lúc đạt được cả ba mục tiêu (chủ quyền, hòa bình và hữu nghị) thì quá tốt rồi, không còn gì bằng. Ai mà chẳng muốn thế. Phương châm ứng xử ấy không riêng đối với Trung Quốc mà đối với tất cả các quốc gia khác cũng vậy thôi. Và tư duy đó đã có từ lâu rồi chứ không phải do ai mới nghĩ ra hôm nay. Có từ lâu rồi nhưng tình hình thực tế đến nay cho thấy ta không (hoặc chưa) thành công, chỉ vì Trung Quốc không muốn thế. Ta dại gì lại đi gây chiến hoặc bất hòa với một nước lớn ở bên cạnh mình. Nhưng yêu cầu hòa bình và hữu nghị ấy phải trên nguyên tắc cao nhất là đôi bên tôn trọng chủ quyền của nhau, họ không xâm lăng chiếm Biển, chiếm đất của ta. Hòa bình và hữu nghị phải do từ hai phía. Một mình ta có muốn bao nhiêu cũng không được nếu như Trung Quốc chẳng cần thứ ấy mà chỉ cần lấy cho được biển của nước ta. Thực tế đã cho thấy họ đâu có cần hữu nghị với VN. Ta không thể đem chủ quyền để đổi lấy hữu nghị và hòa bình một cách hình thức. Nếu làm như thế thì hữu nghị hòa bình ấy cũng chỉ là một kiểu nô lệ. Đó là “hòa bình, hữu nghị nô lệ”. Không thể chấp nhận mất chủ quyền, đó là vấn đề có tính nguyên tắc. Vậy nên, điều cốt lõi chi phối mọi việc ở đây là phải bảo vệ cho được chủ quyền. Còn hòa bình hữu nghị cũng là yêu cầu cần thiết nhưng phải trên cơ sở của nguyên tắc cao nhất là bảo đảm chủ quyền. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” như Hồ Chí Minh đã nói là chân lý thiêng liêng mà vì nó bao nhiêu con người yêu nước đã phải ngã xuống cho đất nước này. Với bản chất và âm mưu của Trung Quốc như vậy mà yêu cầu phải đạt được đồng thời cùng lúc cả ba mục tiêu như nhau (là chủ quyền, hòa bình và hữu nghị) thì giống như đánh đố, tự làm bí đường cho quân ta.Có ý kiến phê phán chiều hướng muốn nghiêng về phía Mỹ và Phương Tây, muốn tăng cường quan hệ Việt-Mỹ lên đối tác chiến lược toàn diện và lưu ý phải đề phòng có ngày Mỹ và Trung Quốc thỏa hiệp với nhau, bán đứng ta hoặc bỏ ta giữa đường. Đúng là trong thực tế trước đây mấy nước lớn đã từng có lúc “bán” Việt Nam, trong đó phải kể nhiều nhất là Trung Quốc. Suy nghĩ cho chín chắn mọi điều là cần thiết, nhưng đồng thời cũng đừng để cho sự đa nghi hoặc chịu ảnh hưởng của chiến tranh tâm lý tung ra từ Phương Bắc làm cho ta không thấy được đường ra mà cứ nằm mãi trong vùng ảnh hưởng của họ. Sao lại đặt vấn đề phải nghiêng bên này hay bên kia? Việt Nam phải là một dân tộc trưởng thành, một dân tộc văn hiến, biết đứng vững trên đôi chân của chính mình bằng tinh thần độc lập và tự cường, không phụ thuộc, không thụ động hay dựa dẫm ỷ lại vào bất kỳ ai, kể cả đối với bạn tốt. Mà đã là bạn tốt thì không ai lại muốn ta thụ động và dựa dẫm. Chỉ có độc lập và tự lập mới giúp ta thật sự trưởng thành. Trước tiên phải biết dựa vào sức mạnh của một dân tộc có bản lĩnh, có truyền thống yêu nước, biết tự trọng, tự lực và anh hùng sáng tạo trong đấu tranh giữ nước. Người ta có thể chiến thắng một đạo quân, nhưng không ai có thể chiến thắng nổi một dân tộc kiên cường và thống nhất. Đồng thời tất nhiên cũng rất cần, luôn cần bạn bè tốt để gắn bó thủy chung, nhất là trong lúc khó khăn hoạn nạn có nhau. Như bài trước tôi đã nói, chỗ dựa vững chắc và đáng tin cậy nhất là nhân dân, là cộng đồng dân tộc. Xa rời nhân dân, không hành động theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân thì sẽ đánh mất tính chính danh và không còn sức mạnh để chiến đấu.


 


Sự thận trọng là cần thiết, nhưng nếu cứ luôn đặt câu hỏi rằng không biết sau này ai sẽ tốt mãi với ta và ai sẽ không thủy chung nữa, hay nước nào sẽ thỏa hiệp điều gì với nước nào trong cơ chế thị trường này thì chẳng thể nào có câu trả lời hoàn hảo được. Hiện tại thấy ai tốt thật lòng, trong đó có việc đầu tiên là tôn trọng chủ quyền và lợi ích chính đáng của ta thì kết bạn, nhất là khi xét thấy lợi ích chính đáng của đôi bên không mâu thuẫn nhau. Việt Nam là một dân tộc thủy chung với bạn bè, không bao giờ phản bạn. Còn ai không tốt với mình nữa thì không cần phải chơi thân đến mức mất cảnh giác như thời An Dương Vương. Một nước có thể hôm qua là đối tác chiến lược nhưng hôm nay lại chơi xấu – xâm phạm chủ quyền quốc gia của chúng ta thì có thể dừng (hoặc tạm dừng) đối tác chiến lược. Đó là chuyện rất bình thường. Thế giới vẫn sống với nhau như vậy đó thôi.


 


Có ý kiến còn nói đi với Tàu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất chế độ, cả hai ông này đều nguy hiểm, không thể chơi thân với ai được. Ý kiến này thuộc loại không tin ai cả, cảnh giác tất cả. Về thực chất thì đó cũng là một cách suy nghĩ theo lối thụ động, không tin vào chính mình. Sao lại nghĩ sẽ mất cái này hoặc cái kia nếu đi với ông này hoặc ông kia. Mất cái này hay cái kia thì chính là tại mình, do mình, chứ đừng đổ lỗi cho ai. Biết dựa vào dân, tôn trọng và phát huy dân chủ, không tham nhũng, được nhân dân tin tưởng thì nước không mất và chế độ cũng vậy. Không lắng nghe nhân dân, không theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân, mất dân chủ, để cho lòng dân ly tán thì nước sẽ mất và chế độ cũng sẽ không còn. Mà việc gắn bó máu thịt hay không gắn bó với nhân dân là do ta chứ không phải do Tàu hay do Mỹ, đừng đổ lỗi cho bất kỳ ai. Giữa Tổ Quốc và chế độ thì Tổ Quốc đương nhiên phải là trên hết. Chế độ chân chính nào cũng phải phục vụ cho Tổ Quốc chứ không phải ngược lại. Đồng thời, chế độ chính trị lúc nào cũng là một vấn đề đại sự. Một chế độ tốt được nhân dân ủng hộ sẽ giữ nước được lâu bền, một chế không tốt làm cho nhân dân ly tán và oán giận sẽ dẫn đến mất nước. Cần phải xây dựng một chế độ tốt cũng là kế sách để giữ nước lâu bền. Thế giới đã có những thay đổi lớn. Tàu hay Mỹ bây giờ cũng đều khác xưa. Tàu ngày xưa đã có lúc giúp ta (dù với động cơ này hay động cơ khác). Tàu bây giờ đang quyết liệt chiếm biển của ta. Mỹ ngày trước coi Đảng Cộng Sản Việt Nam là đối thủ. Mỹ bây giờ coi Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền là đối tác, Tổng thống Mỹ đã mời Tổng Bí thư Việt Nam sang Nhà Trắng ở Waishington để bàn chương trình hợp tác lâu dài.


 


Còn nói mất chế độ là chế độ gì? Nếu phong kiến thì mất càng tốt chứ sao. Nếu tư bản hoang dã thì cũng cần phải bỏ đi. Thế giới văn minh đã từ bỏ phong kiến và tư bản hoang dã. Còn chế độ XHCN thì chưa có (mà còn lâu lắm cũng không biết lúc nào mới có – như một vị lãnh đạo nước ta đã nói). CNTB hiện đại cũng chưa có. Vậy sợ mất chế độ nói ở đây thực chất là mất cái gì? Chắc người ta muốn nói đến chế độ xã hội do Đảng Cộng Sản Việt Nam đang lãnh đạo, nói cách khác là sợ mất vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN. Việc ấy thì chẳng ai có thể vào đây mà đánh mất được, chỉ trừ khi Đảng tự mình đánh mất. Mất còn ở đây phụ thuộc lòng tin của nhân dân. Mà lòng tin của nhân dân thì lại do sự trong sạch, chân chính và năng lực lãnh đạo của Đảng tạo nên, hoặc có hoặc không, hoặc còn hoặc mất. Muốn giữ thì cần phải giữ cái điều cốt lõi ấy chứ không phải đi giữ cái khác mà được đâu. Nếu không giữ được lòng tin của nhân dân thì không có Tàu, không có Mỹ cũng sẽ thất bại.


 


Nói tới việc lựa chọn Phương Bắc hay Phương Tây thì câu chuyện sẽ rộng hơn và liên quan đến con đường phát triển. Nhưng đã có ý kiến phản biện thì nhân đây tôi cũng xin nêu mấy ý kiến của mình. Gần hai thế kỷ trước đây Marx đã phân chia quá trình phát triển của nhân loại sẽ lần lượt đi qua 5 giai đoạn theo các hình thái kinh tế xã hội là: Nguyên Thủy, Nô Lệ, Phong Kiến, Tư Bản Chủ Nghĩa và Xã Hội Chủ Nghĩa. Ta tôn trọng cách phân chia đó của ông. Nhưng quan sát thực tế một thế kỷ vừa qua những gì đã xảy ra ở Liên-xô và Đông Âu cho thấy lịch sử đã không như thế mà nhiều nước từ phong kiến lên thẳng XHCN và sau đó 7-8 thập kỷ thì lại từ XHCN ấy chuyển tiếp sang TBCN. Marx đã sai ở đây chăng? Theo tôi, trong vấn đề này ông không sai, mặc dù không phải Marx nói cái gì cũng đúng. Vậy ở đây là cái gì, giải thích ra sao? Cái XHCN ở Liên-xô và Đông Âu trước đây không phải là XHCN như tư duy của Marx. Trung Quốc và Việt Nam ta cũng bắt đầu từ đó. Tôi không phản đối ý kiến cho rằng, lịch sử ở một nước nào đó cũng có thể đi tắt đón đầu, nhưng phải hành động đúng quy luật khách quan, chứ không thể bằng ý chí chủ quan áp đặt, càng không thể thay thế nền tảng vật chất chưa có bằng bất cứ thứ chuyên chính gì. Bên cạnh cách phân chia giai đoạn như Marx, theo tôi có thể có một cách phân chia nữa, không phải theo hình thái kinh tế xã hội mà theo trình độ phát triển. Đó là các giai đoạn: Chưa phát triển, phát triển thấp, phát triển trung bình, phát triển cao và phát triển rất cao. (Lâu nay người ta thường nói là các nước chưa phát triển, đang phát triển và phát triển). Sự phát triển nói ở đây bao gồm cả số lượng và chất lượng; cả kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và nhất là con người. Tìm mối liên hệ giữa hai cách phân chia giai đoạn như trên ta có thể thấy, ứng với CNTB là giai đoạn phát triển cao và ứng với CNXH phải là giai đoạn tiếp theo-phát triển rất cao. Theo đó, chính sự phát triển mới quyết định có hay không có CNXH, còn mọi thứ khác đều không thể đem lại CNXH. Xin chớ lầm tưởng mà sai đường. Hiện tại, các nước tư bản phát triển đã vượt xa các nước gọi là XHCN. Dù nói rất nhiều về mục tiêu XHCN nhưng nếu không phát triển thì chẳng có CNXH nào đâu. Dù không nói CNXH nhưng nếu phát triển tốt thì tất yếu sẽ có CNXH. Vì vậy mà ở phần trên tôi đã nói chính các nước tư bản phát triển mới là những nước tiến đến gần nhất CNXH. Theo đó, trong tư duy của tôi, CNXH và CNTB khác nhau chủ yếu là ở trình độ phát triển, chứ không phải ở tính chất khác biệt hay đối lập. Quá trình phát triển ấy như một sự tiếp nối tự nhiên chứ không phải là sự “lật đổ” và “thay thế”.


 


Phương Tây nhìn chung đã phát triển hơn Phương Đông. Mỹ, Châu Âu, nhất là khu vực Bắc Âu và một số nước gần đó, đã phát triển hơn Trung Quốc, Việt Nam…Ngày xưa, có thời kỳ Châu Âu cũng chưa phát triển được, còn trong đêm dài của chế độ thần quyền, ai nói khác giáo hội có thể bị đưa lên dàn hỏa thiêu hoặc giá treo cổ. Sau đó, nhờ các phong trào Khai Sáng, Phục Hưng…đã thế tục hóa, giải phóng cho con người được tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, từ đó mà có con đường để tiếp cận các chân lý khách quan. Châu Âu đã phát triển vượt lên. Trong khi đó Châu Á vẫn trong đêm dài của chế độ phong kiến kìm hảm con người nên đã nằm lại ở phía sau xa trong tiến trình phát triển. Vào cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19 nhiều nước ở Châu Á đã bị các đối thủ từ Châu Âu phát triển hơn mình một nền văn minh đã đến chinh phục và đô hộ. Trong Châu Á ấy, có một số nước sớm nhận ra mặt ưu điểm của văn minh Phương Tây, họ đã biết tiếp thu và vận dụng phù hợp vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình nên đã phát triển vượt lên, đa số nước còn lại nhìn chung vẫn chậm chạp và tụt hậu so với thế giới văn minh. Nước ta chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn hóa Phương Bắc và thực tế cho thấy đến nay chúng ta vẫn còn tụt hậu khá xa ở rất nhiều mặt. Nền văn hóa Việt Nam của chúng ta có mặt mạnh nổi trội thuộc về văn hóa (trong) giữ nước và mặt yếu cũng nổi rõ thuộc về văn hóa (trong) phát triển. Nước ta nhiều lần bị mất nước không phải vì ta là nước nhỏ hoặc vì thiếu anh hùng, mà là vì sự lạc hậu. Khi mất nước rồi, bằng rất nhiều máu xương và sự anh hùng, cha ông ta đã lấy lại đất nước. Giành lại được nước rồi nhưng vẫn không phát triển, vẫn lạc hậu, và lại mất nước lần nữa. Cứ thế, lịch sử đã lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy. Cái nguyên nhân mất nước ấy chỉ có thể giải quyết bằng sự phát triển mạnh lên mới là cách căn bản và lâu dài. Nếu từ nay trở đi, đồng thời với việc tiếp tục chọn lọc và phát huy phần tinh hoa văn hóa của dân tộc nói riêng, của Phương Đông nói chung, chúng ta biết cầu thị và tích cực nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc phần tinh hoa văn hóa của Phương Tây để phát triển dân tộc và quốc gia Việt Nam thì thiển nghĩ đó cũng là cách hợp lý và rất cần thiết. Muốn vậy, cần phải có một sự chuyển hướng, cải cách căn bản để phát triển. Không phát triển ta chẳng những không đạt được mục tiêu lý tưởng nào mà có thể còn mất độc lập dân tộc trong thời đại mới theo cách này hoặc cách khác.


 


10.Thực tế lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới cho thấy có nhiều con đường khác nhau để phát triển, nhưng trong đó nổi rõ có hai con đường chủ yếu. Thứ nhất, phát triển bằng thể chế dân chủ và tự do, dựa chính vào nhân tố con người. Người ta thường gọi đó là “con đường dân chủ”. Thứ hai, phát triển bằng sự tập trung quyền lực, toàn trị, mệnh lệnh, mất dân chủ và thậm chí kể cả độc tài. Người ta còn gọi đó là “con đường chuyên chính”. Cả hai con đường đó đều có thể phát triển. Một bên dựa chính vào nhân tố động lực con người, còn bên kia thì dựa chính vào khả năng tập trung nguồn lực và quyền lực. Và đương nhiên con đường nào cũng đều có những gian khổ, chông gai, đừng nghĩ con đường nào là bằng phẳng, dễ dàng và chỉ có ưu điểm. Phương Tây ngày nay rất nhiều nước phát triển theo con đường thứ nhất. Phương Đông trước kia nhiều nước đi theo con đường thứ hai, nhưng thời kỳ sau đó đã có một số nước chuyển đổi theo con đường thứ nhất và họ đã thành công. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor, Đài Loan là loại nước và vùng lãnh thổ kiểu đó. Liên-xô trước đây cũng như Trung Quốc ngày nay đã có những thành công nhất định theo con đường thứ hai. Cả hai nước này thì Liên-xô đã từng và Trung Quốc ngày nay đang trở thành nước có nền kinh tế thứ nhì thế giới nếu tính theo tổng sản phẩm quốc nội. Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn, thì sẽ thấy sự phát triển theo con đường thứ nhất mới bền vững, nhân dân hạnh phúc hơn vì có tự do, dân chủ, vấn đề con người được đặt vào vị trí trung tâm. Con đường thứ hai tuy cũng có thể phát triển nhanh trong một giai đoạn nào đó, nhưng nhân dân không hạnh phúc vì thiếu tự do dân chủ, và chắc chắn sự phát triển đó sẽ không bền vững, sẽ có khủng hoảng lớn về xã hội sau chu kỳ phát triển mạnh. Liên-xô trước đây và ngay cả Việt Nam ta thời Lê Thánh Tông…cũng đã cho thấy như vậy. Con đường phát triển thứ nhất là con đường mà rất nhiều nước tiên tiến trên thế giới đang đi, trong đó có các nước Tư bản hiện đại (chứ không phải như CNTB hoang dã ngày trước). Dân chủ cũng (phải) là vấn đề có tính bản chất của CNXH, là con đường đúng nhất để đến với CNXH chân chính. Đó là xu thế tiến bộ, xu thế lịch sử-thời đại. Thiết nghĩ, nước ta nên lựa chọn con đường thứ nhất – phát triển bền vững, có tự do dân chủ và hạnh phúc của nhân dân. Con đường ấy phù hợp với mong muốn của nhân dân Việt Nam. Đừng bao giờ quên mục tiêu “Dân chủ-độc lập-tự do-hạnh phúc” là các thành tố và tiêu đề của tên nước đã được nêu ra từ ngày tuyên bố độc lập năm 1945. Khi có quyền lực trong tay, bị quyền lực cám dỗ, nhiều người dễ quên đi mục tiêu dân chủ, thậm chí có người còn cao ngạo coi nhân dân chẳng ra gì, cứ như thể chỉ có mình mới là sáng suốt. Đi con đường thứ nhất ta còn có được cả khối dân chủ của thế giới văn minh, không phải đơn độc mỗi khi bị người khác bắt nạt.


 


Tôi biết cũng có ý kiến lo lắng rằng, nếu đi theo con đường dân chủ thì không biết Đảng Cộng Sản có giữ được vai trò lãnh đạo không, hay đất nước lại bất ổn chính trị kéo dài (thậm chí sẽ đổ máu) do sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái, các nhóm cơ hội chính trị? Đặt câu hỏi như vậy cũng là dễ hiểu và đó là một câu hỏi nghiêm túc. Nhưng nghĩ như vậy thì chẳng lẽ Đảng Cộng Sản chỉ có thể giữ quyền lãnh đạo bằng cách mất dân chủ hay sao? (Trong khi mất dân chủ là trái với mục tiêu phấn đấu mà Đảng đã nêu ra). Nghĩ như vậy cũng là không còn tin tưởng vào khả năng của Đảng? Tôi thì không nghĩ như thế. Tôi nghĩ khác. Trong môi trường dân chủ Đảng sẽ trưởng thành và tốt hơn. Trong môi trường không dân chủ mà tập trung quyền lực thì Đảng cầm quyền sẽ thoái hóa. Đi theo con đường dân chủ, Đảng không thoái hóa mà lại trưởng thành, tốt hơn, dương cao ngọn cờ dân chủ và xứng đáng với ngọn cờ ấy là con đường để Đảng trường tồn cùng với sự phát triển của dân tộc và đất nước. Khác đi, để Đảng bị thoái hóa quyền lực thì Đảng sẽ tự kết thúc sứ mệnh của mình. Lúc đó có muốn giữ cũng không giữ được.


 


Đặc điểm của nước ta đến nay chỉ có một lực lượng chính trị duy nhất là Đảng Cộng Sản đang lãnh đạo. Nếu Đảng thoái hóa và mất hết lòng tin của nhân dân rồi, không còn lãnh đạo được nữa, thì lúc ấy lực lượng nào sẽ lãnh đạo? (Mà đất nước thì không thể không có lãnh đạo chính trị!) Một người bạn đã đặt cho tôi câu hỏi đó. Tôi nghĩ không phải lo như vậy đâu, cuộc sống sẽ tự mở đường. Trong Đảng dù có thoái hóa nữa vẫn còn nhiều người tốt, bộ phận tiên tiến đó cộng với các trí thức chân chính có tâm huyết với dân tộc và nhiều người yêu nước khác…họ sẽ tập họp nhau lại để thực hiện trách nhiệm với Tổ Quốc. Đó là nói trong trường hợp xấu nhất cho hết ý vậy thôi, chứ tôi tin một Đảng chính trị đã được rèn luyện như Đảng CSVN không dễ gì đầu hàng sự thoái hóa của chính mình để nhận lấy thất bại và tan rã.


 


Khi Đảng CSVN dương cao ngọn cờ dân chủ, đại diện chân chính cho ngọn cờ đó, thúc đẩy thành công sự nghiệp ấy thì tôi tin nhất định nhân dân sẽ ủng hộ Đảng tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo đất nước. (Xin nói thêm, không đồng nhất con đường dân chủ với chế độ đa đảng, mặc dù hai vấn đề đó có mối quan hệ nhất định với nhau – việc này sẽ bàn sau trong một bài khác).


 


Về nước Mỹ và mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, tôi cũng xin bình luận ít lời. Họ tuyên bố độc lập cách đây 243 năm. Khoảng 100 năm trước đây họ đã là một quốc gia phát triển mạnh nhất thế giới. Vậy là chỉ khoảng 143 năm sau khi độc lập họ đã phát triển như vậy, trong khi nhiều nước khác tuyên bố độc lập trước họ rất lâu mà mãi đến nay vẫn còn ở phía sau xa. Thực tế đó cho thấy họ có nhiều kinh nghiệm phát triển bậc nhất thế giới. Theo một số học giả của Mỹ và thế giới, nguyên nhân thành công trước tiên thuộc về giáo dục. Một nền giáo dục khai mở và sáng tạo. Theo một số đánh giá của tổ chức quốc tế và các chuyên gia về giáo dục, trong 100 trường đại học được cho là top hàng đầu thế giới thì riêng nước Mỹ đã chiếm một nửa, còn lại tất cả các quốc gia khác trên khắp thế giới cộng lại chỉ bằng một nước Mỹ. Và, nếu tôi nhớ không nhầm thì cách đây gần 100 năm chính Lê-nin đã có lần nói phải đi học nền giáo dục của nước Mỹ để về xây dựng và phát triển Liên Bang Xô Viết. Rất tiếc là sau đó người ta đã không làm như thế. Mỹ cũng là nước có thị trường hàng hóa, thị trường công nghệ và thị trường vốn đứng đầu thế giới. Ngay cả Trung Quốc cách đây không lâu cũng đã tập trung đi học kinh nghiệm của Mỹ và nhờ họ giúp đở để thực hiện cải cách. Từ đó, Trung Quốc tiến vượt lên về kinh tế. Đặc biệt trong thời gian gần đây, Mỹ là quốc gia luôn lên tiếng đầu tiên và lên tiếng mạnh mẽ nhất để phê phán sự xâm lăng của Trung Quốc, ủng hộ việc bảo vệ chủ quyền biển của Việt Nam. Lợi ích của ta và họ trên Biển Đông hiện tại về cơ bản không mâu thuẫn mà phù hợp nhau. Trong quan hệ đa phương hiện nay, nếu tăng cường được mối quan hệ hữu nghị hợp tác với một quốc gia như nước Mỹ để trao đổi và tiếp thu kinh nghiệm phát triển của họ thì đó là việc cần thiết và nên làm đối với nước ta.


Tp. HCM ngày 20.10.2019.


VNH.


Trước đó, đầu tháng 9-20129, ông Vũ Ngọc Hoàng đã viết "Trao đổi nhanh về chuyện Biển Đông". Toàn văn như sau:


 


Trao đổi nhanh về chuyện Biển Đông


1.


Âm mưu của Trung Quốc về việc cưỡng chiếm Biển Đông của VN đã có từ lâu. Âm mưu đó có nguồn gốc từ bản chất Đại Hán của đế chế Phương Bắc này. Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, đến nay cảm thấy đủ điều kiện nên họ đang quyết tâm thực hiện một bước nhảy vọt đáng kể để thực hiện âm mưu này. Việc tàu Trung Quốc vào ra vùng biển chủ quyền của VN vài tháng nay không phải là một cuộc “dạo chơi” mà là một bước leo thang ngoạn mục. Thế mà phía VN ta cũng có ý kiến cho rằng “nó vào rồi nó ra chứ đã làm được gì đâu”. Nghĩ vậy thật đơn giản và thơ ngây quá! Nó vào rồi nó ra, nó ra rồi nó lại vào. Nó muốn vào thì vào, muốn ra thì ra, vào nhà người ta mà cứ nhà của nó. Một đất nước có chủ quyền mà sao có thể chịu vậy. Kiểu này thì có ngày nó bảo “hai nhà là một”, nhập chung thôi, rồi lấy tiếng Trung làm tiếng phổ thông vì đại đa số dân chúng đang nói thứ tiếng này. Thế là nó hoàn thành âm mưu thôn tính và đồng hóa, đạt mục đích mà hơn 4000 năm nay họ chưa làm được. Thật nhẹ nhàng, ít tốn công tốn sức. Biển của VN mà họ bảo của họ, yêu cầu cùng khai thác. Theo luận điệu đó thì VN mất biển. Mà mất Biển Đông là mất nước. Phần còn lại nhỏ hẹp, không gian sinh tồn của dân tộc mất đi hơn một nửa, lục địa bị bao vây tứ bề, phần tài nguyên khoáng sản lớn và quý giá nhất bị cướp hết, không còn cửa để ra đại dương - cái mà rất nhiều quốc gia đều cần đến để thành cường quốc, hàng không cũng mất tự do, con cháu muôn đời sẽ bị o ép và lệ thuộc họ đủ điều, mất lần này là mất hẳn, mãi mãi không bao giờ đòi lại được, niềm tự hào về lịch sử bất khuất của một dân tộc văn hiến cũng sẽ mờ nhạt và bị tan biến, đất nước anh hùng chỉ còn lại một cái xác như một mãnh nhỏ vô hồn, một dân tộc sẽ mãi tụt hậu, tủi nhục và đau đớn. Vào lúc này công việc lớn lao nhất, quan trọng nhất, hơn bất cứ thứ gì, là bảo vệ Đất nước, trước mắt là Biển Đông.


 


Tổ Quốc trên hết! Có thể đình hoãn nhiều việc khác, kể cả việc quan trọng, để tập trung suy tính kỹ cả chiến lược, sách lược và giải pháp cụ thể (đừng chủ quan nói đã tính kỹ hết rồi). Đây mới chính là “đại cục” chứ còn cái đại cục gì nữa? Đây là nội dung quan trọng nhất và là cốt lõi, chính yếu của Đại hội lần nầy, chứ không thể nội dung nào hơn được. Đây là phương hướng và quan điểm để chọn nhân sự chứ không có bất cứ tiêu chí gì quan trọng hơn vào lúc vận mệnh đất nước như thế này. Theo đó, tiêu chí đầu tiên để chọn cán bộ lãnh đạo các cấp các ngành là thái độ rõ ràng, mạnh mẽ và tư duy mạch lạc trong vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia ở Biển Đông. Vừa qua, Chính phủ, Bộ Ngoại giao VN và các lực lượng cảnh sát biển, hải quân…đã có nhiều cố gắng, và lần này thái độ ta có mạnh mẽ hơn các lần trước. Chúng tôi xúc động khi được biết tình hình các sĩ quan và chiến sĩ của quân đội ta lúc xung trận húc nhau với các tàu xâm lăng của Trung Quốc ở khu vực bãi Tư Chính đã thể hiện một tinh thần rất dũng cảm xứng đáng là con em của một dân tộc anh hùng. Tuy nhiên, nhìn chung thái độ tổng thể bộ máy lãnh đạo quản lý đất nước thì thấy sự thể hiện rất chưa đủ, chưa tương xứng với tính chất nghiêm trọng của tình hình. Và tất nhiên, muốn bảo vệ được Biển Đông thì không chỉ có tinh thần, bản lĩnh, trách nhiệm với Tổ Quốc (mặc dù phải bắt đầu từ các yếu tố ấy), mà quan trọng hơn nữa là phải đổi mới cách tiếp cận vấn đề, đổi mới tư duy, quan điểm, kể cả chủ trương và hành động. Bảo vệ Biển Đông và đổi mới là hai yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay, cần được thực hiện đồng thời.


 


2.   


Có ý kiến bảo phải kiện Trung Quốc ngay, công khai chủ trương và thúc đẩy nhanh công việc, ý kiến khác lại không đồng ý vì nhiều lẽ khác nhau. Ý kiến khác nhau trong quá trình thảo luận là việc bình thường. Nhưng cần phải có phương pháp tiếp cận tốt và khả năng quyết đoán sắc sảo, kịp thời, nhất là khi có tình thế nghiêm trọng đối với vận mệnh đất nước (xin nhắc lại để nhớ lần này không phải họ “dạo chơi”, mà là quyết tâm tạo ra một bước nhảy vọt đáng kể để thực hiện âm mưu lớn lâu dài). Trong đọan ý kiến này, tôi xin có đôi lời góp phần trao đổi để tham khảo về việc kiện Trung Quốc. Kiện là giải pháp hòa bình. Kiện chẳng những không phải là chiến tranh mà còn là một giải pháp ngăn chặn chiến tranh. Sử dụng luật pháp và dư luận quốc tế khi có mâu thuẫn giữa các bên là biện pháp cần thiết và đúng đắn trong một thế giới văn minh và hội nhập. Đó cũng là tư tưởng pháp quyền tiến bộ. Vì sao ta lại sợ kiện, trong khi chính nghĩa thuộc về ta.


 


Sợ kiện hay là sợ Trung Quốc? Đặt câu hỏi như vậy là vì tôi nghe có ý kiến cho rằng, nếu ta kiện thì Trung Quốc sẽ làm căng hơn nữa, trong khi ta phải sống bên cạnh họ lâu dài, nếu để họ thù vặt thì rất khó ở. Đó cũng là một cách suy nghĩ. Mà họ cũng dọa ta như thế. Dọa để ta đừng kiện. Họ không muốn ta quốc tế hóa vấn đề mà chỉ để riêng họ và ta với nhau nhằm dễ bề ức hiếp. Đó là cách đấm người ta mà muốn bịt miệng không cho la. Tôi nghĩ không thể đồng ý với cái lý lẽ cho rằng vì sợ họ ép ta (hơn nữa) nên thà rằng cứ để cho họ ép dần dần như thế mà không cần phải kiện. Họ sẽ chèn ép ta ngày càng nhiều thêm là quy luật tất yếu, vì mục đích của họ là độc chiếm Biển Đông, và vì thấy ta yếu mềm nên có thể chèn ép được. Các loài cá lớn ăn thịt sở dĩ không nuốt hết những loài cá nhỏ là vì không nuốt được, sợ bị gai nhọn đâm hoặc sợ nọc độc và còn sợ bị phản công của các nhân tố khác từ môi trường chung quanh, chứ hoàn toàn không phải nó thương cảm vì sự mềm yếu của đối phương. Trung Quốc to làm vậy nhưng đâu có dễ cưỡng chiếm Đài Loan. Ý kiến khác lại nói rằng, kiện cũng chẳng được gì, nó không chấp nhận, không chấp hành, chẳng có chế tài nào để cưỡng chế. Cách tiếp cận ấy theo tôi là không đúng. Khi lãnh đạo nước ta tuyên bố khởi kiện Trung Quốc thì tập họp cả một dân tộc, cả kiều bào khắp nơi trên thế giới, tập họp thêm nhiều bạn bè quốc tế, bản thân chúng ta cũng nhanh chóng trưởng thành về sự hiểu biết luật pháp quốc tế, đồng thời cũng là lên tiếng để nhân dân Trung Quốc biết thái độ rõ ràng của VN chứ không phải như lâu nay nhà cầm quyền Trung Quốc cứ tuyên truyền một chiều, còn ta thì im lặng hoặc ít nói nên dân Trung Quốc nhiều người đang hiểu sai bản chất của vấn đề. Vậy thì kiện là được chứ, sao lại không được gì. Được dân và được bạn bè quốc tế chẳng phải là cái được lớn sao. Mặt khác, hãy tin rằng, với nhận thức của thế giới ngày nay, chân lý không không dễ bị chà đạp đâu. Khi chân lý rõ ràng và thuộc về ta chẳng phải là cái được lớn hay sao. Một mình ta nói với họ không xong vì họ coi thường ta, không thèm nghe ta mà lại còn dùng mọi thủ đoạn để áp đặt. Cần phải dựa vào luật pháp và thông lệ quốc tế để đối mặt với họ là một giải pháp không thể khác trong tình thế này. Nếu không kiên quyết như thế hãy coi chừng sẽ mất Biển Đông. Mà mất Biển Đông là mất nước như đã trình bày trong điểm 1. Còn việc ta phải sống cạnh họ lâu dài là tất nhiên, và cũng chính vì thế mà phải đứng lên nói thẳng, phải biết tôn trọng lẫn nhau để có thể sống cùng theo đúng nghĩa là sống. Đây cũng là mục tiêu độc lập dân tộc mà Hồ Chí Minh đã chiến đấu suốt đời.


 


 


3.   


Quan điểm không liên minh quân sự là đúng trong trường hợp nhằm để chống  nước khác, nhưng sẽ không đúng đối với trường hợp để bảo vệ Tổ Quốc của mình. Cần có cách tiếp cận mới và sớm điều chỉnh quan điểm chỉ đạo này. Vì mục đích bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải của đất nước thì chẳng những cần thiết mà thậm chí nên chủ động liên minh trước với các nước thật sự tôn trọng độc lập chủ quyền của VN. Không thể tự trói mình bởi những quan điểm bất lợi mỗi khi Tổ Quốc có nguy cơ bị xâm lăng. Nhân dịp này cần nhìn nhận đánh giá lại các đối tác của chúng ta để mà hiểu cho đúng bạn bè. Tiêu chí quan trọng nhất để chọn bạn lúc này là ai thật sự tôn trọng và ủng hộ sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của VN. Trong số các đối tác chiến lược của VN thì một “đối tác” đã lộ diện rõ ràng là kẻ có âm mưu cưỡng chiếm Biển Đông của nước ta. Trong khi đó lại có nước tuy chưa gọi là đối tác chiến lược nhưng chính họ đã lên tiếng sớm nhất và mạnh mẽ nhất để ủng hộ chủ quyền của VN. Theo tôi, với thực tế đó họ xứng đáng là đối tác chiến lược của chúng ta, kể cả trường hợp trước đây họ có lúc đã không phải với ta. Ít nhất là họ xứng đáng hơn nhiều so với “đối tác chiến lược toàn diện” kia đang xâm lăng đất nước ta. Thực tiễn đã kiểm nghiệm ai tốt ai không tốt. Một dân tộc biết điều không thể quay lưng lại với thực tế trong văn hóa ứng xử với bạn bè. Nước có chủ quyền phải biết tự chủ trong chọn bạn mà chơi, không phải sợ gì ai bất bình hay quở trách. Cái Phương Bắc bá quyền ấy có động cơ và âm mưu xấu với ta, họ luôn tìm mọi cách để giữ ta trong vòng kiểm soát của họ, không muốn và không cho ta thoát ra khỏi họ để quan hệ thân thiết với các cường quốc khác.


 


Ta không gây thù hận với ai và luôn thật lòng mong muốn sống hòa hiếu với lân bang, nhưng đồng thời ta cũng phải biết cảnh giác và có bản lĩnh tự cường. Hãy đừng bao giờ quên mà ngược lại phải luôn nhớ đến bài học cay đắng thuở ông cha ta vì nhẹ dạ mất cảnh giác mà bị Phương Bắc cướp nước để cho cả một dân tộc phải sống nô lệ lầm thang điêu đứng trong cảnh “chim lồng cá chậu” đầu rơi máu chảy suốt một nghìn năm mới thoát ra được. Các nước Đông-Nam-Á về cơ bản là tốt, không có chuyện gì mâu thuẫn lớn với nhau, nhưng chưa phải đã đoàn kết một lòng cùng nhau thành một khối thống nhất vững mạnh, mà cá biệt đôi khi cũng có chuyện “đồng sàn dị mộng”. Mặt khác thì Phương Bắc lại tác động vào, kể cả bằng tiền và bằng các thủ đọan chính trị, tranh thủ lôi kéo dụ dỗ nước này nước khác, để khu vực này không thành một khối được, không có sức mạnh chung, cho họ dễ bề chi phối. Thực chất là “tách ra từng chiếc đũa” chứ không để “một bó đũa”, không để cho khu vực này chụm lại thành một khối. Thực tế ở khu vực Trường Sa mặc dù của ta là chính nhưng vẫn đang có nhiều nước quản lý một số đảo, mà việc này đã có từ trước, chỉ riêng Trung Quốc thì đến sau, bắn giết người của VN ta để chiếm đảo, rồi đồn trú ở đó đến nay, lại còn muốn lấy tiếp, lấy hết. VN cần phải có cách ứng xử phù hợp thực tế ở đây trong mối quan hệ với các nước Đông-Nam-Á, thừa nhận và bảo đảm quyền lợi chính đáng của các nước nhỏ, đừng để họ bị xuyên tạc mà suy nghĩ rằng Trung Quốc là đại bá còn VN cũng là tiểu bá mà dẫn đến phân tâm.


 


4.   


Còn có ý kiến khác cho rằng, ta với Trung Quốc là anh em đồng chí, cùng XHCN với nhau, cùng một hệ tư tưởng và còn có quan hệ giữa hai đảng cộng sản đang cầm quyền, vì vậy cần kiên trì trao đổi ý kiến, đối thoại với nhau, không nên kiện ra quốc tế, không nên tỏ ra căng thẳng…Tinh thần hữu nghị với mọi người nói chung là tốt, nhưng nếu nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác, để cho những người có tâm địa và âm mưu xấu lợi dụng làm hại đến chủ quyền quốc gia thì sẽ là sai lầm lớn, thậm chí là có tội lớn với dân tộc mà lịch sử không thể tha thứ. Đồng chí anh em gì mà vô cớ bất ngờ đem 60 vạn quân sang VN để bắn giết dân chúng và đốt phá các làng mạc, nay lại quyết dùng mọi thủ đoạn để độc chiếm Biển Đông. XHCN gì mà đi xâm lược VN. Nhân dân ta chắc không ai cần cái kiểu XHCN xâm lược ấy. Đừng có nhân danh XHCN để lừa phỉnh nhau. Không có CHXH chân chính nào lại như thế cả (chuyện XHCN và TBCN cũng cần có cách tiếp cận khác căn bản so với cách hiểu, cách nghĩ lâu nay - sẽ nói sau ở bài khác). Đó chỉ là một đế chế phong kiến trá hình và biến tướng. Một quốc gia bảo vệ độc lập chủ quyền và một quốc gia khác đi xâm lăng sao lại cùng tư tưởng? Đảng cộng sản VN từ khi ra đời đã lấy mục tiêu dân tộc và dân chủ làm mục tiêu phấn đấu. Đến nay chưa hoàn thành xong mục tiêu ấy thì phải tiếp tục chiến đấu nữa. Xa rời mục tiêu dân tộc và dân chủ như ngày mới ra đời đã nêu lên thì Đảng sẽ không còn là đảng chân chính vì dân. Đảng CSVN quan hệ với các đảng khác không thể và không bao giờ được gây tổn hại cho mục tiêu độc lập chủ quyền của dân tộc. Còn kiên trì trao đổi, đối thoại? Trung Quốc đâu có cần trao đổi đối thoại với ta. Họ không tôn trọng và không coi VN là đối tác bình đẳng. Họ chỉ áp đặt và chèn ép. Còn VN ta đâu có tỏ ra căng thẳng gì. Sự căng thẳng là do họ chủ ý gây ra đấy chứ. Sao lại đổ vấy cho ta. Còn việc ta buộc phải kiện họ chính là do họ đẩy ta đến đó, không còn con đường nào khác. Lòng tự trọng dân tộc không cho phép ta nhân nhượng thêm nữa, vì ta càng nhân nhượng thì họ càng lấn tới. Đó cũng là tư tưởng chống ngoại xâm của Hồ Chí Minh.


 


5.


Chỗ dựa vững chắc và đáng tin nhất chính là cộng đồng nhân dân Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh qua nhiều nghìn năm nay rằng dân tộc này không bao giờ biết đầu hàng. Thuở xưa có lúc triều đình đã đầu hàng hoặc không đủ sức chiến đấu với quân giặc, nước đã mất và sau đó nhân dân đã tập họp nhau lại, đứng lên chiến đấu với quân thù, giành lại độc lập cho đất nước. Thời chiến tranh vệ quốc trước đây, có nơi, có lúc không còn tổ chức Đảng, không còn đảng viên, thì nhân dân đã tự mình lập ra chi bộ, một chi bộ của dân, để tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến đấu, sau này tổ chức Đảng cấp trên phải công nhận các đảng viên và tổ chức đảng đó. Nhân dân ta từ thuở xưa đã là vậy. Ngày nay ta càng nhận thức sâu sắc rằng, nước là nước của dân. Dân là chủ nhân của đất nước. Chính người chủ ấy phải lo giữ lấy nước của mình. Nhà nước là của dân, do dân lập ra, có nhiệm vụ bảo vệ và phục vụ nhân dân, trong đó có công việc bảo vệ tổ quốc. Nhà nước phải làm theo ý dân, phải dựa vững vào dân mà bảo vệ tổ quốc, phải thường xuyên và kịp thời thông báo đầy đủ cho nhân dân biết thực chất tình hình xung quanh vấn đề Biển Đông. Không có bất kỳ ai, không có bất cứ đối tác nào, dù họ tốt đến bao nhiêu, cũng không thể thay được nhân dân. Nhân dân ta muôn đời nay thật anh hùng. Luôn mang trong mình dòng máu và khí phách của Bà Trưng, Bà Triệu, của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung và Hồ Chí Minh. Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm thì triệu người như một, tha thứ, xóa bỏ hoặc gát lại tất cả các bất đồng, các mâu thuẫn trong nội bộ, để một lòng cùng nhau quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh. Tất nhiên, với tư cách là những người tham mưu cho nhân dân, nhà nước thỉnh thoảng cũng cần nhắc nhân dân phải bình tĩnh, không để nóng đầu, quá bức xúc. Cuộc chiến đấu thuở xưa đã vậy và ngày nay càng phải vậy, lòng dũng cảm là vô cùng đáng quý, đáng trân trọng, nhưng để bảo đảm chiến thắng nhất định phải cộng với sự bình tĩnh, trí tuệ và mưu lược. Có nhân dân thì Đảng và Nhà nước sẽ có tất cả. Dân chủ hóa là con đường nhất định phải tiếp tục tiến lên. Có nhân dân, có bạn bè và luật pháp quốc tế nước ta nhất định bảo vệ được Biển Đông.


Tháng 9-2019


VNH.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thần thoại Hy Lạp (46) - Nguyễn Văn Khỏa 18.11.2019
Cựu thủ tướng Hungary Miklos Németh: Không ai ngờ Bức màn sắt sụp đổ nhanh đến thế - Tư liệu sưu tầm 14.11.2019
Cố vấn Võ Văn Kiệt gặp mặt các nhà văn viết về Công nghiệp - Hà Văn Thùy 12.11.2019
Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa - Tư liệu 08.11.2019
Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn? - Trương Quang Nhuệ 08.11.2019
Cuộc xung đột âm thầm - Tư liệu sưu tầm 07.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (45) - Nguyễn Văn Khỏa 07.11.2019
Về chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ - Nhiều tác giả 07.11.2019
Charlie Chaplin và đàn bà… - Tư liệu sưu tầm 05.11.2019
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc: Cần tổ chức việc Di dân! - Antonio Guterres 05.11.2019
xem thêm »