tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950584
06.07.2019
Lương Văn Hồng
Nobel Văn học 2011: Tomas Tranströmer (1931- …)


Nhà tâm lý học, nhà văn, nhà thơ, dịch giả Tomas Tranströmer sinh ngày 15 tháng 4 năm 1931 ở Stockholm, Thụy Điển, được mẹ nuôi dưỡng do cha mẹ ly hôn. Cha ông là nhà báo, mẹ ông là một giáo viên.  Ông đã học trung học tại trường Latin Södra ở Stockholm, nơi ông bắt đầu làm thơ.


Năm 1954, chàng trai trẻ 23 tuổi Tomas Tranströmer xuất bản tập thơ đầu tay với cái tên giản dị 17 dikter (17 bài thơ). Sau bốn năm,  ông ra mắt tập thơ thứ hai Hemligheter på vägen (Bí mật trên đường). Thơ của ông tỏa sáng với sự giản dị hiếm có, nhưng  tinh tế. Tomas Tranströmer khi ấy  còn là sinh viên ngành tâm lý học tại Đại học Stockholm. Ông tốt nghiệp đại học năm 1956 và được giữ lại trường làm cộng tác viên khoa học 4 năm.  Sau đó ông chuyển về Trung tâm cải huấn thanh niên Roxtuna. Năm 1965, ông chuyển về  Västerås, sống ở  đây tới 1979. Từ 1980 tới khi về hưu, ông làm việc với tư cách là nhà tâm lý học lao động ở cơ quan quản lý lao động quốc gia Thụy Điển.


Tomas Tranströmer bị những nhà thơ trẻ hơn phê phán là thiếu dấn thân. Tomas Tranströmer trả lời họ: ông tiếp cận và giáo hóa các tội phạm trẻ, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật bằng kiến thức tâm lý chuyên ngành.


Tomas Tranströmer là nhà thơ của thời đại. Sự cô đọng đặc biệt trong thơ Tomas Tranströmer  giống như họa phẩm thuộc trường phái siêu thực, được thể hiện qua các hình tượng, các cám dỗ siêu hình, sự im lặng và màu trắng.


Năm 1990, nhà thơ được Hội đồng Bắc Âu trao giải cho tập För levande och döda (Cho người sống và cho kẻ chết - 1989). Các tập haiku của ông  là: Sorgegondolen (Chiếc thuyền tai họa - 1996), Diktsamling (Đoản thi - 2001), Den stora gåtan (Đại ẩn ngữ - 2004).


Hai tập thơ nổi tiếng của ông được nhà thơ Mỹ Robert Bly dịch sang tiếng Anh là Mörkerseende (Tầm nhìn trong đêm - 1970) và trường ca Östersjöar (Baltic - 1974)


Ông từng nhận được nhiều giải thưởng uy tín nhất của làng văn chương thế giới như: Giải Bonnier (của Estonia) lĩnh vực thơ, Giải quốc tế Neustadt (Mỹ) dành cho văn học, Petrarca-Preis (Đức), Vòng hoa vàng tại Đại hội thi ca quốc tế Struga Poetry Evenings (Romania), Swedish Award trong Diễn đàn Thi ca Quốc tế, giải Thành tựu trọn đời của giải Thơ ca Griffin (Canada)…


Tomas Tranströmer quen thuộc với độc giả Thụy Điển và thế giới từ hơn 30 năm qua.  Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố lúc11h GMT (tức 18h Hà Nội) ngày 6.10.2011, Tomas Transtromer đoạt giải Nobel Văn học 2011. Lễ trao giải diễn ra vào ngày 10.12.2011 ở Stockholm, Thụy Điển.


Peter Englund - thư ký thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận định: “Qua những hình ảnh cô đọng và trong suốt, Tranströmer đã mở ra cho chúng ta một cách nhìn mới về hiện thực. Bạn không bao giờ cảm thấy nhỏ bé sau khi đọc thơ của Tomas Tranströmer .  Tomas Transtromer đến với thơ ca bắt đầu từ năm 1951. Gia tài của ông không quá đồ sộ. Nhưng ông đặt ra những câu hỏi lớn. Ông viết về cái chết, về lịch sử, ký ức và tự nhiên".


Transtromer đã xuất bản 16 đầu sách. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 50 thứ tiếng. Dưới đây là một bài thơ rút ra  từ TOÀN TẬP THƠ, mười một tập, Nguyễn Xuân Sanh dịch, giới thiệu, NXB Văn học, 2000.


Những nét gạch xóa của lửa 


Trong những tháng tối tăm này, đời anh chỉ tỏa sáng


Khi anh yêu em. Như con đom đóm chói chang rồi tắt ngóm,


Chói chang rồi tắt ngóm - đôi khi chúng ta cũng có thể đi theo


con đường của nó


Trong đêm giữa các cây ôliu.


Trong những tháng tối tăm này, đời anh bị xô giạt và ì trơ,


Tuy cả người anh đi thẳng đến với em.


Ban đêm, bầu trời gào thét.


Không cho ai biết, chúng ta rút sữa từ hoàn vũ, để sống còn.


LỜI CUỐI SÁCH


Khi học phổ thông (1954 - 1964), chúng tôi chỉ nghe được tên một vài người được giải thưởng Nobel Văn học. Ngoài cái tên bố mẹ đặt cho họ, chúng tôi không biết gì hơn. Nay năm 2006, chúng ta sử dụng được Internet, là ta tìm được những thông tin cần biết. Tại sao vẫn cứ phải viết? Riêng văn học là một môn khoa học liên ngành. Trước hết ta phải có tai âm nhạc, mắt hội họa, tư duy triết học thì văn ta mới giàu âm điệu, giàu hình ảnh, sâu sắc. Viết về tác phẩm nào, ta phải biết lịch sử, xã hội, địa dư, địa lý nhân văn của đất nước nhà văn đề cập tới trong tác phẩm. Nữ nhà văn Buck là người Mỹ chính gốc, nhưng bà chuyên viết về Trung Quốc, nên khi phân tích phải đưa tác phẩm vào bối cảnh lịch sử địa dư… Trung Quốc. Giải Nobel Văn học lại tính theo quốc tịch chứ không tính theo nơi sinh. Thông lệ quốc tế, việc phân loại như sau: viết bằng thứ tiếng nào (thí dụ: tiếng Pháp) thì tác phẩm ấy thuộc vào dòng văn học nói tiếng (Pháp) ấy. Phân tích tác giả, tác phẩm ta phải có lý luận văn học, phê bình văn học, văn học sử, ta mới đặt họ vào đúng vị trí mà họ có được, ta mới làm sáng tỏ nơi bạn đọc cái thú đọc tác phẩm văn học. Muốn vậy, ta phải đọc nhiều, thâm trầm sâu lắng, an nhiên tự tại để thấy cái cốt lõi mà diễn đạt nó ngắn gọn, súc tích. Có những người trong lễ nhận giải Nobel Văn học không đủ nội lực kiềm chế mình, họ nói cho hả dạ, việc họ nói không liên quan gì tới sự cao quý của giải Nobel Văn học. Nhiều người đến để nói lời cám ơn. Một số đến để nói về nghề văn. Họ nói khúc chiết, làm ta thấy điều đó mình chưa biết hay chưa nghĩ tới. Đó là cái hay trong diễn từ của họ. Trong văn học, khoa học tự nhiên đều có một người, sau khi nhận giải Nobel lại làm mình “nổi danh” bằng những việc làm giống những kẻ ở trong bóng tối, tự bôi nhọ mình và tấm huy chương. Việc viết cuốn sách này là thực hiện ước vọng muốn biết về những nhà văn được giải thưởng Novel Văn học của 40 năm trước của cá nhân người viết sách này, là tổng kết cả đời học tập, làm việc, nhằm kể lại cho bạn đọc xa gần, mong may ra họ có những phút thư giãn bổ ích qua cuốn sách khoa học phổ thông mang tính cơ bản và hệ thống.


***


Khi học năm thứ ba (1972) ngành ngữ văn Đức Đại học Tổng hợp Karl Marx, tôi có bài viết về bác sĩ Tôn Thất Tùng, về nhà văn Nguyễn Thi đăng trên báo Cộng hòa Dân chủ Đức. Tôi tham gia hiệu đính sách học tiếng Đức cho công nhân học nghề Việt Nam. Lúc rảnh rỗi, tôi dịch tục ngữ Đức ra tiếng Việt. Rồi theo thời gian cùng những biến chuyển của đất nước, công việc ngày một nhiều hơn, đa dạng, phong phú hơn. Thời bao cấp thì dịch Truyện cổ Grimm, vì “mơ được, ước thấy” chỉ có trong Truyện cổ Grimm (truyện cổ dân gian nói chung). Sang thời mở cửa thì thả sức làm việc, ai cũng lo biến giấc mơ thành hiện thực thì tôi có bộ sách Tiếng Đức cho người Việt Nam (Deutsch fũr Vietnamesen), khi Việt Nam muốn hợp tác với các nước thì tôi có bộ sách dùng vào việc “Đối thoại với các nền văn hóa”, vào việc tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc: 1.Đại cương văn học Đức từ khởi thủy tới 2002; 2.Danh nhân thế giới - Tiểu sử và Giai thoại; 3.Giới thiệu phương ngôn tục ngữ thế giới; 4.Giải thưởng Nobel Văn học 1901 - 2007. Đây là bốn quyển sách tổng kết cuộc đời học tập (1968 - 1974) và làm việc (1975 - 2005) của tôi từ khi còn trẻ cho tới khi về hưu. Việt Nam giờ đây - 2005 - cần kiến thức cơ bản và có hệ thống. Để đáp ứng nhu cầu bạn đọc yêu thích văn học Đức và để tổng kết 50 năm dịch văn học của Việt Nam (dịch các tác phẩm văn học Đức sang tiếng Việt), tôi cùng nhà văn Triệu Xuân chủ biên bộ sách Hợp tuyển văn học Đức (cuối năm 2006 ra được 2 tập trong bộ sách dự kiến 6 tập khoảng 8.000 trang khổ 16x24).


Thời bao cấp nhăn nhó vì khó khăn mọi thứ, nhưng an nhàn. Thời mở cửa nhăn nhó vì chưa thành đạt, luôn phải lo làm việc. Áp lực vật chất luôn hiện diện. Lo làm ăn thì xuất hiện cạnh tranh. Lành mạnh thì có tình người - ganh đua. Xấu chơi thì sinh ra tệ nạn - ganh ghét. Hai mặt phải - trái xuất hiện rõ nét không mù mờ như trước đó.


***


Văn học thế giới hết sức đa dạng, phong phú. Ta hãy quan sát giải Nobel Văn học từ năm 2000 tới 2007 để thấy tính toàn cầu hóa văn hóa của giải thưởng Nobel Văn học. Năm 2000, nhà văn gốc Trung Quốc Cao Hành Kiện (Gao Xingjian) nhận giải Nobel Văn học với tiểu thuyết Linh Sơn - tiểu thuyết mang tính toàn cầu, ghi lại những đắng cay của con người trong thế giới hiện đại. Năm 2001, Vidiadhar Naipaul sinh ở đảo quốc Trinidad thuộc Anh trong một gia đình nhà văn gốc Ấn dòng dõi Bàlamôn nhận giải Nobel Văn học vì những tác phẩm đa văn hóa viết theo lối tự sự mẫm cảm về lịch sử bị quên lãng của các dân tộc bị áp bức, về ảnh hưởng tệ hại của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa dân tộc đối với các dân tộc thuộc thế giới thứ ba và thế giới Hồi giáo. Năm 2002, Imre Kertesz là nhà văn Hungary gốc Do Thái nhận giải Nobel Văn học cho tiểu thuyết Không số phận - 27 năm sau khi tiểu thuyết này xuất bản (1975 - 2002) - một khám phá về khả năng sống sót và thích ứng của các tù nhân trong “địa ngục trần gian” - trong trại tập trung (Konzentrationslager) Hitler - một thế lực tàn bạo hoàn hảo. Năm 2003, John Maxell Coetze là nhà văn Nam Phi gốc Đức nhận giải Nobel Văn học vì sáng tác của ông thâm nhập sâu sắc vào những thân phận con người, chỉ ra sự tàn bạo cùng nỗi cô đơn của nó, lên tiếng bênh vực cho kẻ yếu. Qua đó, ông lột mặt nạ - cái ác - của cái gọi là “nền văn minh thuộc địa”. Năm 2004, nữ thi sĩ, nhà văn, nhà viết kịch Elfried Jelinek nước Áo nhận giải Nobel Văn học vì sáng tác của bà khắc họa một thế giới tàn nhẫn của bạo lực và quy phục, của kẻ đi săn và con mồi trong thương mại tình dục, phản ánh thân phận phụ nữ trong xã hội tiêu dùng. Năm 2005, nhà viết kịch Anh Harold Pinter sinh trong một gia đình thợ may gốc Do Thái nhận giải Nobel Văn học vì ông là người lưu giữ những yếu tố cơ bản của một tác phẩm kịch: một không gian khép kín, những đối thoại không thể tiên đoán, nơi gặp gỡ của lòng bao dung và ở đó không có sự tồn tại của những điều giả tạo. Điều đó thể hiện trong các kịch: Tiệc sinh nhật, Người giữ cửa… Năm 2006, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ thuộc khuynh hướng văn học hậu hiện đại Orhan Pamuk nhận giải Nobel Văn học vì “trong hành trình khám phá linh hồn sầu muộn của quê hương, nhà văn Pamuk đã phát hiện những biểu tượng mới cho sự va chạm và đan quyện của các nền văn hóa” (Nhận xét của Hội đồng giám khảo). Đây là lần đầu tiên, Thổ Nhĩ Kỳ có công dân đứng trong danh sách của giải thưởng Nobel Văn học. Năm 2007, nữ văn sĩ Anh Doris Lessing nhận giải thưởng Nobel Văn học vì sáng tác của nữ văn sĩ Doris Lessing phản ánh những trải nghiệm của một phụ nữ đã dò xét sự phân hóa của nền văn minh bằng cái nhìn hoài nghi, nồng nhiệt, mạnh mẽ. Hai tác phẩm khám phá tận đáy sâu của những xung đột về giới tính, chủng tộc, chính trị là: Đồng cỏ hát và Nhật ký vàng.


***


Thiên chức của văn học là phản ánh hiện thực xã hội để qua đó nói được nhân tình thế thái, dự cảm tương lai. Ở thế kỷ XX, từ khi có chủ nghĩa phát xít Hitler thì khuynh hướng văn học phụ thuộc chính trị rất rõ nét nên văn học không làm được thiên chức muôn thuở của nó.


Marx, Nietzsche, Freude có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng, tình cảm nhân loại, nên suốt nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, khi ấy nhân loại thiên về tình. Sau đó từ nửa cuối thế kỷ XX đến năm 2005, toán lý với Einstein là thuyết tương đối, với Max Plank là thuyết lượng tử, với Niels Bohr là thuyết tương hỗ đã đưa khoa học phát triển nhanh tới mức 1 ngày bằng 20 năm. Sức sản xuất tăng nhanh như vũ bão, hình thành xã hội tiêu thụ. Vì vậy, từ nửa cuối thế kỷ XX tới năm 2005, loài người lại nghiêng về lý. Nghiêng về tình thì của cải vật chất ít; nghiêng về lý thì của cải nhiều (mà lòng tham thì vô đáy) nhưng bất hạnh của con người lại gia tăng với sự gia tăng của cải: Đời sống có nhiều đảo lộn, không phải đâu cũng đưa lý vào được trong đời sống xã hội của loài người. Trong nhiều trường hợp nếu áp dụng có lý, có tình thì hợp với con người hơn là nếu nghiêng về hoặc là lý hoặc là tình. Phải mở đường cho lý, nhưng lại phải giữ được tình. Do đó khoa học nhân văn đóng vai trò nhắc nhở, cảnh báo giữ thế cân bằng, hài hòa trong phát triển: Mỗi người phải là một nhà thông thái trong đời sống hàng ngày, trong công việc nghề nghiệp. Loài người phải biết hợp lực với nhau trong giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ của nhau đối với sự sinh tồn, nâng cao chất lượng cuộc sống của loài người. Có nghĩa là phải biết lắng nghe, điều chỉnh, từ bỏ để cho có tình, có lý.


Văn học vẫn còn thiên chức muôn thuở của nó. Phần đông các nhà văn đoạt giải Nobel làm được thiên chức nghề mình trong hoàn cảnh đầy khó khăn trắc trở. Con người ngày nay học vấn, hiểu biết nhiều hơn ngày xưa, nhưng ứng xử lịch sự, chứ không nhân văn. Văn học phải là cơ chế cảnh báo, giúp con người sống sâu sắc hơn: sống nhân văn.


Thành phố Hồ Chí Minh, 25-9-2007


Nguồn: Thiên chức của Văn học: Giải Nobel văn học từ 1901-2011. Lương Văn Hồng biên soạn. NXB Văn học & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa xuất bản, 2011.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đọc lại bài của Tống Văn Công: Học và không học những gì từ Trung Quốc? - Tống Văn Công 23.08.2019
Nguyên Ngọc Tố Hữu và Hội nghị Đảng viên 6/1979 - Vương Trí Nhàn 21.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (40) - Nguyễn Văn Khỏa 20.08.2019
Cò bất động sản - Tư liệu sưu tầm 20.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (39) - Nguyễn Văn Khỏa 19.08.2019
Toàn văn thông cáo phán quyết của PCA vụ kiện Philippines-Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 18.08.2019
Giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài theo phụ lục VII - Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 - Tư liệu 18.08.2019
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - Tư liệu 17.08.2019
Lý do tại sao Trung Quốc không thể tấn công Hàng không mẫu hạm của Mỹ - Tư liệu sưu tầm 13.08.2019
Cá tráp biển - Tư liệu sưu tầm 12.08.2019
xem thêm »