tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24055766
08.06.2018
Vương Trọng
Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay (6)


  VỚI PHÚ XUÂN


    Thật khó xác định chính xác thời gian Nguyễn Du ở Phú Xuân, nhưng trước khi ra làm quan dưới triều Gia Long, Nguyễn Du chỉ đến Phú Xuân một lần vào năm 1793, khi nhà thơ vào thăm người anh là Nguyễn Nễ đang coi văn thư ở Cơ mật viện, điều này chúng ta biết được từ bài thơ của Nguyễn Nễ nhan đề “Tống Tố Như đệ tự Phú Xuân kinh Bắc thành hoàn” ( Tiễn em trai Tố Như từ Phú Xuân trở về Bắc). Khi mới ra làm quan dưới triều Gia Long, có khả năng Nguyễn Du cũng chưa có dịp vào Phú Xuân. Gia phả dòng họ ghi: “ Khi Gia Long ra Nghệ An, ông đón xe yết kiến và được đem thủ hạ đi theo ra Bắc”. Nguyễn Du được nhà vua rất ưu ái, bổ ngay làm tri huyện Phù Dung ( Khoái Châu) và chỉ ba tháng sau được tăng chức Tri phủ Thường Tín ngay trong năm 1802 và cuối năm 1803, ông còn được cử đi tiếp sứ nhà Thanh ở trấn Nam Quan, nghĩa là ông chỉ ở các tỉnh miền bắc và cực bắc, rất xa Phú Xuân.


  Năm 1804, khi đang làm Tri phủ Thường Tín, Nguyễn Du cáo bệnh về quê mấy tháng, rồi sau đó được điều vào Phú Xuân, để đầu năm 1805  thăng “Đông các học sĩ”. Nguyễn Du gắn bó với Phú Xuân kể từ cái mốc này.


  Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du nói khá rõ con đường từ quê nhà vào Phú Xuân làm quan. Mặc dù bài thơ không ghi ngày tháng, nhưng rất nhiều khả năng chuyện này xẩy ra vào năm 1804, sau thời gian cáo bệnh nghỉ ở quê nhà. Chuyến đi này thật vất vả, buổi sáng khởi hành thật sớm, qua núi Phượng Hoàng còn màn đêm mịt mùng, nghỉ lại nơi hoang dã cùng bác tiều phu…Từ núi Phượng Hoàng của quê nhà, không biết đi bao ngày mới đến Thùy Liên của Quảng Bình, cỏ hoang mang sương sớm quật vào mặt, cho người thêm hốc hác. Một điều đáng nói là lúc này Nguyễn Du rất nhớ nhà, gặp một người bạn vào chầu vua rồi được vua cho về, ông chỉ mong thầm mình được như thế! Nhưng rồi ông cũng tới Phú Xuân và giữ chức “Đông các học sĩ” như ta đã biết. Như vậy Nguyễn Du ở Phú Xuân từ cuối năm 1804 hoặc đầu năm 1805 cho đến khi tạ thế tháng 9 năm 1820. Nhưng trong khoảng  ấy, ông có những thời gian xa Phú Xuân như sau: 8 tháng xin tạm nghỉ về quê năm 1808. Ba năm làm Cai bạ Quảng Bình từ 1809 – 1813;  14 tháng đi sứ từ 2-1813 đến 4 -1814; Về quê nghỉ 4 tháng từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1814. Tính ra tổng thời gian ông ở Phú xuân chừng 10 năm. Trong 10 năm đó ông được thăng chức ba lần: “Đông các học sĩ” (1805),  “Cần chánh điện học sĩ” ( 1813) và “Hữu Tham tri bộ lễ” (1815). Thế nhưng Nguyễn Du vẫn cho mình không có dáng công hầu, luôn buồn  nhớ quê , chỉ muốn về:


Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ


Hồn hề, quy lai, bi cố hương


(Ngẫu thư công quán bích – Cuốc kêu, xuân đã hết rồi / Quê xa buồn nhớ, hồn ơi, hãy về).


Có khi gặp một ẩn sĩ sống an nhàn, ông cũng muốn bỏ quan về sống đời thường:


Ngã dục quải quan tòng thử thệ


Dữ ông thọ tuế lạc cầm tôn


(Tặng nhân – Ta mong treo mũ từ quan / Tuổi già vui thú rượu đàn cùng ông).


   Trong ông việc có khi bị bề trên quở trách, bọn thuộc hạ thấy vậy cũng vênh vang coi thường, ông chán nản nghĩ đến cái chết với điều an ủi là con cái đông, mình có chết cũng không sao!


   Không biết thời ấy với các chức quan như ông được hưởng  tiền lương thế nào, nhưng gia đình ông sống cảnh nghèo khó, đàn con đói ăn mặt xanh như rau, còn ông sống cô đơn trong bệnh tật:


Thập khẩu đền cơ Hoành Lĩnh bắc


Nhất thân ngọa bệnh đế thành đông


( Ngẫu đề - Mười con kếu đói non Hồng / Một thân nằm bệnh phía đông đế thành)…


   Nhiều thắng cảnh của Phú Xuân đã đi vào thơ ông và có những câu thơ tuyệt tác như  tả cảnh chùa Thiên Thai:


Cổ tự thu mai hoàng diệp lý


Tiên triều tăng lão bạch vân trung


(Vọng Thiên Thai tự - Vàng thu chùa cổ lá vùi / Vị sự triều trước già đời trong mây). Nhưng trong thơ ông, cảnh đẹp của Phú Xuân thường gắn với nỗi buồn quá vãng, nỗi buồn vì nghĩ về quê nhà:


Hương Giang nhất phiến nguyệt


Kim cổ hứa đa sầu


Vãng sự bi thanh trủng


Tân thu đáo bạch đầu


Hữu thân đồ dịch dịch


Vô bệnh cố câu câu


Hồi thủ Lam Giang phố


Nhàn tâm tạ bạch âu.


                                   (Thu chí)


Dịch thơ:


Hương giang trăng một mảnh


Kim cổ gợi bao sầu


Chuyện cũ buồn xanh mộ


Thu mới đến bạc đầu


Có thân nên vất vả


Không bệnh, lưng uốn câu


Bãi sông Lam, ngoái lại


Lòng nhàn thẹn chim âu.


     Ngày 16 tháng 9 năm 1820, ông mất ở Phú Xuân. Theo nhà thơ Thanh Tịnh, vua Minh Mạng đã làm đôi câu đối:


Nhất  đại tài hoa, vi sứ, vi quan sinh bất thiểm


Bách niên sự nghiệp, tại gia, tại quốc tử do vinh


( Một đời taì hoa, đi sứ, làm quan sống chẳng thẹn / Trăm năm sự nghiệp, trong nhà, ngoài nước chết còn vinh).


    Nhà thơ Thanh Tịnh còn lưu ý rằng, phía dưới câu đối có đề mấy chữ “Minh Mạng hoàng đế trang tặng”, và nhấn mạnh “trang tặng” chứ không phải “ban tặng”, để nói nhà vua yêu quý và tôn trọng Đại thi hào đến mức nào!


   Bốn năm sau, năm 1824, con cháu vào đưa hài cốt ông về cải tác trong vườn nhà ở Tiên Điền. Thế là ông vĩnh viễn xa Phú Xuân, còn các tác phẩm của ông, đặc biệt là Truyện Kiều thì còn lưu lại Phú Xuân dưới nhiều dạng, được gọi là “bản Kinh” mà giới sưu tầm văn bản vẫn quen dùng.


      Cùng với Hà Tĩnh, Thăng Long, Thái Bình…, Phú Xuân gắn bó mật thiết với Đại thi hào Nguyễn Du. Giá như tổ chức được cuộc hội thảo “Nguyễn Du với Phú Xuân” thì tin rằng sẽ thu góp được thêm nhiều tư liệu mới!


                                                                                          Tháng 11 năm 2015


                               TIẾNG VƯỢN THA HƯƠNG


        Trong Truyện Kiều, tả nỗi buồn của khúc đàn bạc mệnh Thuý Kiều  gảy hầu Hồ Tôn Hiến, Nguyễn Du viết:


Ve ngâm, vượn hót nào tày


Lọt tai, Hồ cũng chau mày rơi châu.


    Dù tiếng ve, tiếng vượn đã buồn lắm rồi, nhưng tiếng đàn của Thuý Kiều còn buồn hơn, buồn đến nỗi làm cho vị quan “tổng đốc trọng thần” đang vui mừng say sưa chiến thắng cũng phải “chau mày, rơi châu”! Đó là đối với Hồ Tôn Hiến, còn đối với Đại thi hào thì sao?


    Nguyễn Du quan niệm rằng: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” và “Khi nên cảnh cũng chiều người”, người buốn thì cảnh buồn, người vui, cảnh vui theo, như tiếng ve chỉ buồn với những ai đang buồn mà thôi, chứ người không buồn không thể nhận ra nỗi buồn ấy: “Bất thị sầu nhân bất hứa tri”. Với tiếng vượn, cũng thế.


  Nguyễn Du sống ở quê hương Tiên Điền liên tục sáu năm từ năm 1796 đến 1802. Dạo ấy núi non Hông Lĩnh nhiều muông thú lắm, tất nhiên vượn cũng nhiều, và ông đã gọi vượn, hạc là “người hàng xóm” của mình. Những năm đó không biết bao lần ông đã nghe tiếng vượn hú nhưng không hề có một câu thơ nàonhắc đến nỗi buồn của tiếng vượn. Dường như đối với Đại thi hào, nỗi buồn của tiếng vượn chỉ được nghe ra trong cảnh tha hương, chứ khi mình đang sống trên quê mình, nỗi buồn đó không hề chạm tới. Từ năm 1802 phải xa quê để giữ “chức quan mọn” dưới triều Gia Long, là khi tiếng vượn bắt đầu xuất hiện trong thơ ông, đó là khi rời quê, vượt núi Phượng Hoàng để đi vào kinh đô. Vì cách quê chưa xa, nên tiếng vượn ở đây chưa thật gợi buồn, mà chỉ là một âm thanh của đêm khi trời gần sáng, chen vào cảnh sắc hoang vu:


“Nguyệt lạc viên thanh ngoại


  Nhân hành hổ tích trung”


      ( Trăng tà ngoài tiếng vượn/ Người đi trong dấu hùm).


  Trong mười tám năm làm quan dưới thời Gia Long, Nguyễn Du có mười bốn tháng xa quê nhất, là thời gian đi sứ Trung Quốc từ tháng 2 năm 1813 đến tháng 4 năm 1914. Về tư tưởng, tình cảm trong chuyến đi này, Nguyễn Du có sự mâu thuẫn lớn giữa một bên là chánh sứ vâng lệnh triều đình của một nước nhỏ làm nhiệm vụ cống nạp nước lớn để giữ tình hữu hảo, một bên là nhà thơ nặng tình nhân ái và lòng tự hào dân tộc, luôn căm ghét chính sách của kẻ xâm lược…Đọc “Bắc hành tạp lục”, ta thấy rằng, những ngày mới lên đường, nhất là khi qua Mục Nam Quan, ý thức của một tôi trung và chánh sứ thể hiện rất rõ: mang ơn vua, chịu ơn “thượng quốc” và tưởng rằng ở “thượng quốc” thì cái gì cũng tốt đẹp cả.  Nhưng rồi thực tế không phải như vậy làm ông thất vọng : đường thì khúc khuỷu quanh co như lòng người, dòng sông Ninh Minh hung dữ sẵn sàng nhấn chìm con thuyền của sứ đoàn: “ Nước tung sóng vỗ bọt ngầu/ Mùa hè nước lũ sôi trào ngày đêm/ Ba ngày thấp thỏm trên thuyền/ Đáy sâu sa sẩy ngập chìm mà lo”. Rồi những cuộc bạo loạn nổi lên liên miên làm tắc đường. Và đặc biệt, có rất nhiều người đói khổ như bốn mẹ con người đàn bà ăn xin và ông lão hát rong ở thành Thái Bình…Nỗi buồn thế thái nhân tình cộng hưởng nỗi buồn tha hương trong lòng thi nhân và khi đó tiếng vượn như một tác nhân thúc đẩy nỗi buồn.  Chúng ta lưu ý rằng, thuyền là một trong những phương tiện giao thông quan trọng của sứ đoàn ngày đó.  Nước lũ Ninh Minh làm Nguyễn Du sợ thì quang cảnh bên sông Minh Giang gợi con cháu quê nhà làm ông buồn. Chiều muộn rồi, ông đề nghị không vượt rặng Hoa Sơn nữa, không phải đi nhiều rồi cần dừng lại nghỉ vì sức khoẻ của sứ đoàn, mà:


Nhật tà mạc hướng Hoa Sơn quá


Phạ hữu thanh thanh trường đoạn viên.


( Hoa Sơn chiều muộn đừng qua / Kẻo rồi tiếng vượn làm ta não lòng)


Đây là lần thứ nhất Nguyễn Du sợ tiếng vượn ở quê người. Phải chăng chiều muộn rồi thì đêm sẽ xuống, nếu qua núi sẽ nghe tiếng vượn, tiếng vượn Hoa Sơn gợi nhắc tiếng vượn non Hồng làm thi nhân buồn đến đứt ruột nên mới gọi tiếng vượn ấy là “trường đoạn viên”.


   Lần thứ hai thi hào buồn vì tiếng vượn khi từ xa nhìn miếu Quan Âm. Núi ở xa, miếu ở xa, chắc những âm thanh núi rừng chỉ văng vẳng tới tai ông, thế mà ông nhận ra tiếng vượn:


Đình vân xứ xứ tăng miên định


Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai


( Giấc sư mây phủ la đà/ Vượn kêu rừng núi chiều tà bi ai)


Rồi “Đêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang” vô tình thi nhân nghe tiếng vượn kêu, ông lại buồn, nhìn bốn mặt rừng núi, cảm thấy mình già, rồi thốt lên:


Thập niên dĩ thất hoàn hương lộ


Ná đắc gia hương nhập mộng tần


( Mười năm quên lối về làng/ Làm sao trong mộng đêm trường gặp quê?)


 Trong cuộc hành trình dằng dặc trên quê người, nỗi nhớ quê thường trực trong lòng Nguyễn Du. Lòng nhớ quê, ông sợ những gì gợi đến quê hương, mà tiếng vượn là một điển hình. Lại một đêm đậu thuyền ở Sơn Đường, ông đề nghị không buộc thuyền gần núi, sợ nghe phải tiếng vượn rồi buồn suốt cả đêm ròng:


Mạc cận thương nhai túc


Đề viên triệt dạ bi!


   Trong chuyến đi sứ Trung Quốc kéo dài mười bốn tháng đó, Nguyễn Du sáng tác 132 bài thơ, tập hợp lại thành “Bắc hành tạp lục”. 132 bài viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng hễ nơi đâu tiếng vượn xuất hiện là cảnh quê nhà hiện lên, da diết nhớ thương. Không ngoại lệ, khi sắp kết thúc cuộc hành trình, “Trên đường đi Tiềm Sơn”:


Lai đáo Tiềm Sơn lộ


Uyển như Hồng Lĩnh cư


Vân hà viên khiếu ngoại


Tùng bách hạc sào dư


          (Đường Tiềm Sơn qua lại/ Tưởng Hồng Lĩnh ngày nào/


              Vượn kêu ngoài ráng đỏ/  Tổ hạc cành tùng cao).


    Với Đại thi hào Nguyễn Du, tiếng vượn luôn gợi nỗi buồn nhớ quê nhà những ngày tháng tha hương.


                       


                                   


 


 


 NGUYỄN DU VÀ RƯỢU


            Xưa nay các thi nhân thường thích rượu, hình như men rượu gây men cho thơ, có rượu hồn thơ được bay bổng hơn. Bởi thế mà bầu rượu thường đi theo túi thơ, nhiều nhà thơ là đệ tử của Lưu Linh, thích uống rượu và cũng hay làm thơ về rượu. Người thường thì "tửu nhập ngôn xuất", với nhiều nhà thơ thì "tửu nhập thi xuất" cũng là chuyện dễ hiểu. Lý Bạch đời nhà Đường bên Trung Quốc, ở nước ta như cụ Tản Đà là những người không những sành thơ mà rất sành rượu. Đó là người ngày xưa, chứ ngày nay nếu kể tên các nhà thơ hay uống rượu thì  e rằng báo không đủ giấy mà in.


            Thế nhưng nhắc đến Đại thi hào Nguyễn Du là độc giả nghĩ ngay đến một con người tóc bạc sớm, đa sầu đa cảm, có trái tim lớn đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh, đặc biệt có tài thơ không ai sánh kịp… Không mấy ai nghĩ rằng cụ Nguyễn Du cũng là người hay uống rượu, có triết lý về uống rượu, và khổ cho Cụ, vì nghèo, nhiều khi không có rượu để uống. Nếu chỉ đọc Truyện Kiều thì ta chỉ biết Cụ coi uống rượu là một niềm vui của cuộc sống, nên nói tình bạn của Kim- Kiều sau khi đoàn viên, cụ viết:


Khi chén rượu, khi cuộc cờ


Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên


            Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du nhiều lần nói việc uống rượu của bản thân mình. Chỉ có một lần nhà thơ uống rượu để tiễn bạn trong bài Lưu biệt Nguyễn Đại Lang:


Tây phong tiêu táp phất cao lâm


Khuynh tận ly bôi, thoại dạ thâm


Nghĩa là: "Gió tây hiu hắt thổi qua rừng cây cao. Hãy cạn chén rượu biệt ly và nói chuyện tận khuya". Chỉ đọc hai câu này chúng ta không thể kết luận nhà thơ thích uống rượu được, vì rượu ở đây là chén biệt ly, uống để mà nói chuyện với nhau khi chia tay.  Nhưng đọc hai câu này trong bài Tạp thi thì rõ ràng thi nhân hay uống rượu rồi:


Thôn cư bất yếm tần cô tửu


Thượng hữu nang trung tam thập tiền


( ở thôn quê mua rượu hoài không chán. Trong túi vẫn còn ba mươi đồng tiền). Có nghĩa là còn tiền thì còn mua, chỉ hết tiền mới chịu nhịn.  Trong bài thơ tặng một người bạn, Nguyễn Du nói nguyện vọng của bạn và cũng là ý muốn của mình:


Phù thế kỷ kinh tang lỗ biến


Sàng đầu y cựu tửu doanh tôn


Nghĩa là:


Trăm năm thay đổi cuộc đời


Chỉ mong chai rượu không vơi đầu giường.


Cụ uống rượu để thay đổi dung nhan rầu rĩ của mình:"Đăng tiền đấu tửu khởi suy nhan" ( trước đèn uống chén rượu cho mặt mày tiều tuỵ tươi tỉnh lên). Và khi đi đường mùa đông Lạng Sơn, Cụ cũng uống rượu để chống rét: " Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn" ( dọc đường trời lạnh, nhờ hơi rượu mà ấm lòng).  Nguyễn Du nhiều lần nói mình thiếu rượu, trong nhà ở Hồng Lĩnh thì vò trống không, không có rượu đãi khách, khi sống tha phương thì ngay tiết thanh minh cũng không có rượu uống: " Thiên nhai vô tửu đối thanh minh".


            Để hiểu thêm quan niệm của Nguyễn Du về việc uống rượu, cũng như về cuộc đời, mời các bạn đọc lại bài thơ Đối tửu (uống rượu):


Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai


Lạc hoa vô số há thương đài


Sinh tiền bất tận tôn trung tửu


Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi?


Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ


Niên quang ám trục bạch đầu lai


Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý


Thế sự phù vân chân khả ai.


 


Dịch nghĩa: "Ngỗi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say, mắt lim dim. Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh. Lúc sống không uống cạn bình rượu, chết rồi ai rưới rượu lên mồ cho ? Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi. Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc. Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày. Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn". ( theo Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính).


            Đây là bài thơ duy nhất trong số 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du chỉ tả việc uống rượu. Hai câu đầu mở ra một quang cảnh: trong nhà người ngồi xếp bằng lim dim vì rượu, ngoài sân rêu hoa rụng vô số. Không phải vô tình mà nhà thơ tả cảnh hoa rụng chứ không phải hoa nở trên cây, càng không phải những nụ hoa, vì hoa rụng ngụ ý nói rằng những bông hoa vừa từ giã cuộc đời, cuộc đời của hoa thật ngắn ngủi, chuẩn bị cho người đọc nghĩ về cuộc đời của con người cũng ngắn ngủi lắm. Đây là một trong số khá ít bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du có vẻ mang chất hiện sinh, thể hiện rõ nhất ở hai câu thứ ba và thứ tư:


Sinh tiền bất tận tôn trung tửu


Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi.


Nói nôm na ra là: còn uống được thì uống đi, chứ chết rồi thì ai cho uống nữa!  ý này ta cũng gặp trong bài  Mạn hứng của tác giả:


Ninh tri dị nhật tây lăng hạ


Năng ẩm trùng dương nhất trích vô


(Đến khi về với đất rồi / Tiết trùng dương rượu ai người rót cho).


       Và cũng diễn đạt theo kiểu nôm na, thì hai câu 5,6 nói rằng: mà đừng nghĩ cuộc đời là dài ( hãy xem cuộc đời của những bông hoa kia), sắc xuân thay đổi nhanh, những cái gì thuộc về mùa xuân như chim hoàng oanh sẽ không còn nữa, thời gian sẽ đưa cái già về tận nơi. 


            Chỉ đọc những câu thơ này, ta dễ nghĩ Nguyễn Du có dáng dấp chủ nghĩ hiện sinh, nhưng đọc hai câu kết:


Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý


Thế sự phù vân chân khả ai


thì biết được thực chất của vấn đề: Tác giả muốn dùng rượu để tìm quên, trước thế sự như đám mây trôi nổi thật đáng buồn, chứ không phải theo triết lý sống gấp .


             Đọc những câu thơ về rượu của Đại thi hào, ta thấy Cụ lo cho khi chết rồi khi không ai cho uống rượu nữa. Thế thì, với lòng kính trọng và yêu mến một tài năng bậc nhất về văn chương, những lần viếng mộ Cụ ở Tiên Điền, Nghi Xuân, nhất là vào dịp mùa xuân, chúng ta nên đem theo ít rượu, rưới xuống mồ Cụ, như một lời mời Cụ cùng cạn chén với hậu thế.


            Nhân tiện tôi xin dịch lại bài thơ Đối tửu để các bạn tham khảo.


            


            Uống rượu


Lim dim nhấp chén bên song


Nhìn ra hoa rụng chất chồng trên rêu


Sống mà uống chẳng bao nhiêu


Chết rồi, ai xách rượu theo rưới mồ?


Thời gian giục tóc bạc phơ


Chim hoàng oanh chẳng thể chờ xuân phai


Suốt ngày chỉ muốn say thôi


Cuộc đời như đám mây trôi, thật buồn.


 


        NHÀ THƠ ĐI THỰC TẾ BẰNG CON ĐƯỜNG ĐI SỨ


          Sứ đoàn khởi hành từ kinh đô Phú Xuân, đi xe (ngựa kéo), đi thuyền, đi bộ cũng mất thời gian mấy tuần mới đến được Thăng Long, nhưng dọc quãng đường đó, Nguyễn Du không sáng tác bài thơ nào, chắc là vì những cảnh nên thơ đã được viết trong hai tập thơ trước. Nhưng khi đến Thăng Long, hai mươi năm mới trở lại, cám thương vì chuyện đổi thay của cảnh, của người mà ông viết một lúc bốn bài thơ đầy nước mắt, trong đó có bài “Long Thành cầm giả ca”, một “Tỳ bà hành” của Việt Nam. Ngược lên biên giới,  viết tiếp năm bài nữa, về Quỷ Môn Quan, về Lạng Sơn, về Trấn Nam Quan. Như vậy, trong 132 bài thơ trong tập, chỉ có 9 bài viết về Việt Nam, còn 123 bài còn lại viết về con người và đất nước Trung Hoa. Đó là về mặt số lượng, điều quan trong hơn là nội dung. Là Chánh sứ được triều đình cử đi “tuế cống thượng quốc”, nhưng trong “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du không hề đả động một chút nào về công việc ấy, như báu vật đem đi cống nộp là những gì, sứ đoàn phải lo giữ gìn ra sao suốt chặng đường vạn ngàn dặm, sự giao tiếp với quan lại nhà Thanh khi cống nộp ra sao…không hề xuất hiện trong một bài, thậm chí trong một câu thơ của tập thơ đi sứ này! Chẳng lẽ tất cả những điều đó không có gì làm cho ông Chánh sứ quan tâm? Tôi không nghĩ như thế! Phải chăng Đại thi hào không ghi lại một chút mảy may các thứ đó vì nếu nói đúng sự thật, đúng tâm tư suy nghĩ của mình thì không đúng với chức năng, nhiệm vụ của Chánh sứ được nhà vua giao cho, còn nói đề lấy lòng “thượng quốc” và nhà vua mà không đúng lòng mình thì ông không muốn. Phải chăng, Nguyễn Du chẳng hào hứng gì khi được được đảm trách cương vị Chánh sứ dẫn đầu một đoàn đi “tuế cống”(cống nạp hàng năm) mà ông coi đây dịp “Bắc hành” hiếm có để biết thực chất “thượng quốc” như thế nào, cái xứ sở mà bao địa danh cùng danh nhân ông đã thuộc lòng từ “thiên kinh vạn quyển”, nay mới có dịp tới.


    Đây là lần đầu tiên Nguyễn Du đặt chân lên đất nước Trung Hoa. Cách đó mười năm, cuối năm 1803, khi mới ra là quan chưa lâu, Nguyễn Du cũng được làm thành viên của đoàn lên Nam Quan để nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh, nhưng khi đó ông chỉ đứng bên đất nước mình. Trong tiềm thức của Nguyễn Du, chính xác hơn là ý nghĩ  trước khi đi sứ, Trung Hoa là đất nước bằng phẳng, phì nhiêu, đường sá đi lại thuận lợi, mọi người đều được sống no đủ, hạnh phúc…Ngay khi vừa mới qua trấn Nam Quan ông cũng nghĩ như vậy, coi chuyện đi lên Bắc Kinh là thuận lợi và đơn giản: “ Đường sá bằng phẳng, không phải hỏi thăm ai. Qua sông Minh Giang, đi thẳng lên phía bắc là Trường An” ( Vương đạo đẳng bình hưu vấn tấn/ Minh Giang Bắc thướng thị Trường An (Nam Quan đạo trung). Nhưng rồi thực tế không phải như vậy, thậm chí con ngược lại. Chúng ta biết rằng phương tiện giao thông chính của sứ đoàn là xe ngựa và thuyền. Đương bộ thì “ở chân núi, bùn đọng ngập bụng ngựa, quái vật nấp hai bên bờ suối lâu ngày thành tinh” ( Sơn lộc tích nê thâm một mã/ Khê tuyền phục quái lão thành tinh ) nên ông buồn và thất vọng. Còn đi thuyền thì sao? “ Suốt ba ngày đêm đi thuyền lòng cứ thấp thỏm, lo sợ nhiều bề. Nguy hiểm thay, chìm sâu sẽ không biết đâu là đáy. Ai cũng bảo Trung Quốc đường bằng phẳng, nào ngờ Trung Quốc như thế này, sâu thẳm, quanh co như lòng người” ( Đi thuyền trên sông Ninh Minh). Đó chỉ mới một sông Ninh Minh thôi, sứ đoàn còn phải qua bao nhiêu con sông khác, khi ngồi trong thuyền “nỗi lo sông nước bạc đầu thiếu niên” ( Chu trung niên thiếu giai bạch đầu – Bất tiến hành)!


   Cả đường bộ, đường thủy của “thượng quốc”đi lại đều khó khăn, hiểm trở là điều đầu tiên là Nguyễn Du kinh ngạc. Điều kinh ngạc thứ hai của ông là đời sống nghèo khổ của người dân Trung Hoa. Đó là chuyện ông già mù ở thành Thái Bình đi hát rong: “ Ông già xùi bọt mép, tay rã rời, cất lại cây đàn, nói đã hát xong. Ông gắng hết tâm sức hát gần hết một trống canh mà chỉ được năm, sáu đồng tiền…Ta trông thấy mà thương. Người ta thà chết còn hơn sống nghèo. Thường nghe nói Trung Hoa ai cũng no ấm, không ngờ Trung Hoa cũng có người như thế này” (Thái Bình mại ca giả). Rồi người đàn bà dắt đàn con đi ăn xin trong bài “Sở kiền hành: “ Có người đàn bà cùng ba đứa con ngồi với nhau bên vệ đường. Đứa bé nhất ẵm trong lòng, đứa lớn nhất thì xách giỏ tre. Trong giỏ tre đựng gì? Một nắm rau lẫn tấm cám. Trưa rồi vẫn chưa có gì ăn. Áo quần thì rách rưới. Gặp ai không dám nhìn, nước mắt đầm đìa thâm áo…” Ngạc nhiên thứ ba của nhà thơ là xã hội Trung Hoa không yên bình, loạn lạc nổi lên khắp nơi làm nghẽn tắc đường, có khi sứ đoàn phải dừng lại hoặc đi tránh theo đường vòng. Nguyên nhân của những cuộc bạo loạn là vì nạn đói: “ Nghe nói dân ở đây năm nào cũng khổ vì hạn hán, mất mùa. Mùa xuân có cày cấy nhưng mùa thu không được gặt. Hồ Nam, Hồ Bắc đã lâu không có hạt mưa nào, ruộng bò hoang…Mắt nhìn thấy người chết đói giữa đường, có mấy hạt táo lăn ra cạnh người…”. Nguyễn Du là người làm thơ nhưng rất coi trọng chi tiết, quan sát hết sức tỷ mỷ. Nắm rau lẫn tấm cám trong cái giỏ ăn xin của bốn mẹ con trong bài “Sở kiến hành”, và những hạt táo từ trong túi lăn ra nằm cạnh xác người chết đói trong “Trở binh hành” găm vào lòng người đọc và đã làm bao người nhỏ lệ trong hai trăm năm qua.


   Một đề tài hết sức quan trọng trong “Bắc hành tạp lục” là viết về những danh nhân, những nhân vật và địa danh lịch sử. Nguyễn Du cũng như hầu hết trí thức nước ta thời phong kiến thông thuộc lịch sử Trung Hoa, mến mộ tài năng của nhiều thi nhân, thuộc lòng tiếng tăm của các danh tướng…nhưng mấy ai đã được đặt chân lên quê hương họ, những nơi họ từng lập chiến tích, hoặc được chứng kiến lặng mộ, đền miếu của họ. Nguyễn Du có được cái may mắn đi qua nhiều nơi mà tên đất, tên người đã thức dậy những tri thức từ sách vở, để ông bày tỏ lòng khâm phục, tiếc thương và có khi là trách móc, phê phán một nhân vật nào đó trong lịch sử Trung Hoa. Trong “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du đã trực tiếp làm thơ hoặc đề cập đến khoảng 50 nhân vật, từ các nhà thơ kiệt xuất như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch…các ông vua, danh tướng như Sở Bá Vương, Tào Tháo, Hàn Tín, Mã Viện…đến các thuyết khách như Tô Tần, Kinh Kha…Phần lớn  di tích nằm bên đường sứ đoàn đi ngang qua, nhưng có đền miếu không ở gần, buộc nhà thơ phải “vọng kiến”.


 Trong lịch sử văn học Trung Quốc, có hai nhà thơ Nguyễn Du kính nể, đồng cảm và yêu thương nhất là Khuất Nguyên và Đỗ Phủ. Kính nể vì tài thơ bậc thầy, đồng cảm vì “có trái tim lớn đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh”; yêu thương vì các nhà thơ đó đói khổ, bệnh tật và bị chịu đựng bao nỗi bất hạnh. Trong “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du đã dành năm bài thơ nói về Khuất Nguyên, trong đó có hai bài viết trực diện để tỏ lòng thương cảm của mình khi qua Tương Đàm:


Hai ngàn năm bặt người hiền


Hương lan như vẫn thơm trên đất này


Ba năm buồn nỗi lưu đày


“Ly tao” ngàn thuở bậc thầy văn chương”.(*)


 Nguyễn Du thương xót Khuất Nguyên bị lưu đày rồi quyên sinh ở sông Mịch La, nhưng là một người sáng tác, Nguyễn Du lại thấy rằng trong cái mất có cái được, nếu như Khuất Nguyên được nhà vua tin dùng, không bị lưu đày thì làm gì có tuyệt tác “Ly tao”!


     Để bênh vực cho lòng trung của Khuất Nguyên, Nguyễn Du còn viết bài “ Bác Giả Nghị”: “ Lòng Khuất Nguyên, nước Tương Giang/ Trong veo thấy đáy suốt ngàn vạn năm”. Còn chống lại chuyện Tống Ngọc viết bài từ gọi hồn Khuất Nguyên, Nguyễn Du viết “ Phản chiêu hồn”, khuyên hồn đừng về vì không có nơi nương tựa: “ Đời sau ai cũng Thượng quan/ Nơi nơi chốn chốn sông toàn Mịch La/ Rồng không nuốt, hổ cũng tha…” ngụ ý phê phán xã hội đương thời.


   Có một câu thơ của Đỗ Phủ “ Nho quan đa ngộ thân” ( Mũ nho thường khổ thân), mỗi lần Nguyễn Du đọc là một lần khóc thương nhà thơ trên ngàn năm trước. Phục tài thơ, đồng cảm với nỗi lòng và xót thương Đỗ Phủ nghèo đói, bệnh tật, Nguyễn Du đã khóc bao lần trước thi phẩm của Đỗ Phủ khi còn ở nước mình, thì trong chuyến đi sứ này, khi được qua Lỗi Dương, Nguyễn Du lần tìm nhưng “trong những khóm tùng bách, không biết mộ ông ở nới nào”. “Ông với tôi sống trong hai thời đại xa nhau mà vẫn thương nhau, nhớ ông mà rơi nước mắt”. Nguyễn Du thương Đỗ Phủ còn vì một lẽ nữa thể hiện trong bài “Lỗi Dượng Đỗ Thiếu Lăng mộ”:


Cộng tiễn thi danh sư bách thế


Độc bi dị vực ký cô phần


( Thơ ông thiên hạ tôn thầy


Chỉ buồn nấm mộ lắt lay quê người)


   Có một danh tướng Trung Hoa được Nguyễn Du dành hai bài thơ nhắc đến trong tập này, không phải vì vị tướng này kiệt xuất, mà có lẽ vì một lý do khác: tướng này đã đem quân sang đánh nước ta hồi đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Vị tướng đó là Mã Viện. Nguyễn Du chế giễu vị tướng này đã lên lão sáu mươi mà còn khoe mình quắc thước, mặc áo giáp leo lên yên ngựa, không biết mình đã mang bao hệ lụy cho người thân và gia đình:


Mua vua được một nụ cười


Biết đâu thân thích bao người buồn đau


Trụ đồng lừa nổi ai đâu


Vợ con mang lụy xe châu một thời


  ( Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành)


Ngoài tướng Mã Viện ra, có một ông vua đời nhà Minh là  Minh Thành Tổ ( tức Yên Vương Đệ), từng cho quân xâm lược nước ta, khi đi sứ ngang qua tỉnh Hà Bắc, nhân gặp ngôi mộ kỳ lân, Nguyễn Du viết bài “Kỳ lân mộ” để lên án tội ác của ông vua này:


Yên Vương Đệ, kẻ bất nhân tiếm quyền


Cướp ngôi của cháu ngoi lên


Giận thì mười họ giết liền, ai ngăn?


Vạc dầu, đánh trượng trung thần


Năm năm hơn triệu dân lành tan thây….


    Phần kết bài thơ này, cũng như hai bài thơ viết về Mã Viện, Nguyễn Du đều đặt một câu nghi vấn có liên quan đến nước ta, khi thì với địa danh Dâm Đàm cụ thể, khi thì gọi chung là phương Nam. Đây là  hai ví dụ  rõ nét về tinh thần dân tộc của Nguyễn Du trong “ Bắc hành tạp lục”.


  Nguyễn Du tự nhận mình là “đa bệnh, đa sầu”, thơ ông thiên về gam buồn. Trong nước đã vậy, trên đường đi sứ càng có nhiều lý do để buồn. Đó là thất vọng về nước Trung Hoa không phải như ông từng hình dung: đường sá, sông ngòi hiểm trở, gian nan, thời tiết mưa gió lũ lụt, phải chứng kiến những cuộc đời bất hạnh trong một xã hội loạn lạc. Những đền đài, lăng mộ của danh nhân đã bị sức mạnh thời gian chôn vùi làm ông bùi ngùi thương cảm. Có một nỗi buồn nữa hầu như quán xuyến từ đầu đến cuối thi phẩm này là nỗi buồn nhớ quê hương. Nguyễn Du là người hay nhớ quê, nhớ nhà. Hồi mới ra làm quan dưới triều Gia Long, đã mấy lần xin về, mà nhớ nhà là lý do không nhỏ. Thời ở Tiên Điền, mỗi lần ra đi là ông có ý nghĩ “ Tài quá Long Vĩ thủy/ Tiện thị dị hương nhân” ( Vừa qua sông Long Vĩ/ Đã thành người tha hương) thì đi sứ xa quê hàng vạn dặm, cảm giác tha hương của Nguyễn Du tăng lên đến mức nào? Mới đến Lạng Sơn ông đã cảm nhận: “ Hồng Lĩnh thân bằng nhật tiệm giao” ( Người thân ở Hồng Lĩnh mỗi ngày một xa). Vừa qua khỏi trấn Nam Quan mấy ngày: “ Suốt đường chẳng gặp ai quen/ Lòng như đã chết ở trên nước người”. Ông buồn và sợ phải nghe tiếng vượn kêu chiều muộn khi đi thuyền trên sông Minh Giang, nơi mà: “ Nhớ em khi ngắm quan sơn/ Đá giăng lởm chởm nhắc con cháu nhà”. Còn khi đi thuyền qua sông Thiên Bình thì: “ Nhà thuyền chỉ trỏ quê gần / Làm buồn đứt ruột sứ thần phương xa”…Khi đi qua Nhiếp Khẩu của tỉnh Hồ Bắc, ông thở dài: “ Hồng Lĩnh cách niên hư túc mộng/  Bạch đầu thiên lý tẩu thu phong” (Hơn năm nay, ý muốn trở về Hồng Lĩnh đã thành mộng ảo. Đầu bạc rồi mà còn phải đi giữa gió thu nghìn dặm)…Thật khó thống kê hết được những câu thơ nói về nỗi buồn nhớ quê hương của Nguyễn Du trong chuyến đi sứ này. Nhớ quê, muốn được về quê nhanh, khi đến hồ Động Đình ông nhẩm tính: “Kế trình tại tam nguyệt / Do cập tường vi hoa” ( Tính đi đường, ba tháng nữa sẽ về tới nơi, còn kịp thấy hoa tường vi nở)…Và ông đã về nước sau 14 tháng trời với cương vị Chánh sứ nhưng có lẽ chính xác hơn, là một chuyến đi thực tế và làm thơ ở “thượng quốc”!


    Về hình thức nghệ thuật, như nhiều nhà thơ chữ Hán khác, phần lớn thơ chữ Hán của Nguyễn Du dùng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật và thơ tứ tuyệt. Nhưng so với “Thanh Hiên thi tập” và  “ Nam Trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục” có nhiều bài thơ trường thiên (dài trên 8 câu) hơn. Trong “ Thanh Hiên thi tập” chỉ có ba bài trường thiên là “ Ký mộng”, “ Hành lạc từ” và “ Lam Giang”. “ Nam Trung tạp ngâm” không có bài trường thiên nào, còn “ Bắc hành tạp lục” có đến 18 bài trường thiên, trong đó có ba bài dài nhất là “ Trở binh hành” (63 câu), “ Long Thành cầm giả ca” (50 câu không kể lời Tiểu dẫn) và “ Sở kiến hành” (42 câu). Phải chăng trong nhiều trường hợp do nội dung cần ôm chứa không thể gói gọn trong thể thơ thất ngôn bát cú quen thuộc, buộc đại thi hào phải sử dụng thơ trường thiên?


      “Bắc hành tạp lục” được viết trong khoảng thời gian tương đối ngắn:14 tháng với 132 bài, tính ra trung bình mỗi tháng Nguyễn Du sáng tác gần chục bài thơ. Với “tốc độ” sáng tác này, không chỉ nhanh hơn rất nhiều so với “Thanh Hiên thi tập” và “Nam Trung tạp ngâm” của chính tác giả, mà cũng nhanh sơn so với các nhà thơ khác sáng tác trên đường đi sứ trước và sau ông. Vì sao lại có hiện tượng này? Theo tôi, do những nguyên nhân sau đây:


-          Hồn thơ thường trực trong lòng nhà thơ, chỉ cần môt cái “cớ” nhỏ là bài thơ nẩy sinh. Nguyễn Du thông thuộc “thiên kinh vạn quyển” của Trung Hoa, tên đất, tên người của ‘thượng quốc” đã nhập vào tiềm thức. Trên đường đi sứ, khi gặp lại một di tích là chuyện cũ hàng ngàn năm được gợi lên, hồn thơ được lay gọi. Trong thực tế nhiều nơi chẳng còn di tích nữa, chỉ một địa danh có liên quan đến sự kiện hoặc danh nhân gặp trên đường đi sứ, chuyện cũ cũng đã hiện lên rồi. Ví như khi qua Thương Ngô, nhớ chuyện mộ vua Thuấn táng trong núi Cửu Nghi, mặc dù mây che không thấy cả núi Cửu Nghi nhưng nhà thơ vẫn có thơ về vua Thuấn và hai bà Hoàng hậu…


-          Nói chung sự kinh ngạc và bất ngờ thường tạo thi hứng cho nhà thơ. Mà chuyến đi sứ này nhà thơ gặp nhiều điều kinh ngạc , bất ngờ nằm ngoài dự đoán của mình về một nước Trung Hoa.


-          Là người ủy mị, đa sầu, hay nhớ nhà…mà chuyến đi sứ phải xa nhà hàng vạn dặm trong 14 tháng trời, thì lòng nhớ quê, nhớ nhà tăng lên vô tận, tạo nguồn cảm hứng cho sáng tác.


Cũng có thể còn có những nguyên nhân khác, nhưng theo tôi, đó là 3 nguyên nhân chính làm cho tác giả sáng tác được nhiều thơ trên đường đi sứ.


 


    Hơn hai trăm năm đã trôi qua, các thế hệ bạn đọc đều thừa nhận “ Bắc hành tạp lục” là một tập thơ đặc sắc, đầy chất nhân văn . Thế nhưng tác giả không gọi là “thi phẩm” mà gọi là “tạp lục” (ghi chép tản mạn) là cách nói khiêm tốn, cũng giống như ông từng gọi Truyện Kiều là “Lời quê chắp nhặt dông dài”! Thì ra giá trị tác phẩm là tự thân nó, chứ không phụ thuộc cách gọi khiêm nhường hoặc quảng cáo rùm beng của tác giả!


_________


(*): Những câu thơ dịch trong bài này đều rút từ quyển: “Nguyễn Du – Thơ chữ Hán toàn tập, Vương Trọng dịch thơ”, do Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Tĩnh xuất bản năm 2008.


                                     


DỊCH THƠ THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU


            Truyện Kiều là tác phẩm thơ quốc âm đạt đỉnh cao nghệ thuật độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học Việt Nam từ ngàn xưa đến nay. Thơ chữ Hán của cụ Nguyễn Du có thể so sánh với thơ Đường, thơ Tống ở Trung Quốc và không thua kém tác phẩm của bất cứ nhà thơ chữ Hán nào ở nước ta. Trong khi mỗi một người dân Việt Nam, ai cũng có thể thuộc một ít câu Kiều, nhiều người thuộc lòng trọn vẹn 3254 câu lục bát thì đối với thơ chữ Hán của Cụ, ngoài một số nhà nghiên cứu, ngoài một số cụ đồ nho còn lại hiếm hoi, đông đảo bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ hầu như không biết được gì ngoài một vài bài đã được trích giảng ở nhà trường. Tại sao lại có hiện tượng như thế? Có thể bạn đọc trả lời rằng: Là vì những tác phẩm đó viết bằng chữ Hán, mà ngày nay nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ không biết chữ Hán nên không thể đọc được; còn Truyện Kiều viết bằng chữ Nôm, được phiên âm ra quốc ngữ nên ai ai cũng có thể đọc được. Nói như vậy hoàn toàn đúng, nhưng chưa đủ, bởi người ta có thể đặt câu hỏi: Tai sao Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu đời Đường bên Trung Quốc, tại sao Chinh Phụ ngâm của Đặng Trần Côn gần như cùng thời với Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Hán lại được nhiều người yêu thích và tính phổ cập của hai tác phẩm đó lớn đễn như vậy? Câu hỏi này không thể trả lời đơn giản rằng chỉ bởi giá trị tự thân của hai tác phẩm đó, mà buộc chúng ta phải kể đến giá trị các bản dịch thơ, tức là công của thi sĩ Tản Đà và của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm ( hay Phan Huy ích như luận cứ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn). Thế là dù muốn hay không, khi nói đến một tác phẩm chữ Hán có được bạn đọc Việt Nam rộng rãi yêu thích hay không, chúng ta không thể không bàn tới công việc dịch tác phẩm đó ra quốc âm như thế nào.


      Muộn hơn rất nhiều so với Truyện Kiều, thơ Chữ Hán Nguyễn Du lần đầu tiên được dịch và ra mắt bạn đọc gồm 13 bài trên tạp chí Nam Phong số 161 vào năm 1931. Đến năm 1965 trong dịp kỷ niệm 200 năm sinh của Đại thi hào thì chúng ta đã có đủ 249 bài thơ chữ Hán của ba tập Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâmBắc hành tạp lục. Thơ chữ Hán Nguyễn Du ra mắt bạ đọc thường có ba phần: 1-Phiên âm . 2- Chú thích và dịch nghĩa. 3 - Dịch thơ. Chúng ta hết sức biết ơn các nhà Hán học hàng đầu như Đào Duy Anh, Phan Võ, Bùi Kỷ, Nguyễn Khắc Hanh, Trương Chính, Nguyễn Thạch Giang… đã giúp bạn đọc hiểu được nội dung các bài thơ chữ Hán của cụ Nguyễn Du. Nhưng thơ là nghệ thuật của ngôn từ, muốn chiếm được tâm hồn bạn đọc, thơ không chỉ cần nội dung hay, mà còn cần câu chữ, bởi cái người ta thuộc, người ta nhớ là ở những câu thơ. Nhưng câu thơ hay nhiều, hay ít là do người dịch. Thế thì thơ chữ Hán Nguyễn Du từ xưa đến nay do những ai dịch? Nói chung hầu hết các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du là do các nhà Hán học dịch chứ không phải do những nhà thơ. Ví dụ như quyển Nguyễn Du toàn tập do Mai Quốc Liên biên soạn, Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học xuất bản năm 1996, số bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du do các nhà thơ dịch ra thơ chỉ có 20/ 249, nghĩa là chỉ xấp xỉ 8%, số còn lại đều do các nhà Hán học dịch. Chúng ta thống nhất rằng, dịch thơ là sáng tác bài thơ theo nội dung chi tiết từng câu mà tác giả đã đưa ra, đồng thời bài dịch phải mang hồn thơ của tác giả. Các nhà Hán học khi dịch thơ chữ Hán sang tiếng Việt có thuận lợi là họ hiểu được sâu xa văn bản, nhưng nếu người đó không có năng khiếu sáng tác thơ ( điều này dễ xẩy ra lắm), thì khi họ diễn đạt ý của bản thân họ thành một bài thơ đã không thành bài thơ hay, thì làm sao họ có thể diễn đạt ý của người khác lại có thể thành một bài thơ hay được? Bởi thế bản dịch tiếng Việt của phần lớn các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du không hay là một điều dễ hiểu. Đó là nói về khả năng dịch thơ của phần lớn những người đã dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du, còn bây giờ ta bàn về quan niệm dịch thơ của họ.


    Như trên đã nói, Thơ chữ Hán Nguyễn Du lần đầu được dịch và ra mắt bạn đọc năm 1931 thì năm 1932 bắt đầu phong trào thơ mới và mười năm sau, tổng kết phong trào thơ mới, Hoài Thanh đã nói: " Cuộc thể nghiệm bây giờ đã tạm xong và đây là những kết quả:Thể Đường luật vừa động đến đã tan. Những bài Đường luật của Quách Tấn dẫu được hoan nghênh thì cũng khó làm sống lại phép đối chữ, đối câu cùng cái nội dung chặt chẽ của thể thơ…".


   Như vậy thể Đường luật đã tan trong phong trào Thơ Mới, và sau Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và ba chục năm hậu chiến, thơ Đường luật ở nước ta chưa một lần kết lại trong con mắt người đọc, có chăng chỉ còn lại rải rác đôi bài trong các câu lạc bộ người cao tuổi hoặc trên góc thơ châm biếm. Bạn đọc trẻ tuổi từng học qua phổ thông, ít người nắm được thế nào là niêm, là luật và họ vẫn hết sức xa lạ với thể thơ quá lắm khuôn phép và trong đời sống tinh thần hàng ngày chẳng mấy khi quan tâm đến nó.Trong khi đó các nhà dịch thơ chữ Hán lại không chú ý đến thực tế này, suốt sáu mươi năm của thế kỷ 20, và kể cả hiện nay, dường như người ta có một quy ước bất thành văn rằng: Đã là thơ Đường luật trong nguyên bản thì phải dịch ra thơ Đường luật trong tiếng Việt. Hầu hết các bài thơ Đường luật của Nguyễn Du đã được dịch ra như thế. Kể cũng lạ, các cụ đồ nho của chúng ta cũng như bạn đọc rộng rãi không ai không thừa nhận rằng bản dịch Hoàng Hạc lâu của thi sĩ Tản Đà là tuyệt tác vượt lên trên 20 bản dịch khác, trong khi đó Tản Đà dịch theo thể lục bát, còn phần lớn các bản dịch khác theo Đường luật. Đáng ra đây là một bài học có giá trong việc dịch thơ chữ Hán, nhưng nhiều người cứ khăng khăng phải dịch đúng thể loại của nguyên tác. Hay như Chinh phụ ngâm của cụ Đặng Trần Côn, theo thể nhạc phủ cổ phong, câu ngắn câu dài tuỳ theo từng chỗ, thế mà Đoàn Thị Điểm ( hay ông Phan Huy ích) lại dịch theo thể song thất lục bát, xa lạ với hình thức của nguyên bản, nhưng xưa nay vẫn được coi là bản dịch hay nhất,  hút hồn biết bao thế hệ. Một lý do nữa làm cho người ta không đánh giá cao các bản dịch thơ Đường luật của Nguyễn Du ra thơ Đường luật là do cái tài của dịch giả thì ít, mà ràng buộc niêm luật thì quá nhiều, thế là người dịch cứ lăm lăm làm thế nào cho không sai niêm sai luật, có khi phải chèn vào các hư từ cho khít, dịch thơ mà như người đan lát, cốt sao cho được cái thúng, cái mủng khỏi lỗi, chứ còn hơi sức đâu mà còn nghĩ đến cái hồn của bài thơ. Loại thơ dịch ấy nếu đem ra bắt người ta học thì người ta phải học, chứ chẳng mấy ai tự tìm đến thơ như tìm đến một sự đồng cảm, sẻ chia. Phải chăng đó cũng là một lý do để thơ chữ Hán Nguyễn Du từ trước đến nay chưa được bạn đọc hăm hở đón nhận?


            Thế thì nên dịch những bài thơ Đường luật của Nguyễn Du ra thể thơ nào? Xin thưa: Thể thơ lục bát! Khác với thể thơ Đường luật đã tan trong phong trào Thơ Mới, cũng trong bài tổng kết phong trào Thơ Mới, Hoài Thanh viết: " Lục bát vẫn được trân trọng: ảnh hưởng Truyện Kiều và ca dao". Và lục bát vẫn tiếp tục được trân trọng trong 60 năm tiếp theo của thế kỷ 20, tuy thời kỳ chống Pháp, đặc biệt là chống Mỹ tần suất các bài thơ lục bát có giảm ít nhiều, nhưng từ sau khi hoà bình lập lại đến nay, là thời kỳ huy hoàng của thể thơ lục bát, như một thống kê của tiến sĩ Phan Diễm Phương, trong cuộc thi thơ những năm 90 của Tuần báo Văn Nghệ, thể lục bát chiếm tới 24% ( gấp đôi tỷ lệ ở thời Thơ Mới).


          Dịch thơ Đường luật của Nguyễn Du ra thể lục bát có gì thuận lợi? Cuộc đời Nguyễn Du, tâm hồn Nguyễn Du qua các tác phẩm của Cụ, nếu chỉ được gói lại trong một từ, thì đấy là từ THƯƠNG. Trong thi phẩm quốc văn Cụ thương nàng Kiều, thương Đạm Tiên, thương chàng trai phường nón, và thương đủ thập loại chúng sinh… thì trong thơ chữ Hán, Cụ vẫn thương những cuộc đời bất hạnh như cô ca kỵ Long Thành,  La Thành và cả ông già hát rong tận bên Trung Quốc…Khác với thơ quốc âm, có khá nhiều bài thơ chữ Hán, Cụ thể hiện buồn thương đối với bản thân mình. Trong 249 bài, bài nào cũng thấy một chữ thương choán ngợp hồn ta. Lục bát là một trong không nhiều thể thơ có khả năng chuyển tải tình thương của thi nhân đến với bạn đọc, điều này không cần bàn cãi khi ta đã khóc với những trang Kiều, nhất là đoạn trao duyên cũng như đoạn nói về nỗi lòng cha mẹ khi có đứa con gái phải bán mình "sống nhờ đất khách, thác chôn quê người"…Nếu dịch giả là nhà thơ có tâm hồn đồng điệu với Nguyễn Du thì ta tin chắn rằng bản dịch lục bát những bài Đường luật sẽ có âm hưởng của Truyện Kiều và sẽ được bạn đọc rộng rãi đón nhận. Một thuận lợi rất đáng kể khi dịch ra thể lục bát là không cần quan tâm đến niêm luật, nó giải phóng người dịch như vừa trải qua một cuộc cách mạng lớn. Một điều nữa cũng là thuận lợi khi dịch thơ Đường luật ra thơ lục bát là số chữ trong bản gốc và bản dịch sẽ bằng nhau ( là 56 từ của thất ngôn bát cú). Điều này làm cho người dịch không quá bị ngặt từ và cũng không cho phép diễn đạt dông dài. Khi số từ bằng nhau, về hình thức, bản dịch để bên nguyên bản trông thật " môn đăng hộ đối"!


    Tuy nhiên dịch ra thể lục bát cũng có nhiều khó khăn đáng kể. Thư nhất, do tính súc tích, chữ ít nghĩa nhiều của Hán văn, có khi một câu chỉ bảy chữ nhưng chứa được rất nhiều ý buộc người dịch phải biết chọn lựa ý chính và hy sinh ý phụ. Trước tình hình đó, những người dịch có kinh nghiệm thường tự hỏi: " Nếu như Cụ Nguyễn Du phải dịch những ý này ra lục bát thì Cụ giữ lại những ý chính nào?" Và sau đó ta tìm câu trả lời sau khi nghe văng vẳng đâu đó một câu lục bát của Cụ lòng ta đã thuộc mà ý tương đối gần với hoàn cảnh này.Khi bỏ ý nào cũng tiếc thì ta  cố tìm cách thay lối diễn đạt để chứa được mọi ý.


            Ví như hai câu đầu trong bài Tạp thi mà chúng ta rất quen thuộc:


Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên


Hùng tâm, sinh kễ lưỡng mang nhiên


Dịch nghĩa là: Tráng sĩ đầu bạc buồn  nhìn trời. Hùng tâm và kế sinh nhai, cả hai thứ đều mờ mịt. Câu một có bốn ý: Tráng sĩ/ đầu bạc/ buồn/ nhìn trời. Bỏ ý nào cũng tiếc, nhưng giữ lại cả thì không thể gói gọn trong 6 chữ. Sau nhiều lần cân nhắc, buộc người dịch thay đổi một ít động tác của nhân vật để giữ trọn được các ý. Câu lục bát dịch là:


Bạc đầu tráng sĩ than trời


áo cơm, chí khí cả hai mịt mờ!


Người dịch cảm thấy chữ than vừa chứ được chữ buồn và chữ nhìn. Chữ than không nhất thiết phải thốt ra lời, nên không lo xa ý nguyên tác.


         Một điều khó khăn nữa khi dịch thơ Đường luật ra thể lục bát buộc người dịch phải xử lý là trong nguyên bản mỗi câu bảy chữ nhưng trong bản dịch thì câu dài câu ngắn. Cách khắc phục tốt nhất khó khăn này là người dịch phải biết trộn ý trong từng cặp câu nguyên tác rồi diễn đạt ý hai câu đó ra một cặp lục bát. Cũng có lúc người ta đảo thứ tự ý trong mỗi cặp câu nguyên tác để dịch ra lục bát, điều này không hề ảnh hưởng đến sự rành mạch của bài thơ, vì ý trong mỗi cặp câu ( nhất là các cặp thực và luận), thứ tự sau trước của các câu thường không quan trọng. Những việc làm này mục đích chuyển tải sang bản dịch càng hết ý nguyên bản càng tốt, và đồng thời bảo đảm được cái hồn của bài thơ, tức là bài thơ lục bát dịch càng giống hơi thơ của Nguyễn Du càng tốt. Với cách đảo thứ tự này, hai câu thơ trên kia chúng ta có thể dịch thành:


áo cơm, chí khí mịt mờ


Bạc đầu tráng sĩ ngẩn ngơ nhìn trời.


     Còn đối với các bài thơ ngũ ngôn trường thiên ( ví dụ như bài Ký mộng), Nguyễn Du thường viết theo thể độc vận từ đầu đến cuối, người dịch trước đây thường khắt khe dịch ra ngũ ngôn độc vận. Thơ ngũ ngôn dịch ra ngũ ngôn là điều hợp lý vì nếu như dịch ra thể thơ khác ( như lục bát chẳng hạn) thì do số từ nhiều hơn, ý thơ thường bị tãi ra. Nhưng đối với bạn đọc ngày nay, chúng ta có nhất thiết dịch độc vận hay không? Chúng ta biết rằng, cũng như thơ Đường luật, thể thơ độc vận ở nước ta đã tan biến từ trước cách mạng Tháng Tám, mà dấu ấn có lẽ cuối cùng của nó còn in đậm ở nhà thơ Nguyễn Bính với các bài Trời mưa ở Huế Xuân tha hương…Điều đó nói lên rằng, đã trên sáu chục năm nay, thơ độc vận dường như vắng bóng trên thi đàn và sự thực nó không tồn tại trong tâm hồn và ý nghĩ của các bạn đọc trẻ, trong khi đó, loại thơ gieo vần theo từng khổ bốn câu lại hết sức phổ biến, bạn đọc nào cũng quen. Thế thì tại sao chúng ta lại câu nệ hình thức dịch thơ kia ra độc vận để phải chuốc lấy muôn vàn khó khăn, rồi phải gò, phải ép, phải chèn thêm hư từ cho giữ được vần, làm cho câu thơ mất tự nhiên, làm cho chất lượng bản dịch giảm sút. Tôi nghĩ rằng, chúng ta nên thay đổi suy nghĩ, thay đổi quan niệm khi dịch, không nhất thiết dịch độc vận ra độc vận, mà nên bảo toàn vần trong từng khổ, để đỡ phải gò bó trong khi dịch, dành sức mà chuyển ý, chuyển hồn của nguyên tác đến với bạn đọc.


    Để kêt thúc bài viết này, tôi xin nêu một ví dụ để nói ưu thế dịch thơ Đường luật của Nguyễn Du ra thể thơ lục bát so với dịch ra thơ Đường luật.


            Sơn cư mạn hứng


Nam khứ Tràng An thiên lý dư


Quần phong thâm xứ dã nhân cư


Sài môn trú tĩnh sơn vân bế


Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ


Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ


Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ


Cố hương đệ muội âm hao tuyệt


Bất kiến bình an nhất chỉ thư.


            Những ai hiểu biết ít nhiều Hán văn, dù một lúc chưa thể lĩnh hội được toàn bộ ý bài thơ nhưng chúng ta đã cảm được cái hồn buồn thương của tác giả. Ta hãy đọc bản dịch theo thể Đường luật:


            Cảm hứng ở núi


Kinh đô khuất nẻo dặm nghìn xa


Giữa chốn non xanh một túp nhà


Ngày lặng cửa sài mây phủ kín


Trời xuân vườn thuốc trúc lơ thơ


Lòng quê lai láng gương thiềm rọi


Lệ cũ đầm đìa tiếng nhạn thưa


Xa cách các em, tin tức bặt


Bình yên mấy chữ thấy đâu mà.


 


Vì muốn có vế đối cho trăng thiềm rọi, dịch giả phải thêm tiếng nhạn thưa, rất xa với nguyên bản là tiếng nhạn đầu mùa. Còn những câu khác, ý nói chung tương đối đủ nhưng sao vẫn thấy thiếu cái chất Nguyễn Du của nguyên bản?


            Và đây là bản dịch lục bát:


                                                                                    Cảm hứng ở núi


Kinh đô ngàn dặm xa rồi


ở sâu trong núi có người nhà quê


Cửa sài tĩnh lặng mây che


Tiết xuân, vườn thuốc rào tre sơ sài


Lòng quê dưới ánh trăng ngời


Đầu mùa tiếng nhạn nhắc thời biệt ly


Các em từ buổi phân kỳ


                               Bặt tin, thư vắng… biết gì nữa đâu!


 


            Phải chăng bạn đọc ngày nay không những lĩnh hội được ý của bài thơ mà đôi phần cảm nhận tâm hồn Nguyễn Du qua những lời thơ gần gụi, không xa lạ như trong thể Đường luật?


 


BÀI THƠ HAY NHẤT VỀ THĂNG LONG CỦA NGUYỄN DU


     Sinh thời, Đại thi hào Nguyễn Du có  năm bài thơ chữ Hán về Thăng Long, trong đó "Long thành cầm giả ca", tức "Bài ca người gảy đàn đất Long Thành" là nổi tiếng hơn cả. Bài thơ này cụ viết vào mùa xuân năm 1813, trên đường đi sứ Trung Quốc, đến nay, đã 200 năm. Mở đầu bài thơ là lời Tiều dẫn của tác giả dài khoảng ba trăm từ, bằng văn xuôi, có những đoạn như sau:" Người gảy đàn đất Long Thành ấy không rõ họ tên là gì. Nghe nói thuở nhỏ nàng học đàn Nguyễn trong đội ngũ nữ nhạc ở cung vua Lê. Quân Tây Sơn kéo ra, các đội nhạc cũ kẻ chết, người bỏ đi, nàng lưu lạc ở chợ, ôm đàn hát rong.Những bài nàng gảy đều là những khúc Cung phụng cho vua nghe, người ngoài không hề được biết, cho nên tài nghệ cuả nàng nổi danh hay nhất một thời.


 Hồi còn trẻ, tôi đến kinh đô thăm anh tôi, ở trọ gần hồ Giám, cạnh đó các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con gái đẹp có đến vài chục người. Nàng nổi tiếng nhờ ngón đàn Nguyễn. Nàng hát cũng hay và khéo khôi hài, mọi người say mê, đua nhau ban thưởng, tiền thưởng nhiều vô kể...Sau đó vài năm tôi rời về Nam, mấy năm liền không trở lại Long Thành. Mùa xuân năm nay tôi phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, đi qua Long Thành, các bạn mở tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ, có gọi tất cả vài chục nữ nhạc, tôi đều không biết mặt, biết tên, chị em thay nhau múa hát. Rồi nghe một khúc đàn Nguyễn trong trẻo nổi lên, khác hẳn những khúc thường nghe, tôi lấy làm lạ, nhìn người gảy đàn thì thấy một chị gầy gò, vẻ tìều tuỵ, sắc mặt đen sạm, xấu như quỷ, áo quần mặc toàn vải thô bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi im ở cuối chiếu, chẳng hề nói cười, hình dáng thật khó coi. Tôi không biết nàng là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như đã quen biết, nên động lòng thương. Tiệc xong, hỏi ra thì chính người đàn bà trước kia đã gặp.


   Than ôi, người ấy sao đến nỗi thế? Tôi bồi hồi không yên, ngửng lên, cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa nay. Người ta trong cõi trăm năm, những sự vinh nhục, buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt, trên đường đi, cảm thương vô hạn, nên tôi làm bài thơ sau, để ghi mối cẩm hứng".


 


    Bài ca người gảy đàn đất Long Thành


Tên người đẹp, chẳng ai hay


Giỏi đàn, dân cứ gọi ngay cô Cầm


Trong triều trước, học nhiều năm


Khúc đàn Cung phụng tiếng tăm nhất đời


Ta từng gặp, thuở thiếu thời


Đêm bên hồ Giám tiệc vui, tình cờ


Tuổi đôi mươi, vẻ ngây thơ


Áo tươi màu đỏ, mặt phô sắc đào


Chơi đàn duyên dáng làm sao


Bàn tay uyển chuyển phả vào năm cung


Tiếng khoan gió thoảng rừng thông


Trong như tiếng hạc tầng không vọng về


Mạnh như sét đánh tan bia


Buồn như Trang Tích não nề ngâm nga


Nhạc trong đại điện Trung Hoà


Người nghe ngồi chật, thẫn thờ, mê man


Say sưa quan lính Tây Sơn


Chơi sang đêm ấy còn hơn vương hầu


Bọn Ngũ Lăng thấm vào đâu


Coi thường tiền bạc thi nhau thưởng tràn


Ngỡ như báu vật Tràng An


Trăm xuân đúc lại một nàng mà thôi.


Chuyện qua hai chục năm trời


Tây Sơn bại trận, ta thời vào nam


Long Thành không dịp ghé thăm


Nói gì cô gái ca cầm ngày xa


Lần này Tuyên phủ vì ta


Mở bày tiệc tiễn, kỹ ca được mời


Đều là gái trẻ xinh tươi


Chỉ riếng cuối chiếu một người hoa râm


Nước da vàng vọt thất thần


Mặt mày phờ phạc không lần điểm tô


Nhìn người ấy, có ai ngờ


Giỏi đàn bậc nhất kinh đô một thời.


Khúc xưa từng tiếng bồi hồi


Ta nghe tê tái, lệ rơi đáy lòng


Chuyện xưa, hai chục năm ròng


Người đêm hồ Giám tiệc tùng là đây?


Thời gian: thành chuyển, người thay


Nương dâu, bãi bể ai hay sự đời


Tây Sơn cơ nghiệp tan rồi


Chỉ còn sót lại một người kỹ ca


Trăm năm thấm thoắt trôi qua


Thương tâm chuyện cũ lệ nhoà áo khăn


Đầu ta bạc trắng ai bàn


Trách gì người đẹp dung nhan héo sầu


Mở trừng đôi mắt nhìn lâu


Gặp nhau chẳng nhận được nhau, thật buồn!                 


           


      Như chúng ta đã biết, Nguyễn Du tuy quê ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh nhưng ông sinh ra ở phường Bích Câu và lớn lên ở đất Thăng Long. Thân sinh của ông là Tả Thị lang bộ Hình, rồi quan Tư đồ và sau cùng là Tể tướng Nghiễm Nghiễm. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê ở Bắc Ninh. Năm 1757, triều đình điều Nguyễn Nghiễm về Thăng Long, và chính Thăng Long tạo nên mối lương duyên giữa Tả thị lang tuổi đã suýt soát năm mươi với cô gái Trần Thị Tần xuân xanh chưa đầy hai chục. Nghĩa là, nếu như không có Thăng Long thì không có mối lương duyên đó và Nguyễn Du sẽ không ra đời.


     Chỉ vài lần về quê ngắn ngủi, nói chung, Nguyễn Du sống thời tuổi trẻ ở Thăng Long, cho đến năm 1786, ông rời Thăng Long về quê vợ ở Thái Bình cũng là năm Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long lần thứ nhất. Từ đó Nguyễn Du rất ít có dịp trở lại Thăng Long. Nếu như bài ghi chép “Một mối tình hận của tôi” nói về mối tình đầu và những câu lục bát đầu tiên của Nguyễn Du thời đi học ở Thăng Long, thì bài “Long Thành cầm giả ca” chứa đựng nhiều lượng thông tin nhất về mối liên hệ của Nguyễn Du với Thăng Long sau năm 1786. Theo lời Tiểu dẫn cũng như nội dung bài thơ, ta biết được rằng, khoảng năm 1793, từ quê vợ Thái Bình, Nguyễn Du lên Thăng Long thăm anh trai là Nguyễn Nễ trước làm quan trong triều Lê, nay giúp Tây Sơn. Nguyễn Du trọ gần hồ Giám, có chứng kiến cuộc “chơi sang” của quan lính Tây Sơn, xem tiền bạc như bùn đất trong một đêm xem đàn hát. Trong lời tiểu dẫn có một câu: “ Lúc đó tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm”. Là em một ông quan triều Tây Sơn đi xem hát do quân Tây Sơn tổ chức, tại sao Nguyễn Du lại phải nấp trong bóng tổi? Là vì Nguyễn Du không muốn ai nhận ra mình, một người không chấp nhận sự đổi thay của Thăng Long do quân Tây Sơn mang lại. Nguyễn Du dùng hình tượng người gảy đàn ở Long Thành, không chỉ nói về số phận của một người ca kỹ, mà muốn nói sự đổi thay của thời thế, đổi thay của Thăng Long qua các thời kỳ nhà Lê, Tây Sơn rồi nhà Nguyễn với nỗi tiếc nuối, giống như nội dung hai câu Kiều ông từng viết: “ Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.Trong lời Tiểu dẫn, Nguyễn Du còn viết: “ Sau đó vài năm, tôi dời vào Nam và từ đó không trở lại Thăng Long nữa”. Ta biết rằng năm 1796, một năm sau khi vợ mất, Nguyễn Du đã đưa con trai tên là Nguyễn Tứ, khi đó mới vài tuổi về Nghi Xuân. Hai chữ “ vào Nam” Nguyễn Du dùng là kể cả thời gian ông sống dưới chân núi Hồng Lĩnh cũng như thời gian làm quan dưới triều Gia Long mà ông ở Phú Xuân hoặc Quảng Bình. Như vậy là đến 20 năm Nguyễn Du không trở lại Thăng Long, kể từ năm 1793 đến năm 1813.


   Đối với Nguyễn Du, “con người thi nhân” lấn át một cách triệt để “con người quan chức”. Trong 14 tháng ròng với cương vị Chánh sứ đi sứ Trung Quốc từ tháng hai năm 1813 đến tháng tư năm 1814, ông đã sáng tác tập thơ “ Bắc hành tạp lục” gồm 132 bài, không có một bài nảo kể chuyện thù tạc với cương vị chánh sứ, mà chỉ nói về cảm hứng của ông khi đến những vùng đất, con người ông từ gặp trong sách vở, và đặc biệt nói về nỗi khổ của những kiếp người. Trong bối cảnh bài thơ “ Long thành cầm giả ca” cũng vậy, đó là hôm Tuyên phủ thành Thăng Long mở tiệc tiễn ông đi sứ, thế mà thơ ông không hề nói về chuyện đó, lại chỉ nói về thân phận một người đàn bà gảy đàn với nỗi cảm thương vô hạn. Nói rằng Nguyễn Du “đứng về phe nước mắt” trong sáng tác thi ca cũng không nhầm.


   Trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hà Nội có ấn hành tuyển tập gồm những bài thơ hay viết về Thăng Long- Hà Nội từ thời nhà Lý. “Long thành cầm giả ca” cùng với hai bài thơ khác có chung đầu đề “Thăng Long” tạo nên chùm thơ hay nhất viết về đề tài này trong một ngàn năm qua.


  (còn tiếp)


Nguồn:  Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay. Khảo luận, Trao đổi của Vương Trọng. NXB Hội Nhà văn, 2018. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trà Vinh - Tư liệu 25.09.2018
Tìm hiểu số lượng cống thuế hàng năm dưới thời Trung Quốc đô hộ nước ta - Hồ Bạch Thảo 25.09.2018
Campuchia ngả theo Trung Quốc có ý nghĩa gì cho chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ? - Charles Edel 24.09.2018
“Vành đai con đường” (BR): Tương lai của bẫy nợ và phụ thuộc - Nhuận Quảng Trí 24.09.2018
Cô gái làm sụp đổ nền ngụy khoa học - Tao Babe 18.09.2018
Văn tế tướng sĩ trận vong - Tư liệu sưu tầm 18.09.2018
Nhìn lại mùa Xuân khói lửa 1789 - Chính Đạo 17.09.2018
Huyện Phòng Thành - Quảng Tây - nguyên là đất Việt Nam/ Tài liệu “Dân tộc Kinh ở Quảng Tây”. - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
Nghĩ về đất - Vũ Thư Hiên 16.09.2018
Phòng Thành: Cộng đồng người Kinh trên đất Trung Quốc: 500 năm nét Việt không phai nhòa - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
xem thêm »