tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27694911
15.04.2019
Tư liệu
Tiến sỹ & Phó Tiến sỹ


Tại một số quốc gia ở Mỹ và châu Âu, tiến sĩ là một học vị do trường đại học cấp cho nghiên cứu sinh sau đại học, công nhận luận án nghiên cu của họ đã đáp ứng tiêu chuẩn bậc tiến sĩ, là hoàn toàn mới chưa từng có ai làm qua.[cần dẫn nguồn] Thời gian để hoàn thành luận án tiến sĩ có thể từ 3 đến 5 năm hay dài hơn, tùy thuộc vào tình hình hay điều kiện khác nhau của từng nghiên cứu sinh, có thể làm bán thời hay toàn thời. Có trường hợp nghiên cứu sinh không thể hoàn thành luận án của mình vì lý do nào đó và xin rút lui.


Từ Hán Việt "Tiến sĩ" (進士) vốn được dùng để chỉ người đỗ đạt cao thời phong kiến. Những vị Tiến sĩ này thường phải đỗ các kỳ thi do chính quyền đương thời tổ chức gồm thi hương, thi hội, và thi đình rồi sau đó được bổ nhiệm ra làm quan. Ngày nay, từ Tiến sĩ trong tiếng Việt để dùng để chỉ một học vị dành riêng cho những người công tác trong tất cả các lĩnh vực học thuật nói chung. Trong tiếng Anh, Tiến sĩ được gọi chung gọi là "Doctor of Philosophy" hoặc "PhDs", và từ viết tắt cho danh hiệu của một vị Tiến sĩ là Dr. (trong từ Doctor). Cách gọi này rất dễ gây nhầm lẫn với những người đang công tác trong ngành Y - người được gọi với danh xưng Bác sĩ (trong tiếng Anh cũng gọi là Doctor) như ta thường nghe trong đời sống hằng ngày. Trong tiếng Hán thì tên gọi "Bác sĩ" (博士) ("bác" trong từ uyên bác, "sĩ" để chỉ những người học cao, hiểu rộng, có kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định có thể kể đến như ca sĩ, nghệ sĩ, nha sĩ, v.v) để gọi chung cho những cá nhân có trình độ tay nghề cao được xã hội thừa nhận, người tốt nghiệp các ngành không liên quan đến Y học, kể cả quan lại trong triều đình phong kiến. Tuy nhiên, trong tiếng Việt kể từ đầu thế kỷ XX, "Bác sĩ" lại bị hiểu sai thành "người làm nghề Y" - một người đúng ra phải được gọi với cái tên là "Y sĩ". Cách gọi tên sai này có thể xuất phát từ thời nước ta rơi vào vòng thuộc địa của Pháp, khi mà Y học phương Tây được chính quyền thực dân du nhập, phổ cập, và mở các trường lớp đào tạo trên lãnh thổ nước ta.


Ở châu Âu


Từ Ph.D có gốc Latin là Doctor Philosophiæ. Doctor nghĩa là "thầy", "chuyên gia", "chức trách". Philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời Trung cổ ở châu Âu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học, luật, y học và triết học. Tuy có danh chính thức là chuyên gia triết học ("Doctor of Philosophy" hay PhD) nhưng tiến sĩ không chỉ là danh hiệu (title) dành riêng cho người nghiên cứu triết học.


PhD là một học vị cho tất cả các ngành khoa học, kể cả khoa học cơ bản và khoa học xã hội, nhân văn. Hệ thống bằng cấp đại học ngày nay được bắt nguồn và mô phỏng từ hệ thống văn bằng của hai trường đại học cổ kính ở Âu châu vào thế kỷ 12: Trường Đại học Paris ở Pháp (thành lập vào năm 1170) và Trường Đại học Bologna ở Ý (thành lập vào khoảng 1158).


Theo bộ luật La Mã, vào thời Trung cổ, mỗi ngành nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là Collegium, và hiệp hội này bầu ra những người có danh hiệu là Magistrates. Vào thời này, người được nhận vào phụ giảng được gọi là Bachalari.


Vào cuối thế kỉ 12, Trường Đại học Paris thay đổi học vị này thành Baccalaureaet. Lúc bấy giờ, văn bằng Baccalauréate hay Bachelor là học vị duy nhất được cấp cho những thí sinh đã thi đỗ khóa thi do các Magistrates đặt ra và đã học xong một chương trình giáo khoa 4 năm về ngữ pháp, tu từ học và logic. Sau khi xong văn bằng Bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương trình Master hay Doctor. Và sau khi đã xong chương trình học Master hay Doctor (khoảng 8 năm học), một hội đồng chuyên môn sẽ được thành lập nhằm duyệt xét thí sinh để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors. Sự kếp nạp này cũng là một chứng chỉ để được hành nghề dạy đại học. Lúc bấy giờ, những danh xưng như Master, Doctor và Professor có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: họ hành nghề dạy học.


 


Vào thế kỉ 13, những người dạy học tại Trường Đại học Bologna, lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp ở Âu châu, được gọi là Doctor. Trong khi đó ở Trường Đại học Paris, là trung tâm về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là Master. Sự bình đẳng giữa Master và Doctor bị chấm dứt ở Anh và Mĩ, nơi mà văn bằng Doctor sau này được đánh giá cao hơn văn bằng Master. Ở Anh, hai trường đại học Oxford (thành lập vào khoảng 1249) và Cambridge (thành lập vào khoảng 1209) được mô phỏng theo hệ thống tổ chức của Trường Đại học Paris; do đó, các nhà khoa bảng các môn văn hóa nghệ thuật thường được gọi là "Master", trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như triết, thần học, y học, và luật được gọi là "Doctor".


Ngày nay, tên các bằng cấp như "Master of Arts" và "Doctor of Philosophy" có nguồn gốc từ sự phân chia này.


Ở Đông Á


Việt Nam


Trong giai đoạn phong kiến, tại các cuộc thi Nho học của Việt Nam, học vị tiến sĩ được trao cho những người đỗ tất cả ba kỳ thi: thi Hương, thi Hội và thi Đình, được ghi danh trong khoa bảng (trừ thời nhà Nguyễn, có thêm học vị Phó bảng không phải là tiến sĩ, nhưng cũng được chấm đỗ ba kỳ thi trên). Thời nhà Trần những người đỗ tiến sĩ được gọi là Thái học sinh.


Thời Hậu Lê, nhà Mạc và nhà Nguyễn, tiến sĩ được dùng để phong cho những người thi đậu trong các kỳ thi Đình và thi Hội tùy theo từng thời. Danh sách các tiến sĩ thời hậu Lê và Mạc được khắc trên các bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long. Vào thời nhà Nguyễn, kinh đô được chuyển vào Phú Xuân - Huế, Văn Miếu Thăng Long không còn là văn miếu quốc gia nữa nên các bia tiến sĩ không còn được dựng tại đây. Nhà Nguyễn bắt đầu cho dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu Huế từ khoa thi năm 1822. Tổng số các tiến sĩ, phó bảng và tương đương (trúng tuyển thi Hội) kể từ khoa thi đầu tiên 1075 đến khoa thi cuối cùng 1919 là 2.848 người.


Bắt đầu từ thế kỷ 20, học vị Tiến sĩ của Việt Nam bắt đầu áp dụng chính thức theo hệ thống giáo dục hiện đại của châu Âu. Thời Pháp thuộc, mặc dù nền giáo dục bị giới hạn nhiều bởi tình trạng thuộc địa, lịch sử vẫn ghi nhận một số người bản xứ lấy được học vị Tiến sĩ như Phan Văn Trường, Tiến sĩ Luật đầu tiên của Việt Nam...


Một khoảng thời gian từ 1954-1975 tại miền Bắc Việt Nam và từ 1975-1998 trên cả nước Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục của Liên Xô, tồn tại 2 bậc học vị là Phó tiến sĩ (Кандидат наук) và Tiến sĩ (Доктор наук).


Kể từ thời điểm có hiệu lực của Luật Giáo dục năm 1998, học vị Phó tiến sĩ được đổi thành học vị Tiến sĩ, và các bậc học vị Tiến sĩ cũ theo hệ thống giáo dục Đông Âu và Liên Xô được đổi thành học vị Tiến sĩ khoa học. Ở Việt Nam, học vị Tiến sĩ do trường đại học hoặc viện nghiên cứu thuộc nhà nước có thẩm quyền cấp cho các nghiên cứu sinh chuyên ngành sau khi công nhận luận án của họ. Dù hệ thống Đông Âu và Liên Xô đã tan rã, hiện nay Việt Nam vẫn cấp học vị Tiến sĩ khoa học cho những Tiến sĩ chuyên về nghiên cứu khoa học.


Tính tới năm 2016, theo số liệu của Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và công nghệ, VN hiện có hơn 24.000 tiến sĩ. Trong đó, theo Bộ GD-ĐT, số tiến sĩ làm việc trong các trường ĐH, CĐ có khoảng 15.000 người (bao gồm cả các giáo sư, phó giáo sư).


Triều Tiên


Tiêu chuẩn cho học vị tiến sĩ


Để có được văn bằng tiến sĩ, ứng viên phải đạt hai điều kiện. Thứ nhất, ứng viên phải có kiến thức uyên bác và làm chủ kiến thức về một đề tài khoa học. Thứ hai, ứng viên phải mở rộng hay phát triển thêm tri thức về đề tài đó. Để làm chủ đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải tìm đọc và cố gắng hiểu tất cả những gì đã viết hay công bố về đề tài đó. Không như ở bậc cử nhân, kiến thức thường có thể tìm thấy trong sách giáo khoa, đối với bậc tiến sĩ kiến thức thường được tìm trong các tập san khoa học. Để mở rộng kiến thức về một đề tài, nghiên cứu sinh phải làm nghiên cứu khoa học theo sự hướng dẫn của thầy, cô. Chính phần nghiên cứu khoa học này phân biệt giữa tiến sĩ và các chương trình cử nhân hay thạc sĩ. Học tiến sĩ thực chất là làm nghiên cứu khoa học, không có nghiên cứu khoa học thì không thể trở thành tiến sĩ được.


Nghiên cứu khoa học ở cấp tiến sĩ phải thể hiện một đóng góp mới vào tri thức cho chuyên ngành mà không nhất thiết phải mang tính ứng dụng thực tiễn. Tri thức mới ở đây bao gồm việc phát hiện mới, khám phá mới, hay cách diễn giải mới cho một vấn đề cũ, hay ứng dụng một phương pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ,... Những tri thức như thế có thể không có khả năng ứng dụng trong tương lai gần, nhưng có thể góp phần thúc đẩy chuyên ngành phát triển một mức cao hơn và hơn thế nữa.


Học tiến sĩ không chỉ là hoàn tất luận án vì luận án chỉ là một phần của chương trình đào tạo. Luận án là một báo cáo có hệ thống những phương pháp và kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Do đó, luận án chỉ là một tiêu chuẩn quan trọng trong các tiêu chuẩn để được cấp bằng tiến sĩ. Ngoài luận án ra, nghiên cứu sinh phải đáp ứng 6 tiêu chuẩn cơ bản:


    Phải chứng tỏ mình có những kiến thức cơ bản về khoa học, và những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà mình theo đuổi.


    Phải am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo học, và phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.


    Phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình.


    Phải làm chủ được phương pháp nghiên cứu khoa học hay phương pháp thí nghiệm cơ bản.


    Phải chứng tỏ đã đạt được những kĩ năng về truyền đạt thông tin, kể cả trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, khả năng viết báo cáo khoa học.


    Phải chứng tỏ đã nắm vững kĩ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.


 


Do đó, nghiên cứu sinh cũng cần phải công bố vài bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Công bố quốc tế là một hình thức tốt nhất vì qua đó mà đồng nghiệp khắp thế giới có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh. Công bố quốc tế là một điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sĩ ở các đại học ở châu Âu, Hoa Kỳ và Úc. Tại những nơi này, nghiên cứu sinh được khuyến khích hoặc gần như bắt buộc phải công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sĩ. Ở một số nước Bắc Âu, luận án tiến sĩ thực chất là tập hợp một số bài báo khoa học đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngày nay, các đại học lớn ở Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,... cũng có quy định tương tự.


Số bài báo khoa học cần thiết để có thể bảo vệ luận án tiến sĩ tùy thuộc vào quy định của trường đại học, của khoa chuyên ngành. Những quy định này rất khác nhau giữa các trường ngay cả trong cùng một nước. Chẳng hạn như trong các khoa xã hội và kinh tế học, yêu cầu bài báo khoa học không được đặt nặng bằng các khoa khoa học tự nhiên và thực nghiệm. Ở Hoa Kỳ người ta không có những quy định "cứng" phải có bao nhiêu bài báo khoa học để viết luận án tiến sĩ, vì nghiên cứu sinh phải học "coursework" một thời gian trước khi bắt tay vào nghiên cứu. Ở Anh và Úc, nghiên cứu sinh hoàn toàn làm nghiên cứu mà không có "coursework", nhưng cũng không có quy định trên giấy trắng mực đen bao nhiêu bài báo. Tuy nhiên, có quy ước ngầm theo kiểu truyền miệng là một luận án tiến sĩ cần phải có ít nhất là 2 bài báo khoa học, tốt hơn là ít nhất 3 bài báo khoa học, cộng với các bài khác chưa công bố.


Học vị tiến sĩ là một học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học. Ở các nước phương Tây, xã hội kính trọng những người có học vị tiến sĩ và gọi họ bằng danh xưng "Doctor". Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi các giảng viên và các giáo sư phải có bằng tiến sĩ. Đa số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng này. Tuy vậy, không phải ai có bằng tiến sĩ cũng hành nghề dạy học hay nghiên cứu, và ngược lại không phải tất cả những giảng viên đại học hay nhà nghiên cứu phải có bằng tiến sĩ.


wikipedia


Phó Tiến sỹ


Kandidat nauk hay candidate khoa học (tiếng Nga: Кандидат наук) là học vị tiến sĩ bậc đầu tiên ở Liên Xô và các nước Đông Âu (khác với học vị tiến sĩ khoa học, doktor nauk, là một cấp cao hơn), đầu tiên được lập ra ngày 13 tháng 1 năm 1934 theo Quyết định của Hội đồng Ủy viên Nhân dân Liên Xô (còn gọi là chính phủ). Bằng Kandidat nauk sau đó được xem tương đương với bằng tiến sĩ ở Mỹ, Anh và các nước khác.


Quy trình đào tạo


Nghiên cứu sinh cần phải trải qua kỳ thi gọi là kandidat minimum (tiếng Nga: кандидатский минимум) và bảo vệ bài luận. Ở Liên Xô, kandidat minimum bao gồm các môn chuyên ngành, môn ngoại ngữ tự chọn và môn Chủ nghĩa xã hội khoa học. Ở Nga hiện nay, môn chủ nghĩa xã hội khoa học được thay bằng môn triết học.


Việc nghiên cứu được thực hiện với sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học (khác với doktor nauk là phải tự nghiên cứu độc lập mà không có người hướng dẫn) tại một cơ sở đào tạo như trường đại học, viện nghiên cứu hoặc cũng có thể được thực hiện mà không cần phải liên quan trực tiếp với cơ sở đào tạo. Trong các trường hợp ngoại lệ, bằng Kandidat có thể được trao nếu người học có nhiều công trình nghiên cứu có chất lượng được xuất bản.


Bài luận được trình bày (hoặc bảo vệ) tại các viện khoa học hoặc cơ sở đào tạo có uy tín trước một Hội đồng Khoa học gồm khoảng 20 nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành. Tại buổi bảo vệ, bài luận được trình bày vắn tắt cùng với các công bố khóa học cũng như ý kiến của các phản biện. Với hơn 75% sự tán thành bằng phiếu kín của các ủy viên hội đồng, bài luận được thông qua và sau đó sẽ được trình lên Vysshaya attestacionnaya komissiya (VAK), một cơ quan trực thuộc chính phủ, (tiếng Nga: высшая аттестационная комиссия (ВАК), tạm dịch tiếng Việt: Ủy ban Chứng nhận cấp cao) để phê chuẩn.


Khái niệm "phó tiến sĩ" ở Việt Nam


Phó tiến sĩ là tên của một học vị cấp tiến sĩ được gọi ở Việt Nam trước thời điểm có hiệu luật của Luật Giáo dục năm 1998 [Luật Giáo dục ngày 2 tháng 12 năm 1998]. Học vị này tương ứng với học vị Kandidat nauk vì khi đó Việt Nam có hệ thống văn bằng sau đại học giống với hệ thống của Liên Xô và các nước Đông Âu cũ. Hiện nay, học vị này được gọi là tiến sĩ trong khi học vị tiến sĩ theo kiểu cũ được gọi là tiến sĩ khoa học. Tiến sĩ khoa học là một danh xưng khoa học ở Việt Nam kể từ thời điểm có hiệu lực của Luật Giáo dục năm 1998 [Luật Giáo dục ngày 2 tháng 12 năm 1998]. Danh xưng này được sử dụng và áp dụng đối với những cá nhân có bằng tiến sĩ của các nước Liên Xô và Đông Âu cũ (học vị doktor nauk), hoặc có bằng tiến sĩ nhà nước (doctorat d'Etat) của Pháp,...


Đây là một khái niệm mang tính lịch sử vì trước đó Việt Nam có hệ thống văn bằng sau đại học tương tự như hệ thống của các nước Liên Xô và Đông Âu cũ, nghĩa là cũng có học vị tiến sĩ và phó tiến sĩ như của các quốc gia này. Khi đất nước mở cửa và hội nhập, học vị tiến sĩ theo hệ thống học vị của Hoa Kỳ và các nước châu Âu cũng được chấp nhận. Việc này làm nảy sinh sự thiếu thống nhất trong hệ thống văn bằng quốc gia khi tồn tại hai loại học vị tiến sĩ của hai hệ thống khác nhau cùng với một học vị phó tiến sĩ trong khi Luật Giáo dục quy định cả nước chỉ có duy nhất một học vị tiến sĩ. Để giải quyết vấn đề này, thông qua một quyết định hành chính gây không ít tranh cãi trong giới khoa học và chuyên môn, học vị phó tiến sĩ trước đây sẽ được đổi thành học vị tiến sĩ, học vị tiến sĩ theo hệ thống cũ sẽ được đổi thành tiến sĩ khoa học. Nghĩa là, bằng tiến sĩ do các nước Liên Xô và Đông Âu cũ, bằng tiến sĩ do Việt Nam cấp trước đây, bằng tiến sĩ nhà nước, bằng tiến sĩ ha-bi,... sẽ được gọi là bằng tiến sĩ khoa học, bằng phó tiến sĩ sẽ được gọi là bằng tiến sĩ giống như các bằng tiến sĩ khác.


Thuật ngữ, học vị và văn bằng tiến sĩ khoa học (tiếng Latin: Scientiae Doctor) nếu được dịch nguyên văn theo nghĩa đen từ các ngôn ngữ khác nhau có thể tương đương với thuật ngữ tiến sĩ khoa học ở Việt Nam hay không tùy từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào từng thời điểm lịch sử và cũng tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia. Thông thường, khái niệm tiến sĩ khoa học (Doctor of Science) chỉ đơn thuần là tiến sĩ về khoa học, với mục đích phân biệt với tiến sĩ ở các ngành khác như tiến sĩ giáo dục (Doctor of Education), tiến sĩ kỹ thuật (Doctor of Engineering),...


Thuật ngữ "tiến sĩ khoa học" tại một số quốc gia


Tại Nga


Những nhà khoa học Nga muốn bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học (tiếng Nga: Доктор наук) phải có học vị tiến sĩ (tương ứng với học vị PhD ở các nước Anh, Mỹ,...) và đã tham gia nghiên cứu khoa học sau khi có học vị tiến sĩ ít nhất 3 năm. Theo định nghĩa của Nga: người đạt được học vị tiến sĩ khoa học là người mở ra một hướng nghiên cứu mới trong khoa học. Còn người đạt học vị tiến sĩ là người có đủ khả năng tiến hành nghiên cứu khoa học một cách độc lập.


Tại Pháp


Tiến sĩ khoa học (tiếng Pháp: Docteur des Sciences) ra đời năm 1808 và không còn dùng nữa kể từ sau cải cách năm 1974 khi Pháp thống nhất học vị tiến sĩ của các ngành khác nhau (tiến sĩ khoa học, tiến sĩ văn chương và khoa học nhân văn, tiến sĩ luật, tiến sĩ khoa học kinh tế, tiến sĩ khoa học chính trị,...) thành một học vị duy nhất là tiến sĩ để tránh nhầm lẫn.


Tại Ireland và các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh


Ngày nay, tại Ireland và các nước thuộc Khối thịnh vượng chung Anh như Anh và Ấn Độ, tiến sĩ khoa học (tiếng Anh: Doctor of Science) chỉ còn là một danh hiệu có tính chất tôn vinh, dành cho các cá nhân có đóng góp đặc biệt cho một ngành nào đó, không phải dành cho các thành tựu hàn lâm cụ thể.


Tại Bắc Mỹ


Tại Bắc Mỹ, không có sự phân biệt giữa tiến sĩ khoa học (Doctor of Science) với tiến sĩ (Doctor of Philosophy, Ph.D.).


wikipedia


 


Một đêm thành tiến sỹ


    Tôi không muốn trở lại vấn đề này phần vì sự việc đã quá lâu rồi, cho dù đâu đó vẫn có người âm ỉ sướng với điệp khúc “một đêm thành tiến sỹ”, phần vì cũng đã đôi lần viết ra rồi, song nhân chuyện của ông Trần Trương với ông Trần Đình Sử khi tranh luận về sự sang trọng của nghề văn mới đây, tôi thấy vẫn phải lên tiếng về chủ đề này.


1. Học vị tiến sỹ của Việt Nam


 Theo Wikipedia thì “Danh xưng "Tiến sĩ" tại Việt Nam chịu ảnh hưởng từ truyền thống Nho học phong kiến, bắt nguồn từ gốc Hán 進士.


Trong giai đoạn phong kiến, tại các cuộc thi Nho học của Việt Nam, học vị tiến sĩ được trao cho những người đỗ tất cả ba kỳ thi: thi Hương, thi Hội và thi Đình, được ghi danh trong khoa bảng (trừ thời nhà Nguyễn, có thêm học vị Phó bảng không phải là tiến sĩ, nhưng cũng được chấm đỗ ba kỳ thi trên). Thời nhà Trần những người đỗ tiến sĩ được gọi là Thái học sinh.


Thời Hậu Lê, nhà Mạc và nhà Nguyễn, tiến sĩ được dùng để phong cho những người thi đậu trong các kỳ thi Đình và thi Hội tùy theo từng thời. Danh sách các tiến sĩ thời hậu Lê và Mạc được khắc trên các bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long. Vào thời nhà Nguyễn, kinh đô được chuyển vào Phú Xuân - Huế, Văn Miếu Thăng Long không còn là văn miếu quốc gia nữa nên các bia tiến sĩ không còn được dựng tại đây. Nhà Nguyễn bắt đầu cho dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu Huế từ khoa thi năm 1822. Tổng số các tiến sĩ, phó bảng và tương đương (trúng tuyển thi Hội) kể từ khoa thi đầu tiên 1075 đến khoa thi cuối cùng 1919 là 2.848 người.


Bắt đầu từ thế kỷ 20, học vị Tiến sĩ của Việt Nam bắt đầu áp dụng chính thức theo hệ thống giáo dục hiện đại của châu Âu. Thời Pháp thuộc, mặc dù nền giáo dục bị giới hạn nhiều bởi tình trạng thuộc địa, lịch sử vẫn ghi nhận một số người bản xứ lấy được học vị Tiến sĩ như Phan Văn Trường, Tiến sĩ Luật đầu tiên của Việt Nam...


Một khoảng thời gian từ 1954-1975 tại miền Bắc Việt Nam và từ 1975-1998 trên cả nước Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục của Liên Xô, tồn tại 2 bậc học vị là Phó tiến sĩ (Кандидат наук) và Tiến sĩ (Доктор наук).


Kể từ thời điểm có hiệu lực của Luật Giáo dục năm 1998, học vị Phó tiến sĩ được đổi thành học vị Tiến sĩ, và các bậc học vị Tiến sĩ cũ theo hệ thống giáo dục Đông Âu và Liên Xô được đổi thành học vị Tiến sĩ khoa học. Ở Việt Nam, học vị Tiến sĩ do trường đại học hoặc viện nghiên cứu thuộc nhà nước có thẩm quyền cấp cho các nghiên cứu sinh chuyên ngành sau khi công nhận luận án của họ. Dù hệ thống Đông Âu và Liên Xô đã tan rã, hiện nay Việt Nam vẫn cấp học vị Tiến sĩ khoa học cho những Tiến sĩ chuyên về nghiên cứu khoa học.”


Vấn đề là ở chỗ việc đổi danh xưng học vị này khi Luật Giáo dục năm 1998 có hiệu lực được làm theo kiểu mờ mờ, tỏ tỏ nên đã tạo ra rất nhiều hiểu lầm và bức xúc không đáng có trong xã hội mà hệ lụy của nó nhiều khi không hề nhỏ chút nào.


2. Lỗi tại tiếng Việt


Cái sự bắt chước trong bất cứ tình huống nào cũng khó đem lại kết quả tốt đẹp một cách toàn diện. Trong trường hợp này cũng vậy. Khi chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục Liên xô thì người ta sử dụng danh từ “Phó tiến sỹ” để gọi bậc học vị “Кандидат наук” mà chẳng cần biết nội hàm của nó là gì. Khi Việt Nam trưởng thành, đào tạo trên đại học trong nước được mở rộng, người ta cũng vẫn sử dụng danh xưng học vị “Phó tiến sỹ” để cấp cho những người bảo vệ thành công luận án nghiên cứu sinh. Chắc hẳn những người có học thời đó cũng đã cảm thấy sự bất ổn của việc này nên trong các bằng phó tiến sỹ cấp cho các nghiên cứu sinh sau khi bảo vệ luận án thành công giai đoạn trước 1998 tại Việt Nam thể hiện một sự tréo ngoe giữa tiếng Việt và tiếng Anh (vốn được dùng trong văn bằng song song với tiếng Việt). Trong phần tiếng Việt tại trang 3 văn bằng ghi “Công nhận học vị PHÓ TIẾN SỸ…”, nhưng ở trang 4 của văn bằng (phần tiếng Anh) lại ghi rõ “Recognition of Degree DOCTOR OF PHILOSOPHY in…” (xem ảnh). Rõ ràng là có sự quá khấp khểnh trong việc gọi tên này. Gọi Doctor of Philosophy là phó tiến sỹ thì có lẽ chỉ có mỗi mình Việt Nam thôi. Và như vậy thì cái việc gọi trở lại các phó tiến sỹ (cũ) là tiến sỹ chỉ là việc sửa sai của cấp quản lý về giáo dục mà thôi. Hay nói rộng hơn là việc các cơ quan quản lý đã phải trả lại tên cho những người đã bị gọi nhầm không hơn, không kém. Tuy nhiên, điều đáng nói là từ bấy đến nay, chẳng ai đứng ra nhận cái lỗi lầm này khiến cho ai cũng cứ u u, minh minh, chẳng biết đằng nào mà rờ cả.


3. Lỗi tại truyền thông


Lâu nay có một số người làm báo rất lạ kỳ. Họ cứ lấy tin, cứ trương lên báo mà không hề tìm hiểu tin đó xuất xứ từ đâu, đúng hay sai khiến cho tin tức càng ngày càng loạn xạ. Người đọc không biết đâu là đúng là sai nữa. Còn nhớ cuối năm 1998, khi mới bắt đầu gọi lại tên của học vị tiến sỹ theo Luật Giáo dục 1998, Báo Lao Động (số ra khoảng giữa tháng 12 âm lịch-lâu ngày tôi không nhớ chính xác) có đăng một bài thơ châm về việc này. Trong đó có câu “Người ta (ý nói các vị được cấp hoặc vị tiến sỹ mới theo Luật Giáo dục 1998) phải học, phải thi/ Còn ông (ý nói các vị đã có bằng phó tiến sỹ) bế bụng ngồi chờ vinh quy”. Đọc thấy bài đó tôi liền viết thư, gọi điện ngay cho Báo đề nghị gỡ bài đó đại ý như sau:


1.    Người viết chưa hề được ngó qua tấm bằng phó tiến sỹ và tiến sỹ của Việt Nam (như tôi đã trình bày ở phần trên) nên viết ẩu, viết loạn lên, chắc là kiếm ít tiến nhuận bút. Và tôi đề nghị người viết phải trưng ra được các bằng chứng về các bằng cấp này. Ngược lại báo phải gỡ bài, phải đính chính cho phù hợp.


2.    Người viết cũng chưa hề biết thực hư của chuyện đào tạo và cấp bằng tiến sỹ, phó tiến sỹ ở Việt Nam trong giai đoạn đó như thế nào nhưng cứ viết, cứ gửi báo đăng bài mà không hề xấu hổ. Chính vì vậy, trong thư gửi báo tôi đã đề nghị người viết bài thơ đó rằng “hầu hết các tiến sỹ (mới) của ta đều có thầy là các phó tiến sỹ” nên “ô hay, thầy nó (phó tiến sỹ) lại không bằng nó (tiến sỹ (mới)) hay sao? và “Tôi thách ông từ nay cho đến tết Kỷ Mão (còn khoảng 15-20 ngày nữa-HM) tìm cho tôi một tiến sỹ (mới) mà hội đồng bảo vệ luận án (những người chấm cho họ đạt được tiêu chuẩn là tiến sỹ -HM) của họ không có một người nào là phó tiến sỹ. Nếu hết thời hạn đó ông (bà) không tìm được thì ông (bà) đừng bao giờ cầm bút viết báo nữa”


Chính vì những người làm báo như vậy nên các phương tiện thông tin cứ ầm ầm loan tải thông tin không đúng đắn dẫn đến cái sự sai lầm càng ngày càng lớn. Khủng khiếp đến nỗi ngay bây giờ gõ từ “một đem thanh tiến sỹ” trên thanh tìm kiếm của google thì có 1.640 kết quả chỉ sau 0,35 giây tìm kiếm.


    Sẽ chẳng có cháy nhà, chết người xảy ra từ chuyện “một đêm thành tiến sỹ” này, nhưng không thể nói chuyện này vô hại. Việc tranh luận giữa Trần Trương và Trần Đình Sử mới đây là một ví dụ. Cũng đã có người trên danh thiếp của mình phải ghi rõ “Tiến sỹ (từ năm 1997)” để khẳng định mình là phó tiến sỹ, là thầy của những tiến sỹ mới được đào tạo theo Luật Giáo dục 1998,…


    Hy vọng rằng từ nay trở đi đừng ai nói “một đêm thành tiến sỹ” nữa!


20/9/2013


Hoài Minh


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thần thoại Hy Lạp (35) - Nguyễn Văn Khỏa 19.06.2019
Thần thoại Hy Lạp (34) - Nguyễn Văn Khỏa 17.06.2019
Thần thoại Hy lạp (33) - Nguyễn Văn Khỏa 17.06.2019
Phát Diệm: Chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo và bản sắc trong chiến tranh Pháp – Việt Minh - RONALD H. Spector 15.06.2019
Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam Cộng hòa 1954-1959 - Peter Hansen 15.06.2019
Thần thoại Hy lạp (32) - Nguyễn Văn Khỏa 12.06.2019
Thần thoại Hy Lạp (31) - Nguyễn Văn Khỏa 10.06.2019
Thần thoại Hy Lạp (30) - Nguyễn Văn Khỏa 09.06.2019
Qua nhiều sóng gió, vị tỷ phú USD Việt chi đậm 3 ngàn tỷ chia nhau - Tư liệu 09.06.2019
Thần thoại Hy Lạp (29) - Nguyễn Văn Khỏa 07.06.2019
xem thêm »