tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26667160
Tiểu thuyết
14.11.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

- Gớm nhỉ! Công tước nói, đôi môi run lên vì giận; ta đã tha cho ngươi; đáng lẽ phải tống ngươi đi đày khổ sai, thì ta cho phép ngươi ở lại trong thành phố; thế mà để trả ơn ta, ngươi lại đi làm cái việc bịp bợm, bỉ ổi nhất xưa nay chưa từng có ai làm!
- Thưa Đại nhân, việc bịp bợm, bỉ ổi nào kia ạ? Run lẩy bẩy, Tsitsikôp hỏi.
- Con mụ đàn bà, công tước vừa nói vừa tiến lại gần và nhìn chằm chặp vào Tsitsikôp; con mụ đàn bà đã viết cái chúc thư do ngươi đọc cho, đã bị bắt và sẽ được đem ra đối chất với ngươi.
Mắt Tsitsikôp tối sầm lại. Mặt y trắng bệch ra như tờ giấy.
- Thưa Đại nhân! Con xin thưa hết sự thật. Con có tội, thật là có tội; nhưng không đến nỗi như Đại nhân nghĩ, những kẻ thù đã vu oan cho con.
- Không ai có thể vu oan cho ngươi được, vì ngươi có nhiều mánh khóe bỉ ổi mà một tên lừa đảo vô liêm sỉ nhất cũng không tưởng tượng ra nổi. Ta tin rằng suốt đời, ngươi chưa từng có một hành động nào mà không bất lương. Mỗi đồng kôpek ngươi kiếm ra đều do thủ đoạn vô liêm sỉ; mỗi đồng kôpek ngươi kiếm ra là một vụ ăn cắp và một hành động nhơ nhuốc, đáng gia hình bằng knut -Knut là roi da gồm nhiều sợi có buộc những cục sắt nhỏ, công cụ để gia hình thông dụng dưới thời Nga hoàng- và đày đi Xibia. Quá quắt lắm rồi! Mày sẽ phải tống ngục ngay tức khắc và vào đấy, cùng với bọn vô lại đê hèn hạng nhất, sẽ chờ người ta quyết định số phận mày. Mà thế còn là một ân huệ cho mày đấy, vì mày còn tệ hơn bọn chúng nữa; chúng nó chỉ mặc sơ mi thụng và tulup, còn mày thì…
Công tước nhìn chiếc frac màu huyết dụ lửa khói và kéo dây chuông.
- Xin Đại nhân! Tsitsikôp kêu lên. Xin Đại nhân thương tình! Đại nhân là một người cha. Đại nhân không thương con thì cũng xin Đại nhân rủ lòng thương mẹ già con!
- Mày nói dối! Công tước tức giận quát lên. Trước kia mày đã van xin ta vì mấy đứa con, vì cái gia đình bịa đặt của mày; bây giờ mày lại nói đến mẹ mày.
- Thưa Đại nhân! Con là một tên vô lại, một kẻ khốn nạn nhất đời. Quả con đã nói dối; con không hề có con cái, không hề có gia đình; nhưng có Chúa chứng dám cho con, xưa nay con vẫn mong có một người vợ, mong làm bổn phận của một con người và một nông dân, để xứng đáng được xã hội trọng nể. Nhưng hoàn cảnh oái ăm thay! Thưa Đại nhân, con đã phải kiếm kế sinh nhai trong những điều kiện khủng khiếp. Cứ mỗi bước là gặp những cám dỗ… những kẻ thù... cả cuộc đời con như một cơn lốc hay một con tàu bềnh bồng trên sóng, phiêu bạt theo gió. Thưa Đại nhân, con chỉ là một con người!
Nước mắt y bỗng tuôn ra như suối. Mình diện nguyên chiếc frac màu huyết dụ lửa khói, chiếc gi lê nhung, chiếc cà vạt xa tanh, cái quần hoàn mỹ, bộ tóc thơm phức ô đơ Côlôn, y sụp xuống chân công tước và dập trán xuống sàn nhà.
- Lui ra! Quân đâu! Lôi nó đi! Công tước quát.
- Xin Đại nhân! Tsitsikôp rống lên, hai tay ôm chặt lấy chiếc ủng của công tước.
Người công tước run lên bần bật.
- Ta bảo mày lui ra! Ngài vừa quát vừa cố gỡ chân ra khỏi đôi tay của Tsitsikôp.
- Xin Đại nhân, con cứ phủ phục ở đây cho đến khi Đại nhân làm phúc tha cho con! Tsitsikôp nói; tay vẫn không buông chiếc ủng của công tước và cứ lê gối theo chân ngài trên sàn gỗ, trong bộ lễ phục đẹp đẽ màu huyết dụ lửa khói.
- Buông ra, công tước nói với cái cảm giác ghê tởm mơ hồ như khi người ta trông thấy một con bọ mà không đủ cam đảm giẫm cho chết. Ngài giãy chân ra mạnh đến nỗi đá phóc vào mặt Tsitsikôp, làm cho mũi, môi và cằm y đau ê ẩm; nhưng y vẫn không chịu buông tay và càng bám chặt hơn nữa vào chiếc ủng. Sau cùng, phải hai viên sen đầm lực lưỡng dùng vũ lực kéo y ra và xốc nách lôi tuột qua khắp các phòng. Y nhợt nhạt, thẫn thờ, ở trong cái trạng thái hôn mê khủng khiếp của một kẻ đang đứng trước một cái chết thảm khốc, không sao tránh khỏi, trước cái cảm giác hãi hùng hết sức trái ngược với bản tính con người…
Ở chân thang máy, y gặp Murazôp. Một tia hy vọng lóe lên. Chỉ trong nháy mắt y vùng ra khỏi tay hai viên sen đầm và sụp xuống chân Murazôp, khiến cho ông già hết sức ngạc nhiên.
- Ông ơi, Paven Ivannôvits ơi! Ông làm sao thế?
- Cứu tôi với! Họ đưa tôi vào tù, vào chỗ chết…
Hai viên sen đầm túm hắn lôi đi, không cho nói nốt… Một gian hầm bẩn thỉu và ẩm thấp, nồng nặc mùi đế ủng và xà cạp của lính coi ngục, một cái bàn bằng gỗ mộc; hai cái ghế ọp ẹp; một cửa sổ có chấn song, một cái lò sưởi thủng móp, phun khói ra các kẽ hở mà chẳng tỏa được tí hơi ấm nào: đó là nơi trú ngụ mới dành cho nhân vật của chúng ta; con người mà, chỉ một lát trước đây, đang tưởng mình được hưởng những lạc thú ở đời và được đồng bào chú ý vì một chiếc frac màu huyết dụ lửa khói. Thậm chí người ta cũng không để y có thì giờ thu vén những thứ cần dùng, lấy cái tráp… Bao nhiêu giấy má, văn khế mua người chết, tất cả đều đã vào tay các nhà tư pháp. Y buông phịch người xuống, và một nỗi buồn u uất cấu xé lòng y như một con sâu háu đói. Với một tốc độ mỗi lúc một tăng, nó gặm nhấm cõi lòng bơ vơ không nơi nương tựa đó. Chỉ cần một ngày sầu thảm như thế nữa thôi là Tsitsikôp đã không còn ở trên thế gian này nữa. Nhưng một bàn tay hộ mệnh đang che chở cho y. Một giờ sau, cửa ngục mở ra, và ông già Murazôp bước vào.
Một kẻ lữ hành đang bị cơn khát bỏng họng hành hạ, người đầy bụi bặm, phờ phạc, kiệt sức mà được người ta đổ cho một tí nước suối vào cái cổ họng khô rát; hắn cũng không thấy mát, thấy mình hồi sinh, như thằng cha Tsitsikôp bất hạnh khi thấy Murazôp vào.
Từ cái sàn gỗ mà y đã nằm vật xuống trong cơn tuyệt vọng, y giơ tay nắm chặt lấy tay Murazôp mà hôn, mà áp lên ngực, và nói: - Cứu tinh của tôi! Chúa sẽ thưởng cho ngài đã rủ lòng vào thăm một kẻ khốn nạn!
Đoạn y khóc òa lên.
Ông già ái ngại nhìn y và chỉ nói:
- Ôi, Paven Ivannôvits, Paven Ivannôvits! Ông đã làm gì thế?
- Biết làm sao được! Cái tính vô độ đáng nguyền rủa nó hại tôi, tôi quên hết chừng mực! Tôi không biết dừng lại kịp thời. Quỷ Xa tăng đã cám dỗ tôi, đã lôi tôi ra khỏi giới hạn của lương tri! Tôi đã sa ngã, tôi đã sa ngã, thật vậy: nhưng làm sao người ta lại có thể hành động như thế này? Bỏ tù một người quý tộc mà không xét xử, không điều tra!... Một người quý tộc, Afanaxi Vaxiliêvits ạ!... Không để cho người ta có thì giờ ghé về nhà thu xếp đồ đạc nữa! Bây giờ mọi vật đang bỏ đấy, vô chủ. Cái tráp của tôi, Afanaxi Vaxiliêvits, cái tráp của tôi! Bao nhiêu tài sản của tôi đều ở cả trong ấy. Tất cả những gì tôi đã đổ mồ hôi trán ra mới kiếm được, trong bao nhiêu năm lao lực, chịu đựng thiếu thốn. Cái tráp của tôi, Afanaxi Vaxiliêvits ơi! Người ta sẽ lấy hết, cướp hết! Trời ơi là trời!
Không có đủ sức cưỡng lại cơn tuyệt vọng mới này, y khóc nức nở; tiếng khóc xuyên qua những bức tường dày của ngục thất, âm ỉ ra mãi tận xa. Y giật đứt cái cà vạt bằng xa tanh và nắm lấy chỗ sát cổ áo xé toạc chiếc lễ phục đẹp đẽ màu huyết dụ lửa khói.
- Chao ôi, Paven Ivannôvits! Số của cải ấy đã làm ông mờ mắt! Nó làm cho ông không thấy được tình cảnh khủng khiếp của ông.
- Ân nhân của tôi ơi, cứu tôi với, cứu tôi với! Con người khốn nạn tuyệt vọng kêu lên, phủ phục xuống chân Murazôp. Công tước quý ông lắm: vì ông, việc gì ngài cũng làm.
- Không đâu, Paven Ivannôvits ạ; tôi rất muốn giúp ông, nhưng không thể được. Không phải ông lọt vào tay một người nào, mà đang ở dưới uy quyền của một pháp luật không gì lay chuyển nổi.
- Chính quỷ Xa tăng, thằng đao phủ của loài người, đã cám dỗ tôi!
Y nện đầu vào tường và giáng một quả đấm xuống bàn, mạnh đến nỗi bật máu ra; nhưng chẳng thấy đau đớn gì.
- Paven Ivannôvits, hãy bình tâm; hãy nghĩ cách hòa giải với Chúa, chứ không phải với người; hãy nghĩ đến linh hồn mình.
- Chao ôi cái số phận tôi! Afanaxi Vaxiliêvits! Ai đời lại có một số phận như thế? Vì nếu tôi có kiếm được vài xu, thì chính là nhờ kiên gan làm lụng chứ nào phải trộm cắp của người hay ăn cướp của công như bao nhiêu kẻ khác. Tôi gom góp để làm gì? Để được nhàn hạ khi tuổi già; để lại ít nhiều cho vợ, cho những đứa con mà tôi định tâm là sẽ có, để giúp ích và phụng sự tổ quốc. Tôi muốn có của chỉ vì thế! Tôi đã đi theo con đường quanh co, tôi xin nhận như thế. Nhưng chỉ sau khi tôi thấy rõ rằng theo con đường chính trực người ta chẳng tiến được chút nào, mà theo đường vòng người ta lại đi nhanh hơn. Nhưng tôi đã làm việc, tôi đã nỗ lực. Tôi lấy cái gì là lấy của kẻ giàu có. Ông thử nghĩ đến những bọn vô lại ăn cắp của công hàng nghìn rúp, bóc lột kẻ nghèo, cướp đến những đồng xu cuối cùng của kẻ đói khổ!... Số phận đâu mà hẩm hiu đến thế! Mỗi lần sắp đạt kết quả, có thể nói là đã sờ được ở đầu ngón tay, là một cơn bão táp nổ ra; người ta lao vào một tảng đá ngầm, thuyền vỡ tan tành. Tôi đã có gần ba mươi vạn rúp vốn liếng; một ngôi nhà ba tầng, đã mua được hai cái ấp… Afanaxi Vaxiliêvits, sao lại có một nỗi bất hạnh đến như thế? Sao lại có những vố phũ phàng đến như thế? Đời tôi há chẳng phải như một con thuyền bềnh bồng trên sóng đó sao? Công lý của Thượng đế ở đâu? Đâu là sự đền đáp cho một trí kiên nhẫn, một sự bền gan không lấy gì sánh được? Vì đã ba lần tôi phải bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng, tôi bắt đầu lại với mấy đồng xu; giá phải người khác thì đã mất hết hy vọng và thành ra con ma men rồi. Tôi đã phải đấu tranh, chịu đựng, đau khổ biết bao nhiêu… Mỗi kôpek là phải đem hết sức mạnh của tâm hồn ra mới kiếm được. Hãy cho rằng có kẻ kiếm ra tiền chẳng khó nhọc gì; nhưng đối với tôi thì đúng như câu tục ngữ đã nói: mỗi kôpek đóng chặt xuống đất với một cái đinh đáng giá những ba kôpek; thế là tôi phải vận dụng một ý chí gang thép để đánh gãy cái đinh mà lấy đồng kôpek; và có Chúa biết cho là tôi đã làm thế với chí kiên cường không mệt mỏi.
Trong lúc quá buồn khổ, y khóc hu hu, để mình rơi bịch xuống một chiếc ghế, giật đứt mảnh vạt áo rách treo lủng lẳng mà ném ra xa. Y giơ hai tay túm lấy những mớ tóc mà trước kia đã chăm chút biết bao, nhổ từng nắm không tiếc tay; y tìm trong cái đau đớn về thể xác một phương thuốc đánh lạc nỗi đau khổ về tinh thần.
Hồi lâu, Murazôp im lặng ngắm cái cảnh tượng lạ lùng ấy. Kẻ khốn nạn mới đây còn vênh vang đi lại với cái thư thái thong dong của một người thiệp thế hay một quân nhân; giờ đây quẫn chí đang vật vã điên cuồng, áo quần hở hang, khó coi, chiếc frac thì rách vạt, cái quần thì hở cúc, bàn tay thì vấy máu, nỗi uất hận trút vào những sức mạnh thù địch vẫn hành hạ con người.
- Chao ôi! Paven Ivannôvits, Paven Ivannôvits! Giá ông dùng cái nghị lực và chí kiên nhẫn của ông vào việc thiện, giá ông theo đuổi một mục đích tốt hơn; ông đã thành một người như thế nào rồi! Ông đã có thể làm được bao nhiêu việc hữu ích! Giá tất cả những người phúc thiện cũng ra công gắng sức làm việc tốt như ông đã ra công thu góp tiền bạc, giá họ biết hy sinh lòng tự ái và tham vọng để làm việc đó thì trời ơi, trái đất của chúng ta phồn vinh biết chừng nào!... Paven Ivannôvits, Paven Ivannôvits! Ông còn có tội với bản thân nhiều hơn là với đồng loại. Ông đã làm ô uế những khả năng phong phú mà tạo hóa đã ban cho ông. Sinh ra để trở thành một vĩ nhân, ông chỉ biết làm hỏng cả đời mình. Đó là điều làm cho tôi phiền lòng hơn cả.
Lòng người thật lắm uẩn khúc. Dù một kẻ lầm lạc có đi xa con đường chính trực bao nhiêu, dù một tên tội phạm thâm căn cố đế có lòng lim dạ sắt bao nhiêu, có lê la bao nhiêu trong ao tù của cuộc đời bất nghĩa chăng nữa; nhưng khi người ta đem con người hắn và những khả năng mà hắn đã làm nhơ bẩn ra trách hắn; thì hắn cũng bất giác bị lay chuyển và xúc động.
- Afanaxi Vaxiliêvits - con người khốn nạn cầm tay Murazôp nói - ôi, giá tôi ra được khỏi nơi này, lấy lại được của cải của tôi! Tôi xin thề với ông là từ nay tôi sẽ sống một cuộc đời khác hẳn. Xin ông cứu tôi với, ân nhân ơi, cứu tôi với!
- Tôi biết làm thế nào được? Muốn thế phải chống lại pháp luật. Cứ thử cho là tôi dám làm như thế đi nữa: nhưng công tước là người nghiêm minh; dù có thế nào ngài cũng không lùi bước.
- Ân nhân ơi! Không có việc gì mà ông không làm được. Pháp luật chẳng phải là cái làm cho tôi khiếp sợ: tôi sẽ có cách dàn xếp với pháp luật; nhưng vô cớ bị tống ngục, phải nằm bẹp ở đây như con chó, trong khi tài sản của tôi, giấy má của tôi, cái tráp của tôi… Cứu tôi với! Y ôm chặt lấy hai chân ông già, nước mắt chảy xuống ướt dầm dề đôi chân.
- Chao ôi Paven Ivannôvits, Paven Ivannôvits! Ông già Murazôp lắc đầu nói, mớ tài sản ấy làm cho ông mù quáng đến thế kia ư! Nó làm cho ông không nghe được tiếng nói của linh hồn ông nữa!
- Tôi cũng sẽ nghĩ đến linh hồn tôi, nhưng xin ông cứu lấy tôi đã!
- Paven Ivannôvits, tôi không đủ quyền để cứu ông; nhưng tôi sẽ cố hết sức làm cho số phận ông đỡ khổ và đưa ông ra khỏi nơi này. Vạn nhất mà tôi làm được như vậy, thì xin ông đền công cho tôi bằng cách từ bỏ mọi mưu toan mua bán của ông. Tôi xin lấy danh dự mà nói với ông rằng giá tôi có mất hết tài sản, và tài sản thì tôi có nhiều hơn ông, tôi sẽ không hề khóc lóc. Bởi vì cái đáng kể không phải là những của cải người ta có thể tịch thu của mình, mà là những của cải không ai có thể lấy trộm hay cướp của mình được! Ông đã sống khá đủ trên thế gian này. Chính ông cũng gọi cuộc đời ông là một con thuyền bềnh bồng trên sóng. Ông có đủ tiền của để sống cho trọn đời. Hãy kiếm lấy một nơi yên tĩnh mà ở, cạnh một nhà thờ và gần những người hèn mọn; hoặc giả ông thiết tha muốn có người nối dõi, thì lấy một người con gái trung hậu, địa vị tầm thường, đã quen sống với cuộc đời giản dị. Hãy quên cuộc đời phồn hoa và những cám dỗ của nó. Đồng thời cũng để cho cuộc đời phồn hoa quên ông đi; nó không đem lại yên tĩnh cho con người. Ông cũng đã biết là ở đấy chỉ có cám dỗ và phản bội mà thôi.
- Vâng, vâng, nhất định là như thế! Tôi vẫn có ý định sống một cuộc đời giản dị, phải chăng, làm nghề trồng trọt. Chính con quỷ cám dỗ, chính Xa tăng đã quyến rũ tôi, đã kéo tôi ra khỏi con đường chính trực!
Y cảm thấy trong lòng chớm nở những tình cảm mới mẻ, xưa kia đã bị bóp nghẹt vì lối giáo dục khắc khổ và không hồn, vì cảnh sống khô cằn của một thời thơ ấu ảm đạm, cảnh hiu quạnh của nhà bố, vì sự nghèo nàn của những ấn tượng thiếu thời, vì cái nhìn nghiệt ngã của số mệnh ngắm y một cách cau có qua một ô cửa kính mờ đục, phủ đầy tuyết. Y cất tiếng rên, và giơ hai tay bưng lấy mặt, nói giọng thảm sầu: “Phải rồi, phải rồi!”.
- Cái vốn biết người, hiểu đời đã không giúp ích được gì cho ông trong việc phi pháp; nhưng giá được dùng để phụng sự chính nghĩa!... Nào, Paven Ivannôvits, phải tỉnh ngộ; còn kịp đấy…
- Không, muộn quá rồi! Tsitsikôp rên rỉ với một cái giọng khiến Murazôp phải rùng mình. Quả tôi đã bắt đầu thấy mình đi lầm đường, thấy rằng mình đã rời khỏi con đường chính trực; nhưng biết làm thế nào được? Tôi không cưỡng nổi. Tôi đã được giáo dục không phải cách. Cha tôi dạy luân lý cho tôi, đánh đập tôi, bắt tôi chép những câu cách ngôn; nhưng bản thân ông lại ăn trộm gỗ của láng giềng trước mắt tôi và còn bắt tôi giúp sức nữa. Ông ta đã gây ra trước mắt tôi một vụ kiện bất công, bất chính và quyến rũ một người con gái mồ côi mà ông ta là người đỡ đầu. Gương xấu đã thắng những lời răn dạy. Afanaxi Vaxiliêvits ạ, tôi thấy, tôi biết rằng tôi đang sống một cuộc đời bậy bạ; nhưng thói xấu không làm cho tôi ghê tởm. Bản tính tôi đã thành đê tiện; tôi không thấy yêu thích điều thiện, không có cái khuynh hướng kỳ diệu muốn làm những việc nhân đức; nó thường trở thành một bản tính thứ hai, một tập quán… Tôi nói thật như vậy. Biết làm thế nào!
Ông già buông một tiếng thở dài nặng trĩu.
- Paven Ivannôvits, ông có bao nhiêu là nghị lực, bao nhiêu là kiên nhẫn! Phương thuốc này đắng thật, nhưng có người bệnh nào lại không chịu uống, khi biết rằng đây là cách duy nhất có thể chữa khỏi bệnh. Nếu ông không thấy yêu điều thiện, cũng hãy cứ làm việc thiện một cách miễn cưỡng đi. Như vậy, ông sẽ có công hơn người làm việc thiện vì yêu thích. Ông hãy tự bắt buộc vài lần rồi lòng yêu thích sẽ đến. Thiên đường phải chinh phục bằng bạo lực -Lời trong Kinh Thánh-, chỉ có dùng sức mạnh mới vào được vương quốc của Chúa. Thế nào, Paven Ivannôvits, ông có cái sức mạnh mà bao nhiêu người khác không có, cái chí kiên nhẫn không gì thắng nổi ấy, mà ông vẫn không làm được hay sao? Tôi tin rằng ông có bản chất của người anh hùng. Vì ngày nay mọi người đều nhu nhược, không có chí khí.
Những lời ấy như đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn Tsitsikôp và làm rung lên một sợi tơ đồng tham vọng trong lòng y. Cái gì như thể một ánh quyết tâm long lanh trong mắt y.
- Afanaxi Vaxiliêvits! - Y nói, giọng rắn rỏi - miễn là ông tìm cách cho tôi được tha và đi khỏi nơi này với một số tiền này đó thì xin thề với ông là tôi sẽ bắt đầu một cuộc đời mới. Tôi sẽ mua một cái ấp; tôi sẽ làm nghề nông; tôi sẽ thu nhặt tiền của không phải cho tôi, mà để giúp đỡ kẻ khác trong chừng mực mà sức tôi có thể làm được; tôi sẽ tự quên mình; tôi sẽ quên những cuộc truy hoan ở thành thị, tôi sẽ sống một cuộc đời giản dị, điều độ.
- Cầu Chúa phù hộ cho ông giữ vững ý định ấy! Ông già nói, lòng vui mừng khôn xiết. Tôi sẽ hết sức xin công tước tha ông. Không biết có xin được hay không; dù sao, ông cũng sẽ được đối xử khoan hồng hơn. Ông cho phép tôi hôn ông. Vì ông đã đem đến cho tôi một niềm vui lớn. Cầu Chúa phù hộ cho ông! Tôi đến gặp công tước đây.
Tsitsikôp ngồi lại một mình.
Cả con người y xao xuyến, bồi hồi, rồi tâm hồn y dịu lại. Ngay đến bạch kim là kim loại ít sợ lửa nhất, cũng phải chảy ra khi ngọn lửa trong lò to lên. Nếu thổi to ngọn lửa làm cho độ nóng không thể chịu được nữa, thì chất kim loại kiên gan kia sẽ trắng ra và chảy thành nước; con người rắn rỏi nhất cũng vậy, cũng tan đi trong lò lửa của hoạn nạn, khi hoạn nạn tăng lên, và như một ngọn lửa vô địch, tấn công cái bản chất đã chai sạn của hắn…
“Mình thì không biết và không cảm thấy điều thiện, nhưng mình sẽ đem hết sức làm cho người khác cảm thấy. Mình xấu xa và không xứng đáng; nhưng mình sẽ dùng hết sức để làm cho người khác tránh điều xấu. Mình là một con chiên ghẻ; nhưng mình sẽ cố gắng cho khỏi gây nên tai tiếng ô nhục. Mình sẽ làm lụng, sẽ đổ mồ hôi nước mắt, mình sẽ làm ăn lương thiện để có ảnh hưởng tốt đối với kẻ khác! Quả tình có thể nói là mình đã thành người hoàn toàn vô dụng! Nghề nông làm cho mình thích, mình có những đức tính cần kiệm, tháo vát, biết lo xa, cả tính nhẫn nại nữa. Chỉ cần có quyết tâm là được…”.
Tsitsikôp suy nghĩ như vậy. Những khả năng tinh thần của y như bừng tỉnh, tự nhận thức được bản thân. Do một bản năng mơ hồ, trong thâm tâm y dường như đã bắt đầu hiểu rằng có một bổn phận mà con người phải làm và có thể làm trọn ở bất cứ nơi nào trên trái đất; bất chấp những hoàn cảnh, những nhiễu loạn, những khó khăn quanh mình. Và đời sống cần cù, xa tiếng ồn ào của thành thị, xa những sự cám dỗ mà con người đã phát minh ra trong cảnh nhàn cư, sao nhãng công việc; đời sống đó bắt đầu hiện lên trước mắt y rõ nét đến nỗi y gần quên hết vị đắng cay của cảnh ngộ mình. Có lẽ y còn sẵn sàng tạ ơn Thượng đế về cái vố nặng nề này, miễn là người ta thả y ra và hoàn lại cho y ít nhất là một phần…
Nhưng cánh cửa của gian hầm bẩn thỉu mở ra, và một viên chức bước vào. Đó là Xamôxvixtôp, một người theo chủ nghĩa hưởng lạc, trai tráng, vai rộng, chân cẳng lực lưỡng, rất tốt với bạn bè, ăn chơi vong mạng “một con vật tinh khôn ranh ma”, như chính các bạn đồng liêu của hắn thường gọi. Giá phải thời chiến tranh, con người đó hẳn đã lập được lắm kỳ công; vạch một lối đi qua những nơi hiểm nghèo không ai qua được, đánh thó một khẩu đại bác ngay trước mũi quân địch; đó chắc phải là những chiến công, xứng đáng với hắn. Nhưng nếu trong sự nghiệp kiếm cung, hắn có thể thành một người lương thiện; thì trong cuộc đời văn quan hắn lại phạm đủ mọi tội lỗi xấu xa. Hắn có những nguyên tắc thật lạ lùng: hắn cư xử rất phải lẽ với bạn bè, không bao giờ phản bội ai và bao giờ cũng giữ lời hứa với mọi người; nhưng hắn coi các quan trên như một vị trí pháo binh của địch mà hắn phải chọc thủng bằng cách lợi dụng mọi nhược điểm, mọi khe hở, mọi sơ xuất.
- Chúng tôi biết rõ tình cảnh ông, chúng tôi biết hết, hắn nói sau khi thấy cánh cửa đóng chặt lại sau lưng. Ông đừng sợ, mọi việc sẽ ổn thỏa. Cả bọn chúng tôi đều làm việc cho ông, phụng sự ông rất trung thành. Ba vạn rúp cho cả bọn; không lấy hơn một xu.
- Thật chứ? Tsitsikôp kêu lên. Và tôi sẽ được thanh minh hoàn toàn chứ?
- Hoàn toàn! Và còn được bồi thường nữa.
- Và để đền công… ông lấy bao nhiêu?
- Ba vạn rúp. Đủ phần mọi người: bọn chúng tôi, bọn thuộc lại của tổng trấn và viên thư ký nữa.
- Nhưng, xin lỗi ông, tôi làm thế nào mà…? Bao nhiêu đồ đạc của tôi… cái tráp… tất cả đều đã bị niêm phong và bị canh giữ cẩn mật rồi.
- Nội một giờ nữa, ông sẽ có tất. Thế nào, bằng lòng chứ?
Tsitsikôp bằng lòng. Trống ngực y đập mạnh; Y không tin là có thể như thế được.
- Thôi hãy tạm chia tay! Ông bạn chung của chúng ta có nhờ tôi dặn ông yên tâm và tĩnh trí.
- “Hừm! Tsitsikôp nghĩ thầm, biết mà, nhà cố vấn pháp luật của mình đang ra tay đấy!”
Xamôxvixtôp ra. Tsitsikôp ngồi lại một mình, vẫn chưa dám tin câu chuyện vừa rồi là thật; nhưng chưa đầy một giờ, đã có người mang cái tráp vào, giấy má, tiền bạc, tất cả đều hoàn toàn ngăn nắp. Số là Xamôxvixtôp đã đến nhà trọ của Tsitsikôp, quở mắng bọn lính canh là thiếu cẩn mật, ra lệnh cho viên giám thị về lấy thêm lính để tăng cường canh phòng, rồi cướp lấy cái tráp và cả những giấy tờ có thể có hại cho Tsitsikôp, hắn gói thành một bọc, niêm phong lại và ra lệnh cho một người lính đưa ngay vào cho phạm nhân, nói rằng đó là những đồ cần dùng ban đêm; thành thử ngoài giấy tờ ra, Tsitsikôp còn nhận được đủ thứ cần thiết để che đắp tấm thân khả diệt của mình. Thấy công việc tiến hành mau lẹ như vậy, Paven Ivannôvits vui mừng khôn xiết. Y chứa chan hy vọng và lại bắt đầu mơ đến những cảnh hoan lạc: một tối xem kịch ở nhà hát, một vũ nữ mà y ve vãn. Thôn quê với cảnh tĩnh mịch mờ nhạt dần; chốn phồn hoa với cảnh náo nhiệt lại chói lọi như xưa… Ôi, đời là thế!
Trong khi đó thì ở các tòa án, ở khắp các công sở, vụ Tsitsikôp đã bành trướng đến những quy mô không thể tưởng tượng được. Bút của bọn ký lục kêu kèn kẹt, thuốc lá hít hết mớ này đến mớ khác, và những đầu óc tinh vi cặm cụi làm việc. Như những nghệ sĩ, bọn thư lại thưởng thức tất cả những câu văn hay ho, những đoạn văn tràng giang đại hải, cứ kế tiếp nhau tuôn ra, bôi đen không biết bao nhiêu là giấy. Viên cố vấn pháp luật nọ, như một đám mây vô hình, điều khiển toàn thể bộ máy; hắn làm cho mọi người rối tinh lên trước khi người ta kịp nhận ra phương hướng. Cảnh hỗn loạn tăng lên. Xamôxvixtôp vượt hẳn lên quá sức mình, bằng một hành động táo tợn chưa từng thấy. Biết được chỗ giam giữ người đàn bà bị bắt, hắn đến tận nơi, đi thẳng vào, vẻ oai vệ đến nỗi lính canh phải đứng nghiêm, bồng súng chào.
- Mày ở đây lâu chưa?
- Thưa Quan lớn, từ sáng ạ.
- Sắp đổi gác chưa?
- Thưa Quan lớn, còn ba tiếng nữa ạ.
- Ta có việc cần đến mày. Ta sẽ bảo viên sĩ quan cho người khác đến thay.
- Thưa Quan lớn, xin tuân lệnh ạ.
Về đến nhà, không để chậm một phút, và cốt không cho ai dính líu vào việc này, hắn cải trang thành một viên sen đầm, đeo vào cả ria mép và râu má xồm xoàm; đến quỷ Xa tăng cũng không nhận ra được nữa. Xong, hắn cứ thế đến nhà trọ của Tsitsikôp, bắt ngay lấy người đàn bà đầu tiên gặp ở đấy và giao cho hai gã viên chức, cũng cỡ như hắn giữ; sau đó hắn cầm súng đến gặp tên lính canh, theo đúng quy chế.
- Đi đi, quan chỉ huy sai tôi đến gác thay anh.
Hắn thay chân tên lính gác. Chỉ cần có thế. Trong lúc đó, người ta đánh tráo mụ đàn bà bị giam với mụ mới bị bắt, chẳng hay biết tí gì về vụ này cả. Mụ kia được đem giấu kín đến nỗi về sau chẳng ai biết mụ ta ra sao.
Trong khi Xamôxvixtôp trổ tài trong bộ áo sen đầm, thì vị cố vấn pháp luật làm những việc thần diệu bên phía văn quan. Hắn đánh tiếng cho quan tỉnh trưởng biết rằng quan chưởng lý có gửi báo cáo tố giác ông ta lên Pêterbua; hắn lại làm như vậy với một viên chức của sở cảnh sát, lần này thì kẻ tố giác lại là một viên chức khác đang bí mật cư trú trong thành phố. Người này lại được báo tin là có một viên chức khác bí mật hơn, đang do thám mình. Hắn làm cho họ cuống cuồng lên, đến nỗi ai nấy đều phải tìm đến hắn, nhờ làm quân sư. Tình trạng hỗn loạn đến cực điểm: những kẻ tố giác thi nhau xuất hiện, người ta phát giác ra những việc chưa từng ai hay biết; thậm chí cả những việc không hề có nữa. Chẳng còn có phương tiện nào là không được dùng đến: nào người này là con hoang, nào người kia có tình nhân, nào bà nọ có chồng mà theo ve vãn một nhân vật nào đấy. Thôi thì những chuyện nhơ nhuốc, những việc phát giác này nọ được pha trộn vào vụ Tsitsikôp và những linh hồn chết một cách khéo đến nỗi rút cục không ai tài nào biết được việc nào là việc quái gở nhất; việc nào cũng đều có vẻ quan trọng như nhau cả.
Cuối cùng, khi các giấy tờ đến tay quan tổng trấn, thì vị công tước đáng thương ấy không còn biết đằng nào mà lần nữa. Một quan chức khá thông minh và thạo việc được giao cho làm bản tóm tắt, đã suýt phát điên lên vì việc này. Bấy giờ công tước lại đang bận tâm về một mớ việc khác, việc nào cũng khó chịu chẳng kém việc nào. Nạn đói đang hoành hành trong một phần tỉnh này. Những phái viên được cử đi phát lúa mì không làm đúng luật lệ. Ở một vùng khác, những dân ly giáo -Phong trào ly giáo (raxkol) là một phong trào tôn giáo xã hội ở Nga, chống lại giáo hội chính thống. Chủ trương bảo tồn những quy tắc giáo hội cũ- rục rịch nổi dậy. Có người phao tin trong đám dân này là Quỷ sứ Phản Cơ đốc -Theo Kinh Thánh. Phản Cơ đốc là kẻ thù của Chúa Cơ đốc, xuất hiện trên trần gian trước ngày tận thế- đã hiện ra và đến người chết hắn cũng không để yên, vì hắn đi mua bán những linh hồn chết. Họ vừa sám hối về những tội lỗi đã phạm, lại vừa phạm thêm những tội lỗi mới, và lấy cớ là lùng bắt Quỷ sứ Phản Cơ đốc, họ tàn sát dân lành. Ở một nơi khác, nông dân nổi lên chống trang chủ và chống các quận trưởng cảnh sát. Có những quân du đãng phao tin rằng đã đến lúc dân mujik biến thành trang chủ và mặc áo frac, còn trang chủ thì mặc áo caftan và thành ra mujik; thế là cả một tổng, quên mất rằng nếu thật vậy thì trang chủ và cảnh sát trưởng sẽ nhiều vô số, bèn không chịu nộp thuế. Đã phải dùng đến những biện pháp quyết liệt.
Vị công tước đáng thương rất bực tức. Vừa lúc ấy, có người báo Murazôp đến.
- Mời ông ta vào! Công tước nói.
Ông già bước vào.
- Nào, ông đã thấy cái thằng Tsitsikôp của ông chưa! Ông bênh hắn, ông bảo vệ hắn; thế là bây giờ hắn mắc vào một vụ mà đến một tên trộm cướp hạng bét cũng không dám làm liều.
- Thưa Đại nhân, xin phép cho tôi nói rằng tôi không được hiểu vụ này cho lắm.
- Một vụ làm giả chúc thư. Mà trong hoàn cảnh như thế nào!... Đúng ra hắn phải phạt roi ở nơi công cộng.
- Thưa Đại nhân, tôi không dám có ý bênh Tsitsikôp; nhưng dù sao cũng chưa có đủ bằng chứng; cuộc điều tra chưa kết thúc.
- Một bằng chứng đây: con mụ đàn bà giả chữ ký của người chết đã bị bắt. Tôi muốn hỏi cung nó ngay trước mặt ông, để ông rõ.
Công tước giật chuông và ra lệnh đưa mụ đàn bà đến. Murazôp lặng thinh.
- Một vụ hết sức bỉ ổi! Và xấu hổ cho họ là những quan chức cao cấp nhất trong thành phố đều liên lụy, cả viên tỉnh trưởng cũng thế. Lẽ ra ông ta đừng nhập bọn với quân trộm cắp, bịp bợm mới phải chứ! Công tước nói, rất bực tức.
- Quan tỉnh trưởng được dự phần gia tài, ông ta có quyền đòi hỏi; còn như những người khác mà xúm xít vào cái gia tài này, thì cũng là thường tình thôi. Thưa Đại nhân, một người giàu có chết đi mà di chúc để lại những điều không công bằng và phải lẽ, thì những kẻ hám lợi khắp nơi kéo đến dây máu ăn phần: bản tính người ta vốn dĩ như vậy.
- Nhưng tại sao lại làm những việc đê tiện đến thế?… Quân vô lại! Công tước tức giận quát lên. Tôi không có được lấy một viên chức tốt. Toàn là những quân khốn nạn!
- Thưa Đại nhân, chúng ta ai là người không có tội? Tất cả quan lại trong tỉnh đều là những người có tài, nhiều người rất có năng lực; nhưng con người ta dễ sa ngã lắm.
- Ông Afanaxi Vaxiliêvits ạ, ông là người lương thiện độc nhất mà tôi được biết. Sao ông lại khăng khăng bênh bọn vô lại như vậy?
- Thưa Đại nhân - Murazôp nói - dù người mà ngài gọi là vô lại là ai chăng nữa, thì đó vẫn là một con người. Làm sao lại có thể không bênh vực một sinh linh mà ta biết là một nửa lỗi lầm mà nó phạm phải, là chỉ vì thô lỗ và dốt nát. Chúng ta, lúc nào mà chẳng phạm những điều bất công và luôn luôn cho kẻ khác khốn đốn, dù là không có ác ý. Chính Đại nhân cũng đã làm một việc rất bất công.
- Thế nào! Công tước kêu lên, kinh ngạc vì thấy câu chuyện xoay sang một hướng bất ngờ như vậy.
Murazôp ngừng một lát như để suy nghĩ, rồi nói:
- Cứ thử lấy vụ Derpennikôp chẳng hạn.
- Ông Afanaxi Vaxiliêvits! Một tội ác vi phạm những luật lệ cơ bản của Nhà nước cũng chẳng khác gì tội phản quốc!
- Tôi không có ý muốn thanh minh cho anh ta. Nhưng thử hỏi một thanh niên không chút kinh nghiệm ở đời, bị những kẻ khác cám dỗ và lôi cuốn như vậy, mà cũng kết án nghiêm khắc như một kẻ cầm đầu; thử hỏi như thế có công bằng không? Vì Derpennikôp phải chịu chung số phận với Vôrônôp; nhưng tội của họ có giống nhau đâu!
- Vì Chúa…, công tước nói, vẻ xúc động rõ rệt. Ông có biết gì về việc này, ông cho tôi rõ. Vừa rồi tôi có viết thư lên Pêterbua xin giảm hình cho hắn.
- Thưa Đại nhân, không phải đâu. Tôi nói đây không phải vì tôi có biết những điều mà ngài không biết. Tuy vậy, có một việc có thể làm cho anh ta được giảm tội; nhưng chính anh ta cũng không muốn nói ra, sợ có hại cho một người khác. Tôi chỉ dám nghĩ rằng có lẽ dạo ấy, ngài hành động quá vội. Xin Đại nhân bỏ quá cho; tôi cứ theo cái trí khôn kém cỏi của tôi mà phán đoán; và ngài đã nhiều lần ra lệnh cho tôi phải nói thật. Tôi đã từng có nhiều thủ hạ, người thuộc đủ các hạng, tốt có, xấu có. Bao giờ cũng phải xét kỹ dĩ vãng của một con người; vì nếu không xét mọi việc một cách tỉnh táo, chưa chi đã quát mắng ngay; thì chỉ làm cho nó hoảng sợ mà thôi, không thu được những lời thú nhận thành thật. Nhưng nếu hỏi nó với sự thông cảm, như một người anh, thì chính nó lại thú nhận hết và không xin khoan hồng; nó sẽ không thù oán ai hết, vì nó thấy rõ là không phải con người, mà chính là pháp luật trừng trị nó.
Công tước suy nghĩ. Vừa lúc ấy, một viên chức trẻ tuổi bước vào và kính cẩn dừng lại, tay cầm cái cặp. Vẻ bận rộn và chăm chỉ lộ rõ trên gương mặt trẻ măng của anh ta. Có thể thấy rõ là không phải vô cớ mà người ta dùng người này vào những công cán đặc biệt. Anh ta thuộc vào cái số hiếm hoi những người vẫn nghiên cứu hồ sơ con amore. Không hề biết ham danh, tham của, không hề muốn bắt chước ai; anh ta làm việc chỉ vì tin chắc rằng mình phải ở nơi này, chứ không phải ở đâu khác; rằng mình sinh ra là để làm việc này. Theo dõi một vụ án phức tạp, phân tích, tìm ra manh mối; công việc chuyên môn của anh ta là như vậy. Miễn là vụ án rốt cục được đưa ra ánh sáng, những nguyên nhân bí ẩn của nó được phát hiện, miễn là anh thấy mình có thể trình bày nó ra ngắn gọn mà rõ ràng để cho mọi người có thể hiểu được; là công lao khó nhọc của anh ta, những cố gắng của anh ta, những đêm thức suốt sáng của anh ta được đền bù xứng đáng. Có thể nói rằng nỗi vui mừng của một cậu học trò sau khi giải thích được một câu văn khó và tìm ra được ý nghĩa thật của tư tưởng một đại văn hào, cũng có kèm niềm vui của anh ta, khi lần ra được manh mối một vụ án phức tạp. Ngược lại… -Ở đây bản thảo lại mất. Đoạn dưới bắt đầu ở một trang khác; phần đầu câu bị mất-
… -… lúa mì đến nơi đang có nạn đói; tôi biết rõ vùng này hơn các viên chức: tôi sẽ tự mình điều tra xem người ta cần cái gì. Và nếu Đại nhân cho phép, tôi sẽ nói chuyện với dân ly giáo. Họ sẵn sàng nói chuyện với những người bình thường. Biết đâu tôi chẳng có thể góp phần dàn xếp được việc này. Các viên chức của ngài không làm được đâu; họ mà bắt tay vào thì sẽ phải giấy đi tờ lại, và họ sẽ ngập đầu trong đống giấy tờ đến nỗi chẳng còn thấy được việc gì nữa. Tôi sẽ không xin ngài tiền, vì trong khi người ta đang chết đói mà mình lại nghĩ đến tư lợi thì thật là xấu hổ. Tôi có ít lúa mì dự trữ, tôi lại đã cho lấy thêm ở Xibia về để dùng mùa hè sang năm.
- Chỉ có Chúa mới có thể đền công được cho ông vì một việc như thế, Afanaxi Vaxiliêvits ạ. Tôi chẳng biết nói gì với ông, vì ông cũng hiểu rằng trong những trường hợp như thế này thì lời nói hoàn toàn bất lực. Nhưng ông cho phép tôi nói một câu về lời thỉnh cầu của ông. Liệu tôi có quyền dìm việc này đi không, và nếu tôi dung thứ cho bọn vô lại này thì về phía tôi có công bằng, có trung thực không?
- Thưa Đại nhân, thực tình không thể nói như thế được; huống chi trong bọn họ có nhiều người tốt. Có những tình thế rất khó xử; đôi khi có kẻ tưởng chừng như có tội mười mươi, nhưng xét kỹ lại thấy là không phải.
- Nhưng họ sẽ nói gì nếu tôi nhắm mắt làm ngơ? Vì về sau, trong bọn họ sẽ có những kẻ cất đầu lên và thậm chí còn nói rằng tôi sợ họ. Những kẻ đó sẽ là những kẻ đầu tiên khinh nhờn…
- Thưa Đại nhân, tôi xin phép được trình bày thiển ý; xin Đại nhân hãy triệu tất cả lại, nói cho họ rõ là ngài đã biết hết mọi việc và trình bày cho họ thấy tình cảnh của ngài như ngài vừa cho tôi được biết, rồi hỏi xem ý họ thế nào: giá ở địa vị ngài, thì mỗi người trong bọn họ sẽ xử trí ra sao?
- Ông cho rằng họ có thể nghe theo một cảm xúc cao thượng hơn là âm mưu, vơ vét cho đầy túi hay sao? Tôi dám chắc là họ sẽ nhạo tôi.
- Thưa Đại nhân, tôi thì không nghĩ như vậy. Con người, dù là hư hỏng, vẫn có ý thức về công lý. Ít ra thì người Nga là như vậy, vì đối với người Do Thái…! Không ạ, Đại nhân chẳng có gì phải giấu giếm hết. Xin ngài cứ nói lại đúng như đã nói với tôi. Họ vu cho ngài là hám danh, là kiêu ngạo, là quá tự phụ, không thèm nghe phải trái gì cả; ngài hãy cho họ thấy rõ sự thực. Chính nghĩa ở phía ngài. Ngài hãy nói với họ như thể ngài đang xưng tội, không phải trước mặt họ, mà trước mặt Chúa.
- Ông Afanaxi Vaxiliêvits ạ, công tước nói, vẻ suy nghĩ. Tôi sẽ nghĩ kỹ việc này; dù sao cũng xin cảm ơn ông đã khuyên tôi.
- Còn Tsitsikôp, thì xin Đại nhân cho thả ra.
- Ông hãy bảo cái thằng Tsitsikôp ấy là phải cuốn xéo tức khắc khỏi chốn này và cút đi đâu càng xa càng tốt. Ông mà không can thiệp thì tôi không đời nào đi tha cho nó.
Murazôp nghiêng mình lĩnh ý và lập tức vào gặp Tsitsikôp. Ông ta thấy y đang vui vẻ và ung dung ngồi trước một bữa ăn tuyệt ngon đặt ở một khách sạn khá sang và được người bưng vào trong một bộ cặp lồng sứ. Trao đổi qua mấy câu, ông già nhận thấy rằng Tsitsikôp đã nói chuyện với một trong những viên chức láu lỉnh nọ. Ông ta lại còn thấy rõ được cả sự can thiệp bí mật của viên cố vấn pháp luật quỷ quyệt.
- Ông Paven Ivannôvits ạ, Murazôp nói, tôi đem lại tự do cho ông đây; nhưng với điều kiện là ông phải rời khỏi thành phố này ngay lập tức khắc. Ông hãy thu xếp hành lý đi, và chúc ông thượng lộ bình an! Ông đừng chậm trễ một phút nào, nếu không sẽ hỏng hết. Tôi biết ở đây có một người đang xúi bẩy ông; nhưng xin nói riêng để ông biết rằng người ta sắp khám phá ra một việc mà khi đã vỡ lở thì không gì có thể cứu vãn được nữa; dĩ nhiên là hắn rất vui lòng kéo được những người khác cùng chết theo hắn; hắn sẽ có phần của hắn… Lúc nãy, khi tôi chia tay với ông thì ông có những ý định khá tốt, tốt hơn là bây giờ. Tôi muốn nói chuyện nghiêm chỉnh với ông. Thật ra, chẳng quý báu gì những của cải mà người ta xâu xé nhau, cướp giật nhau, làm như là có thể bảo đảm được hạnh phúc trên thế gian này mà không cần nghĩ đến kiếp sau. Hãy tin lời tôi, Paven Ivannôvits ạ; khi mà người ta chưa gạt sang một bên tất cả những gì đang làm cho người ta tàn sát nhau trên trái đất, khi mà người ta chưa quan tâm đến hạnh phúc tinh thần thì hạnh phúc vật chất chưa thể nào có được. Rồi sẽ đến những thời kỳ đói kém và nghèo khổ trong toàn dân, cũng như trong từng… Đó là điều hiển nhiên. Ông muốn nói gì thì nói, chứ thể xác vẫn lệ thuộc vào linh hồn. Đừng nghĩ đến những linh hồn chết nữa, hãy nghĩ đến cái linh hồn đang sống của ông; và cầu Chúa phù hộ cho ông trên con đường mới! Ngày mai tôi cũng lên đường. Ông hãy thu xếp nhanh lên! Nếu không, tôi đi rồi thì ông cứ liệu lấy!
Dứt lời, ông già lui ra. Tsitsikôp ngẫm nghĩ. Y lại thấy cuộc đời là quan trọng. “Murazôp nói phải - y tự nhủ - đã đến lúc phải bước vào một con đường khác!”. Một lát sau y ra khỏi tù. Một người lính gác bưng cái tráp cho y… Xêlifan và Pêtruska mừng cuống khi thấy ông chủ được tha.
- Nào thôi, hai cậu - Tsitsikôp bảo họ, giọng khoan dung - thu xếp đồ đạc mà đi thôi.
- Xin tuân lệnh, Paven Ivannôvits ạ, Xêlifan nói. Chắc có thể đi xe trượt được rồi đấy: tuyết xuống đã khá nhiều rồi. Chắc chắn rời khỏi thành phố lúc này là vừa. Con chán ngấy đi rồi, không còn nhìn được nữa.
- Mày đến lão thợ đóng xe bảo đóng giá trượt tuyết vào xe đi, Tsitsikôp nói.
Chính y cũng ra phố, nhưng không muốn đi chào ai cả. Sau khi xảy ra một chuyện như thế, thì chào hỏi cũng phiền; huống hồ trong tỉnh đang đồn đại những tin rất đáng buồn cho Tsitsikôp. Y tránh mặt mọi người và chỉ lén vào cửa hiệu của lão nhà buôn đã bán cho y tấm dạ trứ danh màu huyết dụ lửa khói. Y lại hỏi mua bốn arsin và đem đến hiệu thợ may cũ. Với tiền công gấp đôi, gã chủ hiệu may bằng lòng nỗ lực gấp đôi và bắt thợ thắp nến làm suốt đêm; kim chỉ, kéo, bàn là, mọi thứ đều nhộn nhịp và sáng hôm sau thì chiếc frac may xong, dù có hơi muộn, vì ngựa đã thắng xong rồi. Tuy vậy, Tsitsikôp cũng đưa ra mặc thử. Bộ áo may vừa sít, như bộ trước. Nhưng hỡi ôi, y nhận thấy một vệt trắng bóng trên đầu và buồn bã thốt lên rằng: “Tại sao ta lại buông mình vào một cơn tuyệt vọng gớm ghê đến như vậy? Ta lại càng không nên bứt tóc đi như thế!”.
Trả công thợ may xong, y lên đường với một tâm trạng lạ lùng. Đây không còn là Tsitsikôp trước kia nữa; đây dường như chỉ còn là cái đống hoang tàn của y mà thôi. Có thể ví tâm trạng y với một ngôi nhà đã tháo rời ra, vật liệu dành để xây một ngôi nhà khác chưa khởi công; vì kiến trúc sư chưa gửi quy hoạch đến và thợ chẳng biết làm gì.
Trước đấy một giờ, ông già Murazôp vừa lên đường với Patapưts, đi một chiếc xe nhỏ bằng nan miên liễu; và sau đấy một giờ, công tước cho báo với tất cả các quan lại rằng ngài sắp đi Pêterbua, muốn gặp họ trước khi lên đường.
Tụ tập trong gian phòng lớn, cả tập đoàn quan lại - từ tỉnh trưởng cho đến tư vấn thực thụ -Hàm quan văn bậc thứ chín tương đương với đại úy bên quan võ-, trưởng phòng, tư vấn, trợ tá; đủ các thứ Kixlôiêđôp, Kraxnônôxôp, Xamôxvixtôp; từ kẻ ăn hối lộ cho chí người thanh liêm; kẻ mà lương tâm đã ít nhiều hoen ố cũng như người không có gì phải tự chê trách - đều đứng đợi quan tổng trấn, trong lòng không khỏi lo lắng. Công tước bước ra, vẻ mặt kín như bưng, khóe mắt cũng rắn rỏi như dáng đi. Mọi người cúi chào. Nhiều người rạp xuống gần sáp đất.
Khẽ nghiêng đầu đáp lễ, rồi công tước bắt đầu nói:
- Vì phải lên Pêterbua, tôi thấy cần gặp tất cả các ông và hơn nữa cần nói rõ để mọi người biết một phần lý do chuyến đi này. Ở đây vừa xảy ra một việc hết sức nhơ nhuốc. Tôi chắc trong các ông, nhiều người biết là việc gì. Việc này lại lôi ra ánh sáng một số việc khác không kém phần ô nhục, liên can đến những người mà trước đây tôi vẫn tưởng là lương thiện. Tôi lại còn biết rằng người ta có ý định làm rối tung lên, để cho nhà chức trách không thể tiến hành điều tra bằng những con đường hợp pháp. Tôi cũng biết thủ phạm chính, và biết hắn nấp sau lưng ai… tuy hắn đã che giấu sự tham gia của hắn một cách khá khéo léo. Sự thật là tôi không có ý định dùng thủ tục thông thường; mà phải dùng đến cách xét xử nhanh chóng của tòa án binh, như trong thời chiến; tôi hy vọng rằng Hoàng thượng sẽ cho tôi được quyền làm như vậy, sau khi tôi đã trình bày để Ngài rõ hết vụ này. Khi mà tòa án dân sự đã bất lực, khi mà các hồ sơ đã bị tiêu hủy cùng một lúc với tủ đựng, khi mà người ta cố dùng một loạt ngụy chứng và tố giác dối trá gửi đến tới tấp để làm mờ ám thêm một vụ vốn đã mờ ám; thì tôi cho rằng tòa án binh là phương tiện duy nhất để chấm dứt tình trạng này. Tôi mong được biết ý kiến mọi người về việc đó.
Công tước ngừng lại như để chờ một câu trả lời. Mọi người đều đứng yên, mắt nhìn xuống đất. Nhiều người mặt tái mét.
- Tôi còn biết một vụ nữa, tuy những kẻ đương sự đinh ninh rằng không ai biết đến cả. Vụ này sẽ không tiến hành thẩm vấn theo thủ tục thông thường, vì chính tôi sẽ đứng ra làm nguyên cáo và sẽ trình bày những bằng chứng cần thiết.
Trong đám viên chức có người giật mình, những kẻ nhát gan nhất đâm ra luống cuống.
- Lẽ dĩ nhiên những kẻ tội nặng nhất sẽ bị lột phẩm hàm, tịch thu tài sản; những kẻ khác thì cách chức. Tất nhiên sẽ có những kẻ vô tội bị liên lụy. Nhưng làm thế nào được? Vụ này quá nhơ nhuốc và đòi hỏi công lý xét xử. Tuy tôi biết rằng như thế cũng chẳng răn được những kẻ khác, - vì những kẻ sẽ thay bọn họ, cũng như những kẻ xưa nay vẫn lương thiện, rồi sẽ thành bất lương, sẽ lừa đảo và sẽ bị mua chuộc; tuy vẫn được người trên tin cậy - nhưng dù sao tôi cũng phải hành động nghiêm khắc,vì công lý đòi phải xét xử. Tôi biết người ta sẽ trách tôi là tàn nhẫn; nhưng mọi người đều chỉ nên coi tôi là công cụ vô tri vô giác của công lý, là chiếc rìu phải bổ xuống một cái đầu.
Công tước rất điềm tĩnh. Gương mặt ngài không lộ vẻ gì tức giận hay bất bình.
- Bây giờ, chính người đang nắm trong tay vận mệnh của nhiều người trong số các ông, người mà chưa có một lời van xin nào lay chuyển được; chính người ấy đang van xin tất cả các ông nói lên. Mọi việc sẽ được quên đi, sẽ được xóa bỏ; tôi sẽ đứng ra bênh vực các ông, nếu các ông đáp lại lời cầu xin của tôi. Lời cầu xin đó như sau… Tôi biết rằng không có gì, dù là sợ hãi, dù là hình phạt, có thể tiêu diệt được sự bất công trên trái đất: gốc rễ nó đã quá sâu rồi. Các hành vi bất lương là ăn hối lộ đã thành ra một việc tất yếu và một nhu cầu, ngay cả đối với những người không phải sinh ra để làm việc ấy. Tôi biết rằng đối với nhiều người, chống lại dòng nước là một việc hầu như không thể làm được. Nhưng giờ đây, cũng như vào giờ phút quyết liệt và thiêng liêng mà vấn đề đặt ra là phải cứu lấy tổ quốc, giờ phút mà mỗi người dân đều chịu đựng và hy sinh tất cả; tôi phải kêu gọi, dù chỉ là kêu gọi những kẻ hãy còn quả tim của một người Nga trong lồng ngực và ít nhiều hiểu được mấy chữ tâm hồn cao thượng.

Việc gì phải tự hỏi trong chúng ta ai là kẻ nặng tội nhất? Có lẽ tôi là kẻ nặng tội hơn ai hết; có lẽ lúc mới nhận thức tôi đã đối xử quá nghiêm khắc với các ông, có lẽ tôi đã vì hoài nghi quá mức mà hắt hủi những người đã thành tâm muốn giúp tôi; tuy về phía tôi, tôi cũng có thể làm… Nếu họ thật lòng yêu công lý và thiết tha với lợi ích của tổ quốc thì lẽ ra họ không nên phật lòng vì những thái độ hách dịch của tôi, lẽ ra họ phải ghìm bớt lòng tham và hy sinh tự ái của mình. Và như thế thì chẳng lẽ tôi lại không hiểu lòng trung thực của họ, lòng thiết tha với điều thiện của họ; chẳng lẽ rốt cục tôi lại không nhận được của họ những lời khuyên thông minh và bổ ích. Tuy vậy, kẻ thuộc hạ phải chiều theo tính khí của trưởng quan thì đúng hơn là trưởng quan chiều theo tính khí của kẻ thuộc hạ. Dù sao, thì như vậy cũng hợp lẽ thường hơn; vì những kẻ thuộc hạ chỉ có một trưởng quan, còn trưởng quan thì có hàng trăm thuộc hạ. Nhưng hãy gác sang một bên mức tội nặng nhẹ của mỗi người. Sự thật là chúng ta phải cứu lấy đất nước. Tổ quốc ta đang suy vong, không phải vì hậu quả cuộc xâm lược của hai mươi dân tộc -Người Nga gọi cuộc xâm lược của hoàng đế Pháp Napôlêông năm 1812 là “xâm lược của hai mươi dân tộc”, vì quân của Napôlêông gồm người nhiều nước chư hầu, nói nhiều thứ tiếng khác nhau ở châu Âu- mà chính là vì lỗi của chúng ta; bên cạnh chính phủ hợp pháp, đã hình thành một chính phủ khác, thế lực còn hơn cả pháp luật. Cái gì cũng bị đánh thuế; thậm chí giá ngạch còn được loan báo cho mọi người biết nữa. Và không một trưởng quan nào, dù có khôn ngoan hơn tất cả các nhà lập pháp và các nhà cầm quyền, là có đủ sức tiêu diệt được tệ nạn đó, hay chỉ hạn chế những tác hại của bọn quan lại xấu bằng cách đặt họ dưới quyền kiểm soát của các bạn đồng liêu. Những cách đó sẽ vô hiệu, chừng nào mà mỗi người chúng ta chưa cảm thấy rằng cũng như trong thời nổi dậy của các dân tộc, mình đã cầm vũ khí chống lại… thì bây giờ mình cũng phải tranh đấu với sự bất công như thế. Chính là với tư cách người Nga, cùng một huyết thống với các ông mà tôi nói như vậy. Tôi nói với những người hiểu được thế nào là những tư tưởng cao quý. Tôi xin các ông nhớ lại cái nhiệm vụ mà con người vẫn gặp trên mỗi bước đi của mình. Tôi xin các ông xét kỹ hơn nữa bổn phận của mình, và những nhiệm vụ mà chức vị của các ông trên thế gian buộc các ông phải làm tròn; vì về những nhiệm vụ đó, tất cả chúng ta đều có một khái niệm rất mơ hồ và chúng ta… -Đến đây bản thảo mất hết-.

HẾT
Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965. Lần 2 năm 1993.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 18.04.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 18.04.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 12.04.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 09.04.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.04.2019
Kẻ sỹ thời loạn - Vũ Ngọc Tiến 07.04.2019
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 04.04.2019
Quỷ Vương - Vũ Ngọc Tiến 04.04.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
xem thêm »