tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950427
04.07.2019
Tư liệu sưu tầm
Chơi sách – Thú chơi tao nhã: Cây quỳnh cành dao


Cũng dễ chừng đã hai trăm năm rồi, cái từ “édition de luxe” của tiếng Pháp có nghĩa là “bản đặc biệt” hay “bản đặc ấn”([1]) chuyển di vào kho từ vựng các nước nói tiếng Anh và còn lưu lại đó cái tên gốc mỹ miều ấy cho đến tận bây giờ. Sở dĩ như vậy, vì nước Pháp là cái nôi khai sinh bản đặc biệt như thế này, vì nước Pháp khai mở nét đẹp tinh tế, một tập quán văn hóa ảnh hưởng đến thị hiếu sưu tập sách của nhiều nước khác. Và theo chân người Pháp, thú chơi sách du nhập vào Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, ngay khi ngành xuất bản, theo đúng nghĩa hiện đại, bắt đầu hình thành và phát triển. Một số nhà xuất bản và một số tác giả, ngoài những bản thường, còn in thêm một ít bản đặc biệt dành riêng cho kẻ chơi sành sỏi thưởng ngoạn. Những bản này thường đóng bìa cứng, chạm khắc tỉ mỉ, in trên thứ giấy mỹ thuật quý hiếm, ghi dấu riêng, đánh số thứ tự bằng số La Mã, Ả Rập hoặc bảng chữ cái… kèm chữ ký, triện son tác giả, nhà xuất bản và không ghi giá bán như thường lệ, đôi khi thêm vài bức tranh minh họa, dăm ba tư liệu vốn không có ở bản thường([2]).


 


Đoạn văn của bà quả phụ Nguyễn Khắc Hiếu viết năm 1940 in trong bộ sưu tập thơ văn Tản Đà([3]) ít nhiều có thể thấy tao nhân mặc khách thời ấy đã chuộng sách có giá trị thẩm mỹ, đã bắt đầu quen hơi bén tiếng với thú chơi tao nhã này:


(…) Chúng tôi có được nghe một vài bạn làng văn nhân bảo rằng xuất bản toàn tập thơ văn Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu nên xuất bản thành những quyển sách có mỹ thuật, dù bán đắt tiền, cũng hợp với cái sở thích của những nhà ưa sách đẹp, tức là phái tư bản trong bạn yêu văn (…).


 


Và đoạn văn nữa tiếp theo ít nhiều cũng có thể thấy loại sách này quý hơn, đắt tiền hơn nhiều([4]) (so với bản thường khác) và rất khó đến tay dân chúng:


(…) Tôi xin thưa lại rằng: Chính là theo ý của chồng tôi lúc sinh thời, cho nên trước hết tôi xuất bản những cuốn sách có thể bán rẻ tiền, có tính cách bình dân, như quyển Tản Đà Vận Văn I và quyển này. Trong mấy năm gần đây, ông Tản Đà luôn luôn nghĩ đến bình dân, muốn cho văn chương của ông truyền tụng trong dân gian. Bởi vậy hiện nay tôi chỉ ước ao sao cho những sách Tản Đà Vận Văn và Tản Văn được phổ cập trong khắp chốn bình dân (…).


 


Với tôi, cái gợi cảm kín đáo của bản đặc biệt hình như nằm ngoài tầm tay với. Lại sinh sau đẻ muộn, tôi chẳng thế nào rành rọt ngọn ngành những mẩu chuyện quanh bản đặc biệt trên chặng đường dài của nghề ấn loát nước nhà. Bản đặc biệt đầu tiên có từ bao giờ? Loại sách gì thường có bản đặc biệt? Nhà xuất bản nào thường in thêm bản đặc biệt? Không nhiều cơ duyên nâng niu những bản in nửa đầu thế kỷ XX nhưng tôi ngờ rằng tác phẩm biên khảo do Minh tân, Sông Nhị… ấn hành hầu như không có bản đặc biệt, ngoại trừ vài trường hợp hãn hữu. Như bộ Lý Thường Kiệt của Sông Nhị chỉ có ba mươi bản đặc biệt([5]). Riêng loại biên khảo trong tùng thư “Sách Giáo khoa”, “Những Tấm gương”, “Loại Hiểu biết”… của Tân Việt thì hay gặp hơn, mặc dù không phải tất cả. Như Việt Nam thi văn giảng luận, Nhị thập tứ hiếu([6])…, Tân Việt cho in dăm ba đến vài chục bản đặc biệt.


Dường như chỉ thơ, tùy bút, tiểu thuyết… mới được tác giả và người làm sách để tâm đến vẻ đẹp cho ấn phẩm. Những bản đặc biệt này rất hiếm, nhất là bản có thủ bút, chữ ký tác gia vang danh như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Thạch Lam… hầu như không còn. Mỗi lần xuất bản in từ vài ngàn đến chục ngàn, bây giờ tìm được một cuốn bình thường đã khó rồi, huống chi những bản đặc biệt này vốn chỉ có đôi ba chục bản.


 


Thường trang chi tiết ấn phẩm cuối sách ghi rõ có bao nhiêu bản đặc biệt, trên loại giấy gì, bản nào có chữ ký tác giả, ấn son nhà xuất bản… và nếu thông tin này để ngỏ thì mặc nhiên hiểu là không có bản đặc biệt. Tuy vậy, có khi người làm sách chỉn chu hơn, cho hay: “Không có loại/bản đặc biệt”. Như Đường thi của Phạm Liễu, vở kịch Thành Cát Tư Hãn của Vi Huyền Đắc, bản dịch Phân tâm học và Thần tượng lạ do Trẻ ấn hành([7]). Có phải hàm ý khuyên kẻ chơi sách đừng cất công đi tìm bản đặc biệt chăng?


 


Từ điển hay tập san, tuy không phổ biến nhưng họa hoằn vẫn có bản đặc biệt. Chẳng hạn, Việt Nam tự điển của Khai trí Tiến đức([8]) in thêm 52 bản không bán, đánh số từ I đến LII kèm ấn hiệu nhà xuất bản hay Việt Nam bách khoa từ điển của Đào Đăng Vỹ([9]), ngoài những bản thường, còn có 800 bản trên giấy trắng dày đặc biệt và 200 bản trên giấy láng quý được đánh số với chữ ký và triện son của tác giả. Còn tập san, cũng vậy. Tôi từng gặp bản đặc biệt Tập san Sử Địa (do nhóm giáo sư, sinh viên Đại học Sư phạm Sài Gòn chủ trương với sự bảo trợ của Nhà sách Khai trí), số 22, tháng 4 đến tháng 6 năm 1971. Hay nguyệt san Văn uyển số 7, tháng 11 năm 1968 (in tập thơ Cành mai trắng mộng của Vũ Hoàng Chương) có riêng 50 cuốn trên giấy trắng láng và trên giấy trắng mịn dành cho tác giả và Cơ sở Xuất bản Văn.


 


Thường bản đặc biệt có chữ ký tác giả. Trang chót Bức tranh quê của Anh Thơ([10]) ghi rõ: (…) có in thêm 50 cuốn lụa gió thường đánh số từ 1 đến 50, 5 cuốn lụa gió thượng hạng đánh số từ I đến V và 10 cuốn Impérial Annam à la cuve đánh số từ A 1 đến A 10. Cuốn nào cũng có thêm 4 bức họa của Tô Ngọc Vân. 65 cuốn sách quí đều có chữ ký của tác giả. Một số bản đặc biệt không có chữ ký của tác giả. Tủ sách tôi có bản đặc biệt số XXXIII cuốn Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng của Hoa Bằng([11]): (…) có in thêm năm mươi quyển đặc biệt bằng giấy ngọc cốt, mười quyển đánh số H. B. I đến H. B. X có chữ ký của tác giả và bốn mươi quyển B. P. XI đến B. P. L có ấn son của Nhà Xuất bản Bốn phương không bán. Bản thường trở thành bản đặc biệt khi bút tích tác giả, lời đề tặng, chữ ký… xác nhận điều đó. Điều này cũng dễ hiểu, tác giả lấy thêm bản thường ký tặng, do số lượng bản đặc biệt quá ít ỏi. Vùng trời quê hương([12]), tác giả đề tặng “Ấn bản đặc biệt dành riêng Lê Gia Hiển 1972” và kèm theo ấn ký. Có trường hợp, bản đặc biệt in trên giấy chất lượng hơn, bán đại trà giá cao chứ không có chữ ký. Bản đặc biệt Quảng Nam qua các thời đại([13]) đặt giá ủng hộ, quyên góp kinh phí cho Hội Cổ học Tùng thư, Đà Nẵng. Lại có bản đặc biệt chỉ khác với bản thường do thêm vào một trang mới. Một số bản Non nước xứ Quảng tân biên (1971)([14]) dán thêm tờ rời đầu sách thay thế cho tờ tiêu đề đã in và làm thành bản đề tặng với dòng chữ “Bản dành riêng cho”. Và có khi tất cả đều gọi là bản đặc biệt. Đặc phẩm Bút nở hoa đàm của Vũ Hoàng Chương([15]), họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẽ bìa, họa sĩ Nghiêu Đề trình bày, in trên giấy mây trắng dành riêng cho người yêu thơ và chỉ có 5 (sic – 4?)  bản mới thực sự là đặc biệt đánh số VHC-NGTI-VCH-NGTV (Những chữ viết tắt tên tác giả, những người thân tình của tác giả và có lẽ cả người làm sách) dành riêng cho tác giả và nhà xuất bản.


 


Nhân đây, tôi lan man ngoài lề chuyện chữ ký, ấn son chẳng liên quan đến bản đặc biệt dùng làm tặng phẩm trên đây. Quãng những năm 1950, các bản in tác phẩm của tác giả Đào Văn Hội([16]) đều có chữ ký tác giả, ở mặt sau trang tiêu đề, ngay dưới dòng chữ: “Quyển sách nào không có chữ ký tên của tác giả là đồ gian” hoặc “Quyển sách nào không có chữ ký tên hoặc dấu hiệu của soạn giả là đồ gian”. Còn soạn giả Võ Oanh, Trịnh Chuyết ký tên vào các bản Chữ Tàu tiếng Nam, Từ điển tam ngữ([17]), như thể là một nề nếp xác lập tác quyền thuộc về mình. Chỉ in hạn chế dành riêng sinh viên, không bán tại các hiệu sách, những bài giảng dân luật của Vũ Văn Mẫu có thêm dấu phát hành trên bìa trước([18]). Bìa lưng cuốn Trích dịch Minh tâm bảo giám chồng thêm dòng chữ “Hội Khổng học Việt Nam xuất bản. Chữ ký bảo đảm” và đóng ngay bên dưới một mẫu chữ ký khắc sẵn([19]) như để người mua yên lòng rằng chắc chắn ấy là sách thật. Và sách nhà Cảo thơm, hầu hết đều có ấn triện (có khi bọc quanh là dòng chữ Cảo thơm lần giở trước đèn) kèm những ký số như Cảo thơm 68, Cảo thơm 70, Cảo thơm 89… ở trang chót, góc dưới cùng bên trái. Hình như đây là ký số riêng cho mỗi tác phẩm chào đời của cơ sở xuất bản. Ví dụ, Cảo thơm 62 là Vang bóng một thời, Cảo thơm 75 là Ngày xưa và Cảo thơm 82 là Truyện con người([20])… Một cách làm khẳng định tính chân thực của mỗi văn phẩm mang danh Cảo thơm? Có phải đây là dạng thức ban đầu của tem chống hàng giả với lời “hiệu triệu” mang chút âm hưởng cam chịu “mua bán sách giả là giết chết sách thật” của các nhà xuất bản, các công ty sách hôm nay? Một “đề từ” nghe rất quyết tâm và tràn đầy khí thế nhưng chừng xem ra người làm sách đã buông lơi trước một tình cảnh không sao thay đổi được.


 


Giai đoạn 1954 – 1975, tại miền Nam, nhà Bốn phương, Lá bối, Nam chi Tùng thư…đều in thêm bản đặc biệt rất đẹp, đến nay vẫn được nhiều người đi săn tìm. Chúng ta gặp những dòng chi li, thật ấn tượng, thể hiện tình cảm của tác giả dành cho người mình đề tặng:


 


(…) Ngoài những bản thường, tác giả in thêm 100 quyển giấy trắng mang chữ tri kỷ, không đề giá bán, dành cho các bạn bè. Đánh số từ TK 1 đến TK 100. 20 quyển để tặng báo chí và văn nghệ sĩ toàn quốc. Đánh số bằng dấu Thơ Ngang từ TN 1 đến TN 20. 15 cuốn dành cho gia đình tác giả, đánh số bằng bút hiệu của tác giả từ TP 4 đến TP 15 và ba cuốn đầu dành riêng cho tác giả đánh số từ TP 1 đến TP 3.


Quyển I: Tác giả tự đề tặng cho mình.


Quyển II: Dành riêng đề tặng cho một người bạn gái đặc biệt do tác giả lựa chọn (nếu có).


Quyển III: Cho đứa con tương lai của tác giả (có tài về văn nghệ) (…)([21]).


Bản đặc biệt khoảng vài chục bản, hầu hết để tác giả và nhà xuất bản dùng làm tặng phẩm. Có trường hợp ghi cả tên người được đề tặng như Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư([22]): (…) 9 bản Rừng Quế dành tặng gia đình và một bản Trà Bồ riêng tặng nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh (…). Có người lại hỏi rằng nhà xuất bản nào in thêm bản đặc biệt để bán? Thỉnh thoảng, chúng ta gặp vài dòng loan báo như vầy: (…) Quý độc giả ở xa (…) hoặc muốn có bản đặc biệt, xin biên thư về cho nhà xuất bản, sách in xong, chúng tôi sẽ gửi bảo đảm đến quý vị([23]). Tôi thử giở lại những trang chi tiết ấn phẩm mà quả đoán thêm. Đa số đều mang nội dung “bản đặc biệt dành riêng cho tác giả và nhà xuất bản”, có trường hợp kỹ hơn là “để đề tặng”. Vậy thì, những trường hợp không có chi tiết “để đề tặng” nghĩa là có một số bản đặc biệt bán cho kẻ chơi sách chăng?


 


Bản đặc biệt có số lượng lớn hơn, đến hàng trăm, như Thú chơi cổ ngoạn([24]) của Vương Hồng Sển. Các bản đặc biệt đánh số thứ tự từ 1 VHS/CTN đến 200 VHS/CTN và những bản còn lại cũng đánh số từ 201 VHS/CTN đến 3.200 VHS/CTN đều là những ấn phẩm không bán, dành riêng cho tác giả và Viện Dược phẩm Cophavina. Mặc dù nói thì nói vậy, chứ thực tế khác hẳn, ở trang chi tiết ấn phẩm cuối sách của chính cuốn này, đặc sệt giọng hài hước, tác giả rao hàng: Từ số nầy, tác giả xin miễn tặng sách. Nhà còn dư vài chục bộ H.C.Đ.S., gồm các số 1, 2, 3 có chữ ký – xin dành riêng cho các bạn nào biết bụng nhau: mua giá nầy, sau khỏi phúng điếu: mỗi cuốn: 1.000 đồng (số 1, 2 còn rất ít). Bán luôn 3 cuốn (1, 2, 3) từ 3.000 đồng sắp lên, tùy hỷ.


 


Ở đời, theo lẽ thường, có hiếm mới quý, càng hiếm càng quý. Một trong những nét đặc trưng bản đặc biệt là số lượng hạn định, chừng vài chục đến một hai trăm bản. Một chút băn khoăn, xưng danh là đặc biệt mà có đến cả ngàn, dù người làm sách vẫn giữ nguyên nét nghĩa “tinh tế và kiêu sa” trong con chữ “édition de luxe” tức là in trên thứ giấy thượng hảo hạng, tất cả đều đánh số thứ tự kèm theo chữ ký tác giả nhưng cái quy ước tối thiểu là số lượng có chừng, một cái vị mặn mòi của bản đặc biệt đã không còn đoái hoài gì đến nữa rồi. Chút ái ngại không thể nào che giấu. Liệu cả ngàn bản đều là đặc biệt? Liệu có phải là xảo thuật chèo kéo nhà sưu tập cả tin của người làm sách? Kẻ chơi sách lão luyện, vốn mến chuộng bản đặc biệt, ít hay nhiều đều hoài nghi cái tuyệt hảo phô trương quá đà và đề cao quá mức như thế này.


 


Một dòng đồng điệu với bản đặc biệt nhưng chưa phổ biến mấy ở Việt Nam: art book (đúng hơn là illustrated book), tạm gọi là ấn phẩm mỹ thuật hoặc nếu thích dịch nôm na cho thuần Việt, sách đẹp. Ấn phẩm mỹ thuật này được chăm chút từng chi tiết một, từ hình thức đến nội dung, thường là thứ sách khổ lớn, in ấn công kỹ, bìa cứng, chất liệu giấy hảo hạng, chủ yếu giới thiệu tác phẩm của các họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, bộ sưu tập các bảo tàng danh tiếng, tác vật mỹ nghệ… Cùng nòi với bản đặc biệt còn có bản hạn chế (limited edition). Ngày xưa, với kỹ thuật truyền thống, để đảm bảo tất cả các bản in có chất lượng đồng đều như mong đợi, nhất là ấn phẩm có tranh minh họa, người ta thường cho in bản hạn chế. Biến điệu đi chút ít, bản này tựa như bản đặc biệt, số lượng ít, mỗi bản đều có chữ ký tác giả, họa sĩ minh họa, mang một ký số riêng (chẳng hạn, bản 15/100, C/26 nghĩa là bản 15 trong số 100 bản, bản C trong số 26 bản). Cái độc đáo của bản hạn chế là chỉ in một lần duy nhất, số lượng gói gọn trong vài trăm bản đổ lại chứ sách tiêu thụ hết cũng không in thêm như thường lệ. Có khi mỗi bản hạn chế đính theo tờ giấy chứng nhận ghi tên tuổi người sở hữu. Hiện nay, kỹ thuật cho phép in một lượng lớn hơn nhiều, đến hàng nghìn cũng không ảnh hưởng mấy đến chất lượng loạt in về sau nhưng nhiều nhà xuất bản vẫn còn giữ tập quán này. Tại sao vậy? Một chút tinh ý có thể nhận ra vài lý do. Thứ nhất, số lượng in càng nhiều, giá trị sưu tập giảm đi đáng kể. Thứ hai, sách khan hiếm ngay từ thuở ban sơ dường như bán chạy hơn. Thứ ba, sức mua chỉ chừng vài trăm bản thôi, in dôi ra cũng chẳng để làm gì, đằng nào cũng in bấy nhiêu thôi, nên chi ấn hành bản hạn chế như một lối tiếp thêm chút kiểu cách cho cuốn sách. Một số nhà xuất bản ít tiếng tăm thường cho in hằng hà nhưng không loan báo có bao nhiêu bản. Vì vậy, bản hạn chế tuy được nhiều người thèm muốn nhưng điều này không cứ là nhất thành bất biến mà cần phải dè dặt xét đoán trước những điểm gợi lên chút hoài nghi như vừa kể. Khi ấn hành bản hạn chế, người làm sách in dôi ra một số bản (so với con số ấn định trước) gọi là bản in thêm (out of series), dự phòng sự cố ngoài ý muốn (thất lạc, vào bìa nhầm…), dùng nộp lưu chiểu và dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản, nhà phê bình… Hình thức những bản này y hệt như bản hạn chế, có điều không mang ký số, chữ ký tác giả, đôi khi in thêm dòng chữ “out of series”. Khỏi phải nói, ngoại trừ bản được tác giả ký tặng, giá trị của nó không sao sánh được với bản đúng nguyên nghĩa là hạn chế.


 


Một thời gian dài, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ 1975 trên cả nước cho đến gần đây, các nhà xuất bản dường như lạc ra ngoài truyền thống in bản đặc biệt, họa hoằn lắm mới gặp một vài trường hợp lẻ loi. Tập thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm([25]) được Nhà Xuất bản Văn nghệ cho in 36 cuốn trên giấy đặc biệt không bán. Tác phẩm Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh([26]) với nét bút rồng bay phượng múa của Phạm Phú Tiết trên nền họa tiết do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung thiết kế, ngoài những bản in trên giấy Trung Quốc số 4, giấy báo Liên Xô, giấy Châu liêm Trung Quốc, còn có 695 cuốn in trên giấy dó lụa Việt Nam. 300 kiểu chữ đẹp([27]), ngoài những cuốn thường, có thêm 100 cuốn trên giấy tốt. Hay tập thơ kháng chiến Pháp Đẹp hơn nước mắt của tác gia tên tuổi như Louis Aragon, Paul Eluard, Pierre Emmanuel, René Char… còn in riêng 500 cuốn trên giấy couché([28]). Những tác phẩm sau cùng vừa kể, dường như các nhà xuất bản mặc nhận bản in trên loại giấy quý là bản đặc biệt chăng?


 


Còn đâu tác phẩm mỹ thuật tinh xảo? Còn đâu những trang trí hoa văn cổ điển trang nhã? Còn đâu những bìa gấm, gáy da, chữ vàng? Còn đâu bản đặc biệt với chữ ký tác giả dành riêng cho kẻ chơi sách? Gần đây, một số nhà làm sách tìm cách gợi lại cái thú tao nhã dường như đã bị khuất lấp. Quay trở về truyền thống, từ cuối năm 2009, cùng một tựa sách thuộc Tủ sách Tinh hoa kinh điển, Nhà Xuất bản Tri thức phát hành bản đặc biệt song song với bản thường. Bản đặc biệt đóng bìa cứng, in trên chất liệu giấy quý, số lượng in hạn chế, chỉ in một lần và không tái bản. Bản thường, bìa mềm, số lượng in không hạn chế và giá thành thấp hơn bản đặc biệt.


 


Một trăm bản đặc ấn của hợp tuyển Văn mới 5 năm đầu thế kỷ([29]) xứng danh kỳ và quý. In trên giấy conqueror (một thứ giấy xứng danh là nhãn hiệu số 1 thế giới, được sản xuất từ các loại bột hoàn toàn không dùng chất tẩy trắng, màu ngà, bề mặt mịn, nhẵn bóng, bền theo thời gian, lưu giữ cả trăm năm), bìa cứng in ảnh chân dung tất cả các tác giả và thêm chữ ký trực tiếp của 39/41 tác giả. Tập thơ Huyền thoại tình yêu của Thiên Hà([30]) in riêng 100 bản đặc biệt trên giấy Hoàng anh (đánh số từ TH001 đến TH100) dành cho bạn yêu thơ và hai mươi ấn phẩm đặc biệt, ghi danh bằng hữu và người yêu thơ có tên trong di chúc (ký hiệu HTTY01 đên HTTY20). Tất cả đều không đề giá bán, có chữ ký, triện son tác giả. Bản tôi sưu tập được là một trong hai mươi bản rất đặc biệt này, in danh tính nhà thơ Kiên Giang ở trang cuối, ngay dưới phần chi tiết ấn phẩm. Một số ấn phẩm ban đầu chưa phải là “đặc biệt” nhưng khi gắn với giá trị tinh thần nào đó, như bản dành riêng cho chính tác giả, bản đề tặng cho một người tiếng tăm, bản có chữ ký chủ sở hữu tên tuổi… có thể tạm xem là những “độc bản” đặc biệt. Tập ký sự nhân vật Người nổi tiếng, tôi biết([31]), mặc dù không có kế hoạch chuẩn bị chu đáo như quyển Văn mới 5 năm đầu thế kỷ trên đây nhưng tôi cũng tìm được bản có chữ ký một số người chung tay làm nên cuốn sách như tác giả Đinh Thu Hiền, nhà thơ Lê Minh Quốc (viết lời giới thiệu), họa sĩ Nhím (vẽ chân dung tác giả và nhân vật) cùng với các nhân vật được khắc họa là nhà văn Đoàn Thạch Biền, nhà báo Giản Thanh Sơn, nghệ sĩ nhiếp ảnh Thái Phiên…


 


Ở các nước, nhất là Pháp, bản mỹ thuật làm rất công kỹ, có chữ ký tác giả, đánh số thứ tự (một hai chục cuốn đầu tiên xếp vào loại rất đặc biệt tạm gọi là bản tác giả)… Mọi thứ đều tuyệt hơn, hoàn hảo hơn và số lượng lại ít nên không dễ gì kẻ chơi sách nào cũng cầm được trong tay cho thỏa lòng. Việc in bản đặc biệt, thường với tuyển tập, là cách khẳng định vị thế sáng giá trên văn đàn, tác phẩm giá trị trong đời sống văn chương rồi đây sẽ thuộc vào hàng kinh điển của lịch sử văn học. Những bản này khá đắt tiền, nhất là bản có tranh một danh họa vẽ, có bìa một nghệ nhân tên tuổi đóng, có thể xem như một thứ tài sản nho nhỏ. Và nó không chỉ có ý dành riêng cho dân ghiền sách đẹp chờ đặt trước mà còn là một món quà quý báu vô ngần được các nhà văn trân trọng trao nhau. Người học thức không mấy ai lại không thừa nhận câu châm ngôn của F. Bacon: “Có loại sách để nếm, có loại để nuốt và chỉ một ít phải nghiền ngẫm, tiêu hóa”. Và trong giới mê sách lưu hành một dị bản bảo rằng sách gồm hai loại, loại thường để đọc và loại đặc biệt dành riêng cho thưởng ngoạn.


____


[1] Từ “bản đặc ấn” đôi khi thấy ghi trên ấn phẩm nhà Quình lâm do Đông Hồ và Mộng Tuyết chủ trương: Hai trăm bản đặc ấn đầu tiên, trên trang tiêu đề có thủ bút tác giả và được đánh số từ Thủy cổ nguyệt I đến Thủy cổ nguyệt CC. Xem: Đông Hồ. Bội lan hành. Quình lâm. Sài Gòn. 1969.


[2] Như 76 bản đặc biệt Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân) do Cảo thơm, Sài Gòn ấn hành năm 1962 có thêm họa phẩm Người và Guitare của Nghiêu Đề.


[3] Mặc dù chưa phải là một công trình nghiên cứu giá trị và đáng tin cậy về một tác gia nhưng có lẽ đây là một trong những ấn phẩm đầu tiên mang danh “toàn tập” xuất bản ở nước Việt vào nửa đầu thế kỷ XX. Xem: Mme Vve Nguyễn Khắc Hiếu. Thay bài tựa. Trong: Tản Đà vận văn toàn tập. Quyển thứ hai. Tản Đà Thư cục. Hà Nội. 1940: III – VI.


[4] Nói chung, giá bán bản đặc biệt thường gấp đôi, gấp ba bản thường. Chẳng hạn, tờ Phổ thông (số 91, ngày 1 tháng 11 năm 1962, trang 102 – 3)  thông báo đã phát hành tập thơ Hoang vu của Nguyễn Vỹ (Phổ thông Tùng thư, Sài Gòn, 1962) và thông tin thêm, loại trên giấy duplicateur, bìa bristol giá đến 85$, loại trên giấy impression, bìa blanc-fin chỉ có 30$.


[5] Hoàng Xuân Hãn. Lý Thường Kiệt [Quyển thượng]: Lịch sử ngoại giao triều Lý, [Quyển hạ]: Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý. Sông Nhị. Hà Nội. 1949, 1950.


[6] Hà Như Chi. Việt Nam thi văn giảng luận (Văn học triều Nguyễn –  thế kỷ XIX). Tập II. In lần thứ ba. Sách Giáo khoa, Tân Việt. Sài Gòn. 195?, Lý Văn Phức. Nhị thập tứ hiếu. Chu Lang Cao Huy Giu đính chính, chú thích. Sách Giáo khoa, Tân Việt. Sài Gòn. 195?.


[7] Phạm Liễu. Đường thi. Văn khoa. Sài Gòn. 1972, Vi Huyền Đắc. Thành Cát Tư Hãn. Người Việt Tự do. Sài Gòn. 1956, J. B. Charrier. Phân tâm học. Lê Thanh Hoàng Dân dịch. Trẻ. Sài Gòn. 1972, Thomas Mann. Thần tượng lạ. Nguyễn Tử Lộc dịch. Trẻ. Sài Gòn. 1974.


[8] Hội Khai trí Tiến đức (khởi thảo). Việt Nam tự điển. Văn mới. Sài Gòn. 1954.


[9] Đào Đăng Vỹ. Việt Nam bách khoa từ điển (có bổ chú chữ Hán, Pháp và Anh) (Dictionnaire encyclopedique Vietnamien (avec annotations en chinois, français et anglais), Vietnamese encyclopedic dictionary (with annotations in Chinese, French, English)). Quyển một – ba. Sài Gòn. 1960, 1961.


[10] Anh Thơ. Bức tranh quê (thơ). Nxb Đời nay. Hà Nội. 1941.


[11] Hoa Bằng. Hồ Xuân Hương nhà thơ cách mạng. Hiên Phổ thông, Viện Học thuật, Bốn phương. Sài Gòn. 1950.


[12] Trần Nhất Hoan. Vùng trời quê hương (truyện dài). Trường giang. Sài Gòn. 1972.


[13] Phan Du. Quảng Nam qua các thời đại. Quyển thượng. In lần thứ nhất. Cổ học Tùng thư. Đà Nẵng. 1974.


[14] Phạm Trung Việt. Non nước xứ Quảng tân biên. Sđd. Tên sách trên trang tiêu đề bản đề tặng là Non nước xứ Quảng (Quảng Ngãi).


[15] Vũ Hoàng Chương. Bút nở hoa đàm (thơ). Vạn Hạnh. Sài Gòn. 1967. Ấn bản này chỉ còn một ít vì sách in xong, chưa kịp phát hành rộng rãi thì bị cháy trong cơn binh lửa xuân Mậu Thân. Xem: Sơ lược tiểu sử Vũ Hoàng Chương (trang 1 – 4) trong tập san Văn, số đặc biệt về nhà thơ nổi danh từ thời tiền chiến, Vũ Hoàng Chương (số 150, ngày 15 tháng 3 năm 1970).


[16] Đào Văn Hội. Tự điển dấu hỏi (?) dấu ngã (~). Lý Công Quán. Sài Gòn. 1950, Danh nhân nước nhà. Lý Công Quán. Sài Gòn. 1951.


[17] Trần Văn Ân, Võ Oanh (biên soạn). Chữ Tàu tiếng Nam (Recueil des expressions Sino-Annamites). Dương Văn Giáo đề từ. Đức Lưu Phương. Sài Gòn. 1934 (?), Trịnh Chuyết và một nhóm giáo sư, học giả. Từ điển tam ngữ Việt-Anh-Pháp, Anh-Pháp-Việt, Pháp-Anh-Việt. Nxb Xuân trinh. Sài Gòn. 1974.


[18] Như Vũ Văn Mẫu. Việt Nam dân luật lược giảng luật gia đình. Quyển I, tập I (chương trình cử nhân luật khoa, năm thứ nhứt). Sài Gòn. 1973.


[19] Trích dịch Minh tâm bảo giám (Gương báu soi sáng cõi lòng). Nguyễn Trác, Lê Phục Thiện dịch. In lần thứ nhất. Hội Khổng học Việt Nam. Sài Gòn. 1957.


[20] Nguyễn Tuân. Vang bóng một thời. Cảo thơm. Sài Gòn. 1962, Nguyễn Nhược Pháp. Ngày xưa. Cảo thơm. Sài Gòn. 1966, Phan Du. Truyện con người. Cảo thơm. Sài Gòn. 1968. Ngoại lệ, bản dịch Những ngày thơ ấu và chuyên khảo về Mạnh tử cùng mang chung ký số Cảo thơm 90. Xem: Maxime Gorki. Những ngày thơ ấu. Nguyễn Xuân Hiếu dịch. Cảo thơm. Sài Gòn. 1973, Nguyễn Hiến Lê. Mạnh tử. Cảo thơm. Sài Gòn. 1975. Có lẽ Cảo thơm 91 trên Tuyển tập thơ Hán Việt phát hành ngày 14 tháng 2 năm 1975 là ký số sau chót của nhà làm sách này. Xem: Tuyển tập thơ Hán Việt. Đông Xuyên chú dịch, Nguyễn Hiến Lê đề tựa. Cảo thơm. Sài Gòn. 1975.


[21] Trào Phúng. Thơ ngang. Tác giả xuất bản. Quảng Ngãi. 1964.


[22] Phạm Thiên Thư. Đoạn trường vô thanh. Nến hồng. Sài Gòn. 1972.


[23] Tuệ Sỹ. Triết học về tánh không (Sùnyavàda). An Tiêm. Sài Gòn. 1970: 193.


[24] Vương Hồng Sển. Thú chơi cổ ngoạn. Tác giả xuất bản. Sài Gòn. 1971 (Hiếu cổ Đặc san số 3).


[25] Hoàng Cầm. Bên kia sông Đuống (tập thơ 1948 – 1955). Tái bản. Nxb Văn nghệ. Hà Nội. 1956.


[26] Hồ Chí Minh. Nhật ký trong tù. Nxb Văn hóa, Viện Văn học. Hà Nội. 1960.


[27] Phạm Đan Quế. 300 kiểu chữ đẹp. Tập 1. Công ty Phát hành Sách Giáo khoa và Thiết bị Trường học Hà Nội. Hà Nội. 1990.


[28] Đẹp hơn nước mắt (thơ kháng chiến Pháp). Tế Hanh tuyển dịch, in hai thứ tiếng. Nxb Văn học. Hà Nội. 1983 (Plus belle que les larmes (anthologie des poèmes de la Résistances française). Réalisée par Tế Hanh, edition bilingue. Maison des Éditions littéraires. Hanoi. 1983).


[29] Văn mới 5 năm đầu thế kỷ (Hợp tuyển truyện ngắn của những tác giả đang được mến mộ). Hồ Anh Thái tuyển chọn. Nxb Hội Nhà văn. Hà Nội. 2005.


[30] Thiên Hà. Huyền thoại tình yêu (thơ). Nxb Thanh niên. Hà Nội. 2006.


[31] Đinh Thu Hiền. Người nổi tiếng, tôi biết. Nxb Văn hóa Sài Gòn. Thành phố Hồ Chí Minh. 2007.


Nguồn: Posted on 14.03.2015 by nguoicamthanh


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đọc lại bài của Tống Văn Công: Học và không học những gì từ Trung Quốc? - Tống Văn Công 23.08.2019
Nguyên Ngọc Tố Hữu và Hội nghị Đảng viên 6/1979 - Vương Trí Nhàn 21.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (40) - Nguyễn Văn Khỏa 20.08.2019
Cò bất động sản - Tư liệu sưu tầm 20.08.2019
Thần thoại Hy Lạp (39) - Nguyễn Văn Khỏa 19.08.2019
Toàn văn thông cáo phán quyết của PCA vụ kiện Philippines-Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 18.08.2019
Giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài theo phụ lục VII - Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 - Tư liệu 18.08.2019
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - Tư liệu 17.08.2019
Lý do tại sao Trung Quốc không thể tấn công Hàng không mẫu hạm của Mỹ - Tư liệu sưu tầm 13.08.2019
Cá tráp biển - Tư liệu sưu tầm 12.08.2019
xem thêm »