tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30516253
Tiểu thuyết
07.12.2019
Vlastimil Podracký
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại

Buổi sáng anh thả con Akéla ra cửa và tiếp tục truy tìm thông tin. Trong các số cuối cùng của các tạp chí quả thật không có cái gì, anh tìm trong các số cũ hơn. Trong tạp chí năm 3029 anh tìm thấy bức ảnh to khu Korpus, tại đó có tên là Gangakorp, nằm trên bờ sông Ganga*. Trông nó cũng như các cái khác, nhưng xung quanh dàn trải một thành phố nhỏ các ngôi nhà. Khu vực này có công viên, có sân quần vợt, sân chơi và có cả chùa đạo Phật và đạo Hinđu chóp vàng. Gangkorp tọa trên cao phía trên sông, có những bậc thang dẫn xuống và bên cạnh sông là bể bơi và các thiết bị khác cho các môn thể thao dưới nước. Tức là một trung tâm nghỉ mát cho mọi lứa tuổi. Những người già ở Korpus có những soba lộng lẫy và người trẻ sống trong các căn hộ với đầy đủ tiện nghi, phục vụ. Ai có thể cưỡng lại cuộc sống như vậy?

Để chuyển đến chỉ cần một điều kiện, không được sử dụng các phương tiện giao thông. Nhưng các phương tiện đó cũng đã hạn chế đi lại, vì nhiên liệu giá đắt. Bogadyr thấy việc tìm kiếm của anh là thừa. Không có gì để tìm cả. Đó không hẳn là cuộc sống ảo mà Korpus mời chào. Chỉ là sự thoải mái. Người ta không phải lao động. Chỉ có một số người, nhất là người già từng sống ở Korpus, việc vận động gây khó khăn cho họ và khi không còn cách giải trí nào khác, mới bắt đầu sống ảo. Mãi đến thế hệ sau mới rơi hẳn vào cuộc sống ảo. Đó là cuộc sống hướng vào sự thoải mái với đầy đủ tất cả, cuộc sống không phải lao động và phải chiến đấu vì cái gì. Những gì mà Bogadyr và những người cùng tầng lớp của anh, những người ở các Korpus khắp nơi trên thế giới trải qua. Họ là những người cuối cùng là vì họ ở Korpus cuối cùng, nơi tập trung những người cuối cùng còn sống. Bogadyr nhận thấy tiếp tục nghiên cứu là thừa. Anh đang mong sẽ hóa giải được điều bí ẩn cuối cùng – nhóm người còn sống.


Khi đứng từ cửa sổ thư viện nhìn thấy trên đồi một ngôi nhà lớn vượt cao lên khỏi rừng, trông như một lâu đài nào đó hay cái gì tương tự. Nó làm anh chú ý nên quyết định sẽ dành một ngày để tham quan ngôi nhà này. Bỗng nhiên anh không muốn đến với những người còn sống. Anh e ngại họ trong tiềm thức. Tại thư viện, anh gói ghém đồ đạc của mình, để cửa mở cho bầy khỉ có thể quay về rồi lên đường tới đỉnh đồi. Có thể anh sẽ tìm thấy cái tháp hay cái gì đó tương tự để có thể nhìn bao quát phong cảnh.


 


Khi đến được ngôi nhà trên đồi, anh nhận thấy phong cách ngôi nhà khác hơn so với các ngôi nhà khác trong thành phố. Dứt khoát nó lâu đời hơn. Ngôi nhà được bao quanh bởi khoảnh sân rộng rãi, giờ bị cây trăm tuổi mọc lên. Sàn lát chỉ còn nguyên vẹn ở vài nơi, những miếng gạch lát bị rễ cây đội lên.


Từ một góc, qua lan can bằng đá có thể nhìn xuống khu vực. Phía dưới là thành phố và khu rừng xa tít tắp. Anh không thấy ruộng đồng đâu cả, chắc đã nhìn sai hướng. Nhưng các hướng khác lại không thể nhìn thấy được từ khu vườn này. Anh để ý thấy đám mây đen trên bầu trời. Lần này không phải là dãy núi, mà thực sự là mây. Cơn mưa gió mùa sắp đến. Không được chậm trễ, vì vậy không ngần ngừ lâu, anh tiến đến ngôi nhà, tìm thấy cửa ra vào lớn và dùng rìu phá cửa. Anh bước vào căn phòng rộng lớn, có lẽ là phòng công cộng nào đó. Trên tường treo những bức tranh khổng lồ. Đó là những bức tranh rất cũ, có lẽ từ thiên niên kỷ thứ hai. Trên đó các phong cảnh và con người ăn mặc lạ lùng, phần lớn hoặc đứng hoặc ngồi. Một số người đeo những thanh đao to kề bên, những người khác ngồi trên lưng ngựa. Trên một bức tranh là cuộc chiến, người ngồi trên lưng ngựa nắm trong tay những thanh kiếm dài hoặc đinh ba. Bogadyr tìm tiêu đề mà anh có thể hiểu được, rồi cũng tìm thấy. Nó ở phía dưới ảnh một người phụ nữ, ăn mặc nghèo nàn hơn so với những người trước đó, phía sau là chiếc máy bay. Ở đó có viết: ”Người sở hữu cuối cùng lâu đài Vazapir, bà Michaela Táhá.” Phía dưới là dòng ký tặng mà bà dành cho lâu đài thành phố Vazapir này. Viết vào năm 2932.


Từ phòng dẫn lên tầng là những bậc thang rộng rãi. Bogadyr thận trọng đặt chân vào những bậc thang cọt kẹt và lên tầng cao hơn, nơi đó là phòng triển lãm. Anh phải cẩn thận vì ở tầng trệt để ý thấy một chỗ trần bị sụt. Triển lãm có ở mấy phòng, nhưng Bogadyr sợ, không đi vào hết các phòng vì sàn có nơi bị sụt lún. Anh chỉ quan sát phòng đầu tiên. Ở đây còn những tủ trưng bày nguyên vẹn. Đó là phần kết thúc triển lãm về mặt thời gian, nói về thời đại cuối cùng. Trong tủ gần nhất cửa ra vào lại nhìn thấy bà Michaela Táhá, lần này anh quan sát kỹ hơn bức ảnh. Trông bà ta có nét Châu Âu nhiều hơn, da trắng, tóc đen. Có lẽ bà lai giữa người Ấn Độ và Châu Âu. Vào thời gian chụp ảnh, bà có thể chưa đến năm mươi. Tủ cuối cùng nói về cuộc đời bà. Còn có mấy cái ảnh của bà kể cả những bức chân dung trẻ con. Triển lãm quan tâm đến cuộc đời phong phú của bà. Chắc bà từng là phi công, bay với máy bay của mình, chuyên thể thao. Hình như bà cũng vài lần gặp tai nạn, nhưng lần nào cũng sống sót. Những trải nghiệm của bà, đúng ra là những thất bại bươn trải, được phân tích tỉ mỉ, làm như điều đó là quan trọng nếu còn sống sót. Điều gì có thể thay đổi trong lịch sử, nếu bà không sống sót trong tai nạn hàng không? Hoàn toàn không có gì cả. Tựu trung chỉ do bà mất sớm hơn vài năm và dòng họ sẽ tiêu vong sớm hơn ngần ấy năm. Thế thì tại sao lại phải tung hô nhiều thế? Có lẽ người của thời ấy luôn quan tâm nhiều hơn những việc mà về phương diện lịch sử chứng tỏ là những việc thứ phụ. Những việc quan trọng thường bị bỏ qua. Thí dụ như người phụ nữ này không có gia đình.


Ở cuối triển lãm đó lại là bức thư đề tặng và giải thích ngắn gọn về số phận tiếp theo của bà. Bà mất năm 2951 trong biệt thự bên bờ sông. Các hậu duệ chắc là không có. Dù rằng không ở đâu nhấn mạnh đến điều đó, nhưng chắc hẳn dòng tộc tiêu vong dần.


Ở tủ trưng bày trước đó là anh chị em bà Michaela. Hai người anh. Một người chết như một tay đua ô-tô và người thứ hai chết sát ngày bà Michaela trao tặng biệt thự cho thành phố. Người này chết như thế nào, không thấy nói đến. Chắc trên giường. Người này khá nhiều tuổi so với bà Michaela. Trong các tủ khác là bố mẹ. Ông da nâu, bà da trắng. Gia đình quý phái đa chủng tộc.


 


Bogadyr nhích đến gần cửa sổ ngó ra ngoài xem có nhìn được xa hơn quanh khu vực không. Cửa sổ vỡ kính và sàn gỗ rung rinh. Trên tường, sàn rêu mốc phát triển. Một góc phòng ẩm ướt và tại đó cây cọ dại Kana mọc lên trên nền nhà, thân cây mảnh dẻ của nó vươn ra ngoài cửa sổ. Những tán lá hình quạt rung rinh trong cơn gió nhẹ. Bogadyr vạch một chiếc lá ngó về phía miền đất. Một lần nữa, anh không thấy gì nhiều. Tầm nhìn bị một cây platan xum xuê mọc trong sân che khuất, chắc ban đầu là để trang điểm cho khu vực trước lâu đài. Anh nhìn lại căn phòng đầy bụi bặm với lớp đất trong góc. “Quý tộc và những người giàu là những người đầu tiên,” anh nhận thấy như vậy. Họ tiêu vong đầu tiên. Bằng cuộc sống của mình, họ báo trước cuộc sống của những người khác và với sự tiêu vong của mình, họ báo trước sự tiêu vong của những người khác. Giải trí, cuộc đời sôi nổi và không gia đình. “Không, Olejda không đúng. Những lời nói của anh ta có mục đích. Loài người không tiêu vong vì cuộc sống ảo.“ Lúc này đây Bogadyr mới ý thức được điều đó. “Con người nhìn chung tiêu vong do chơi bời.” Những ai ưa giải trí kích thích hưng phấn, những người ấy còn chết nhanh hơn.


Còn rớt lại gì từ toàn bộ vinh quang lịch sử? Còn rớt lại gì từ tất cả các cuộc chiến tranh và trận đánh? Nó có ích gì khi không có sự tiếp diễn? Một lâu đài xập xệ và những cây cỏ dại… Bogadyr xuống tầng trệt, lần cuối nhìn vào khuôn mặt những người của thời xa xưa. Những người từng nghĩ rằng họ lao động và chiến đấu vì hậu duệ của mình. Điều đó đã không xảy ra. Con cháu từ chối sống vĩnh cửu.


 


Ngày hôm sau Bogadyr dành cho việc lên kế hoạch cẩn thận con đường tiếp theo. Anh phải đến nơi kết thúc những bức hình của chiếc máy bay trinh sát.


Anh mang theo phần ghi lại của chương trình ngày ấy họ đã phát đi ở Korpus. Thỉnh thoảng anh mở chiếc monitor gấp, xem lại. Ở Vazapir thấy rất rõ. Khi đó chiếc máy bay chỉ bay qua. Anh nhận rõ ngôi chùa với cái chóp vàng và còn định hướng được chiếc máy bay di chuyển tiếp theo hướng nào. Anh phải đi theo hướng đó để đến được ngôi làng của những người cuối cùng. Vật chỉ dẫn là cái góc của một hình ảnh có núi non phía sau. Anh trèo lên mái nhà, đứng theo hướng máy bay đã bay. Đúng, đây là cái hướng đó, anh phải theo hướng này! Anh ghi nhớ các điểm định hướng.


Bogadyr xuống khỏi mái nhà và lao vào việc chuẩn bị lên đường. Lần này anh không quá để ý vào bầy chó, thực ra chúng có thể ở lại đây. Thỉnh thoảng anh sẽ đến thăm chúng. Chúng có thể làm vướng chân khi có người. Vừa sáng sớm anh đã lên đường, con Akéla lại đến với anh. Chuyến đi không còn dài, sẽ không hết một ngày. Từ ngọn đồi nhỏ anh nhận ra ngôi làng, nơi chiếc máy bay bị tấn công và hư hại. Nhà cửa mới, không có cái nào trông có vẻ bị hỏng. Quyết định lần cuối cùng ngủ lại trong thiên nhiên hoang dã, anh dừng lại ở bìa cánh đồng. Cánh đồng bị cỏ dại mọc đầy, nhưng sát với ngôi làng vẫn nhìn thấy ruộng được canh tác. Nó được cày xới, có lẽ đã được gieo hạt gì đó và đang đợi mưa để lên cây xanh với những nông phẩm mới. Khi trời tối,  Bogadyr đi nằm trên chiếc võng, anh xúc động đến mức không thể ngủ được. Cả Akéla cũng cho thấy sự bất an. Thỉnh thoảng nó đứng dậy và đánh hơi, có gì đó làm nó thấy nghi ngờ. Cuối cùng nó ghếch cái mõm lên hai chân trước và nhắm mắt lại. Bogadyr làm theo nó.


Sau giấc ngủ không yên, Bogadyr thức dậy khi mặt trời đã lên cao trên bầu trời. Akéla chạy quanh với cái mõm sát đất và thăm dò, nhưng không muốn rời Bogadyr. Bogadyr để ý thấy từ một ngôi nhà nhỏ có khói bay lên. Rõ ràng rồi. Biết cần phải đi đâu, anh thu dọn đồ và cùng Akéla bên cạnh, lên đường đi thẳng đến nơi có khói. Khi anh đến ngôi làng, Akéla chạy đi theo dấu vết nào đó. Dấu vết dẫn thẳng đến ngôi nhà có khói bay lên, ngoài sân làng. Akéla không phải là con chó được huấn luyện, nó không nghe lời ai, dù Bogadyr ra lệnh cho nó không được vội và bám bên anh. Nó không có tròng cổ để anh có thể dắt. Akéla đứng trước cửa ra vào của ngôi nhà và đánh hơi. Bogadyr không biết phải làm gì để giữ chân nó. Anh không có khái niệm con chó hoang sẽ hành động thế nào khi gặp người lạ. Rồi có ai đó xuất hiện trong khung cửa. Đó là một người đàn ông có tuổi với làn da nhăn nheo, mặc chiếc sơ mi bẩn và chiếc quần rách bươm. Akéla chạy đến chỗ ông ta và bắt đầu lấy lòng, người đàn ông vuốt ve nó. Không lẽ họ quen biết nhau? Cách cư xử của Akéla đối với Bogadyr ngay từ ban đầu đã được định hình bởi những kinh nghiệm tốt với người? Không lẽ lại đúng với người này? Hay nó cư xử như thế này với tất cả mọi người?


 


Bogadyr ở ngôi làng Nemesta ngày thứ ba và biết rằng cư dân duy nhất của làng và người tiếp khách là ông già Nasrim, người đã mệt mỏi vì thể hiện sự hiếu khách. Ông lão rất già. Bên cái bàn, Bogadyr cùng ông thảo luận đủ mọi thứ và con Akéla vui vẻ nằm dưới gậm bàn. Nasrim nói rằng thỉnh thoảng có con chó nào đó trong bầy chó chạy đến ông và ông cho chúng thức ăn thừa. Liệu có phải là Akéla không thì ông không biết, vì đã có nhiều con chó đến đây. Nasrim cho khách thăm những gì ông có. Sữa dê đối với Bogadyr là sự thay đổi ưa chuộng về thực đơn. Và cả bánh mì được nướng từ ngũ cốc. Nhưng ông không thể cung cấp cho Bogadyr những thông tin khiến anh vui mừng. Ông sống ở đây một mình đã mười năm, trước đó ông chôn cất người vợ của mình. Chiếc máy bay cũng do ông đập hỏng, vì Korpus và mọi sự hiện đại là kẻ thù không đội trời chung của ông. Ông né tránh vùng thông tin mà các Korpus phổ biến.


Rồi Bogadyr hỏi ông Nasrim về cuộc đời ông và quá khứ của làng này. Nasrim kể cho anh nghe, rằng khi ông còn bé, ở làng có ít nhất một trăm người. Một số đồng niên với ông đã để thông tin về các Korpus và cuộc sống thoải mái tại đó lôi cuốn. Họ rời làng quê. Mặc dù cha mẹ họ dạy họ niềm tin với tín ngưỡng, nhưng nhiều người chạy theo cuộc sống tốt hơn. Họ không muốn lao động nặng nhọc, sự thoải mái và lợi ích đã chiến thắng. Họ không muốn chỉ sinh đẻ con và sống cuộc sống vất vả. Chỉ còn vài người trung thành.


“Con của ông cũng bỏ ra đi?” Bogadyr hỏi.


“Tôi có đứa con trai. Nó sống cùng tôi ở đây. Nó mất trước đây mười hai năm rồi...”


“Anh ấy không có con à?”


“Nó có vợ và đứa con gái, nhưng đã bỏ đi... Nó không muốn đi Korpus cùng với chúng nó. Nó ở lại với tôi.”


Kinh tế của Nasrim gồm có gia cầm và một con dê. Ông còn trồng rau và kê phía sau làng. Ông cũng không cần gì nhiều. Tạm thời sức lực của ông còn đủ để tự nuôi sống mình. Sẽ tệ hơn khi sức lực không còn. Ông quyết định chết tại đây, như người sau cùng của những người cuối cùng.


 


Dần dần những thành viên khác của bầy chó đã xuất hiện. Chúng chạy quanh sân làng và gặp lại Akéla. Bogadyr âu yếm từng con và chúng liếm láp anh. Đối với Bogadyr đó là lời kêu gọi đừng ăn hết của Nasrim già nua và hãy vào rừng để họ lại cùng sinh sống như thường lệ. Với nguồn dự trữ ít ỏi của mình, Nasrim không thể nào nuôi nổi bầy chó. Bogadyr cũng quan sát thấy Akéla và Norita động đực, bắt đầu có những cuộc gạ gẫm và ẩu đả giữa các con chó. Anh thấy mình có trách nhiệm chấn chỉnh một chút và đảm bảo sao cho bầy chó được sinh sôi. Khi con người chết hết thì con chó, người bạn tốt nhất của con người, không buộc phải chết. 


Bogadyr buồn vì đã không hoàn thành sứ mệnh của mình. Anh hình dung sẽ tìm thấy ở đây một nhóm người có sức sống, những người phụ nữ trẻ và trẻ con. Trong thâm tâm anh cũng cho rằng riêng anh cũng có thể sinh con cùng với người phụ nữ trẻ nào đó. Anh có thể dẫn Nasta đến, để làm cho nhóm đông hơn. Có thể cả Bogdana cũng đến. Anh có thể dẫn dắt một nhóm như thế để phát triển và trở thành nền tảng cho nhân loại mới. Nhưng anh đã đến muộn. Tất cả bị lỡ rồi.


Anh không còn cách nào khác ngoài việc sống qua ngày trong rừng. Anh tự nhủ, sát nút trước mùa mưa sẽ săn bắt được đủ thú để chế biến hun thịt và dự trữ cho Nasrim vì ông cho họ được ở qua mùa mưa. Anh có thể sống như vậy cho đến lúc ông già chết. Sau đó thì chỉ còn sống qua ngày trong rừng với bầy chó. Anh không muốn trở lại Korpus. Đó là cái kết buồn.


 


Anh chia tay với Nasrim với thỏa thuận là trước mùa mưa sẽ đến và dự trữ thịt cho ông. Rồi bầy chó dẫn đầu bởi con người lên đường trở lại rừng già. Bogadyr không còn cái đích nào nữa, anh chỉ dừng lại ở đâu đó bên suối, săn bắn và đảm bảo việc sinh sôi của đàn chó. Sau khoảng hai ngày, anh đã tìm thấy một nơi như vậy.


Về đêm, khi bầy chó đã ngủ, Bogadyr lần đầu thấy ánh sáng này. Những tia chớp nào đó giữa các cây. Chả lẽ là phóng điện? Khi đến gần, ánh sáng như chạy trốn anh. Nhưng anh không muốn rời xa bầy chó nên quay về. Ánh sáng lại đến gần. Bầy chó không phản ứng gì. Thỉnh thoảng một con nghểnh mõm lên đánh hơi rồi lại yên tâm nằm xuống. Bogadyr biết rằng nếu điều đó không đe dọa chó thì cũng không đe dọa anh. Chúng sẽ đánh hơi thấy hiểm hoạ. Ánh sáng xuất hiện như thế vài lần rồi lại biến mất. Đôi lúc, khi đang ngủ trong rừng, Bogadyr thức dậy vì giọng nói gọi tên anh: ”Bogadyr ơi, Bogadyr ơi!” Khi tỉnh dậy, giọng nói lại im bặt. Như thường lệ, ánh sáng kỳ lạ đó le lói ở đằng xa. Bogadyr cho rằng đấy là ảo giác. Có thể xuất hiện căn bệnh tinh thần ở anh, song khẳng định, mình sẽ không quy phục, nhất là khi anh thấy bầy chó không có phản ứng gì.


Những ngày tiếp theo họ dành cho đi săn và Bogadyr hun thịt. Anh cũng thấy rằng những con chó cũng là những con cuối cùng của loài mình. Chúng bị chó sói và các thú dữ khác đánh bật. Trước đây chúng có lợi thế là không sợ đến gần con người và có thể ăn nhờ ở đó. Bây giờ không có người, vậy thì chó cũng bị đe dọa. Là cứu cánh của chúng, anh có kế hoạch sống tiếp theo: Sẽ cho chó sinh sôi, đảm bảo cho chúng có cái ăn và dạy dỗ để chúng vững vàng trong rừng với các loài thú dữ khác. Anh phải dạy nhiều đàn. Một ngày khi trên trái đất con người lại xuất hiện, chúng sẽ có tại đây người bạn tốt nhất.


 


Cuộc nói chuyện cuối cùng


 


Bầy chó đã sinh sôi thêm mười sáu chú cún con. Chúng trưởng thành từ lâu và tự đi săn. Họ trải qua hai lần mùa mưa ở nhà Nasrim. Bogadyr không còn phải sợ về tương lai của đàn chó. Chúng chỉ cần phải chia ra sao cho có điều kiện tốt hơn để đi săn. Đã một năm anh thực hiện chiến lược: Chó phải tự đi săn. Anh chỉ chia thịt cho chúng. Dù vậy tất cả lũ chó đều bám theo Bogadyr, anh như một thủ lĩnh nào đó và đồng thời bảo vệ chúng trước những loài vật khác. Thỉnh thoảng anh cũng bắn được con khỉ và làm phong phú thực phẩm của chúng. Điều này một mặt tạo điều kiện tốt cho sự phát triển đàn chó, nhưng cũng gây sự phụ thuộc nhiều hơn vào anh. Cuối  cùng thì tình hình này cũng phải được giải quyết! Có lẽ anh chỉ giữ lại những con chó già và những con trẻ sẽ tự lo sống. Nhưng làm thế nào để giải thích cho chúng?


Bogadyr xác định được, ánh sáng kỳ lạ, giọng nói đánh thức anh trong đêm kia chỉ xuất hiện ở một địa điểm. Ở đó có con suối chảy và cách đó không xa là những đống đổ nát của thành phố nào đó. Vì trong rừng họ có nhiều nơi để trụ lại, Bogadyr xác định những nơi khác ánh sáng không xuất hiện, giọng nói cũng không. Điều này làm anh yên lòng việc mình không bị ảo giác. Quả thực điều này liên quan thế nào đó với nơi được nói tới nên anh quyết định sẽ có cơ hội tìm cho ra cốt lõi vấn đề.


 


Một lần về đêm, khi họ trụ lại nơi không xa đống đổ nát của thành phố, Bogadyr thức dậy bởi tiếng gọi tên mình, anh ngồi dậy trên võng và lại nhìn thấy ánh sáng kia. Bây giờ trông như có bụi cây nào đó cháy. Điều này kỳ lạ sau mùa mưa. Hơn nữa giọng nói không ngừng, tiếp tục: “Bogadyr ơi, Bogadyr ơi!” Anh từ rừng sâu đi ra. Đàn chó đã ngủ, Bogadyr nhìn thấy chúng nằm co trên đất. Chỉ có Norin trẻ tuổi canh gác, con chó với tài đánh hơi xuất sắc, đang thức và thỉnh thoảng dựng ngược cái mõm lên để xác định xem liệu có thấy gì nguy hiểm không. Nhưng lần nào nó cũng hài lòng đặt đầu lên hai chân trước. Con Akéla già thức dậy cùng Bogadyr, nó đứng lên. Không có nguy hiểm nào đe doạ, điều này có thể nhận biết qua hành vi của lính gác. Ngọn lửa trong rừng không làm nó bị kích động, giọng nói cũng không. Nó nằm bình yên, có lẽ chỉ đánh hơi thường xuyên hơn. Bogadyr quyết định phải giải cho được việc này. Nó phải ở gần đây! Anh đứng dậy và chỉ mang theo khẩu súng. Các thứ khác để nằm giữa đàn chó, lát nữa anh sẽ quay về!


Anh đi qua giữa đàn chó. Con canh gác lại đánh hơi, hình như để lưu ý Bogadyr nếu nó ngửi thấy cái gì. Không khí trong lành, nên nó lại ghếch mõm lên chân, nhưng mắt để mở. Điều đó ám chỉ rằng không có chuyện gì. Bogadyr đi tiếp trong rừng và tiếc rằng không mang theo mã tấu. Nhưng ngọn lửa đã ở gần nên anh không muốn quay lại nữa. Anh sẽ xác định có chuyện gì rồi quay lại ngay. Akéla chầm chậm theo sau, tuổi già khuyên nó rằng nếu không có gì cấp bách thì không phải chạy nhanh. “Tốt, Akéla đi cùng ta,” Bogadyr tự nhủ. “Nó sẽ đánh hơi dẫn mình quay về. Nếu không thì trong bóng tối này làm sao tìm được đàn chó.” Họ đi thẳng đến ngọn lửa, ánh sáng không còn xa. Thế nhưng ngọn lửa vẫn như xa dần. Khi xa hơn, giọng nói yếu ớt vang lên giống như từ khoảng cách khá xa: “Bogadyr ơi, Bogadyr ơi!” Chả lẽ anh ước đoán sai khoảng cách? Họ lên chỗ đất trống. Bụi cây tại đó đang cháy. “Lạ thật, ai đốt cháy bụi cây sau mùa mưa, khi mà mọi thứ đều ẩm ướt.” Bogadyr đi thẳng đến, nhưng cứ đi và đi mà vẫn không đến gần được. Akéla bám theo sau. Trông như họ đã đi được đến một kilomet rồi mà vẫn không có gì. Bogadyr có cảm giác như ai đó đang chơi mình. Anh muốn quay về, sao có cái gì đó làm anh khó cưỡng lại và bị cám dỗ. Ngọn lửa biểu đạt sự cấp thiết nào đó. Bất cứ lúc nào anh đứng lại hay nghĩ đến việc quay về, ngọn lửa như bùng lên và giọng nói xa xôi đó lại vang lên. Điều gì có thể xảy ra nếu anh quay trở về? Một lúc anh đã định làm thế, song trong giọng nói vang lên sự khẩn thiết và ngọn lửa đến lại gần. Bogadyr cảm thấy không thể quay về vì lời kêu gọi ấy quá mạnh mẽ.


Rồi ngọn lửa bắt đầu nhảy từ bụi cây này sang bụi khác và nó dừng lại ở đỉnh đồi thấp vươn lên khỏi khu đất trống. Tại đó, ngọn lửa bùng lên. Bogadyr theo đến chân núi và phát hiện ra mô đất cao là phần còn lại của công trình nào đó. Khắp nơi có đầy những mô đất cao như vậy và Bogadyr thôi để ý đến chúng từ lâu rồi. Mô này trông như cái kim tự tháp nào đó. Các bậc thang bị các bụi cây mọc chèn đầy. Bogadyr bước lên trên, ở đó khuôn đất bằng và bụi cây đang cháy. Sau đó anh lại nghe thấy tiếng gọi đã từng nghe trong đêm. “Bogadyr ơi!”


 


Bogadyr đứng lại và có lẽ trái với ý của mình, anh tiến gần đến bụi cây đang cháy.


Ban đầu anh nghĩ rằng Lý trí tối cao của Korpus theo dõi và đang đe dọa bằng những tiếng nói nào đó. Anh quyết định không cho họ cơ hội. “Sao các người đánh thức tôi? Tôi đang mệt vì đi đường.” Trong thực tế, anh không tin rằng ở Korpus lại nhọc công theo dõi anh. Ngọn lửa đó là cái gì hoàn toàn đặc biệt.


 


“Bogadyr ơi,” tiếng nói vang lên. “Ta là Thượng đế ngày xưa đã tạo ra nhân loại. Ta muốn nói chuyện với người cuối cùng của loài người.”


Quả là đặc biệt! Bogadyr nhận thấy những lời nói chân thật, rằng đó không phải là mưu mô gì. Anh cúi đầu, quỳ xuống. Trái tim anh mở rộng. “Bogadyr à, hãy nghe đây,” Thượng đế nói. “Con là người đàn ông cuối cùng, hôm qua Nasrim đã mất, vì vậy con hãy nghe đây! Ngày xưa ta tạo ra nền móng của nhân loại, để phát triển sinh sôi. Sau đó ta phát hiện ra rằng sứ mệnh của họ mà vì nó ta đã tạo ra, đã không được thực hiện. Vì vậy ta đã ban cho họ các luật lệ mà họ phải tuân thủ, không ai nghe lời ta. Rồi ta đã phái xuống thiên tai và bệnh tật, không có kết quả gì. Những kẻ chơi bời phóng đãng ghê gớm nhất đã bị ta tiêu diệt bằng động đất, sụt lở đất, cũng không được gì. Cuối cùng ta cử con trai ta xuống, nó cho con người thấy sự đau khổ là cần thiết, cuộc sống không chỉ có những trò vui, một thời gian họ hiểu điều đó, nhưng rồi lại chìm vào tội lỗi...”


“Tội lỗi đó là gì?” Bogadyr mạnh bạo hỏi. Anh hoàn toàn không sợ hãi mà thấy nhẹ nhõm.


“Tội lỗi là sự đầu hàng năng lượng đen tối, hoặc ít ra đó là hành vi dẫn đến điều đó. Bởi vì con là một trong những người cuối cùng và ta có tính đến tâm hồn con để hóa thân vào một cơ thể mới từ những người mà ta sẽ tạo ra, ta sẽ giải thích cho con biết những ý định mà ta luôn cố gắng đem đến cho loài người.


Bogadyr, con hãy hiểu rằng ta muốn tinh thần sẽ chiến thắng vật chất. Làm sao để có ngày mọi vật chất được tổ chức khác đi. Ta toàn năng, nhưng năng lượng hạn chế và ta cũng không có nhiều thời gian. Với con người, ta đã lãng phí vô ích hàng nghìn năm. Đối mặt với ta là năng lượng đen tối của hỗn loạn và phân hủy. Nghìn năm trôi qua chỉ như trong giây lát, trong khi đó vũ trụ lao vào sự huỷ diệt. Khi xưa ta từng tạo ra sự sống để thống trị được miền vật chất với nguồn năng lượng tinh thần tối thiểu. Đối với ta, chiến thắng to lớn nhất là việc thống trị thế giới như thế nào.  Đối với các sinh vật cấp thấp, ta đã ban cho rất ít năng lượng tự trị, phần lớn chúng cư xử lập trình theo mã gen. Rồi ta đã tạo ra con người để bằng lý trí làm nhanh quá trình thống trị vật chất và ta đã cho họ ý chí tự do. Ta đã chia cho mỗi người, một phần năng lượng của ta – linh hồn. Nhưng nguồn năng lượng đen tối đã thâm nhập vào phần lớn các linh hồn. Phần lớn con người đã bán linh hồn cho quỷ đổi cái chết lấy hạnh phúc trần gian.”


”Phạm tội có nghĩa là đầu hàng năng lượng đen tối. Nhưng làm sao con nhận biết được?”


“Bản thân con người không tự nhận biết được. Ta đã cố gắng định ra những luật lệ mà con người phải tuân thủ. Ta đã cố gắng truyền đạt bằng cách nào đó cho con người. Cộng đồng tuân thủ luật lệ đó chính là đã thực hiện được ý chí của ta. Nhìn qua, đó không phải là điều thuận lợi, hạnh phúc trần gian thông thường con người chỉ được nhận như là sự khen thưởng về lao động, nhưng vì nó loài người đã tồn tại kể cả về thế hệ và không diệt vong. Ta mong muốn loài người hoàn thành nghĩa vụ của mình. Thế nhưng năng lượng đen tối hùng mạnh. Nó thống trị con người bằng lời hứa những cuộc vui chơi, hưởng thụ. Cơ thể con người là vật chất, mong muốn có lợi ích, thành đạt. Năng lượng đen tối đã lợi dụng điều này. Con người thay vì thực hiện những nghĩa vụ của mình lại dùng lý trí của mình để tăng thêm những khoái lạc không xứng đáng. Một trong những thứ đó là việc từ chối sinh con, vì trẻ em phần nhiều đem đến lo lắng, vất vả. Đó là âm mưu quỷ quái của năng lượng đen tối làm thế nào để huỷ diệt con người, tác phẩm của ta. Chúng đã thành công.


Ta biết mình đã tạo ra một loại sinh linh không hoàn hảo. Nhưng sự hoàn hảo sẽ dần được hình thành. Nhiều người có phận sự, nhưng ít người được lựa chọn. Ta từng nghĩ để con người theo luật chọn lọc tự nhiên và tự mình phát triển đến hoàn thiện là đủ, con người sẽ hiểu và nghe theo những lời kêu gọi của ta. Bây giờ ta phải tạo ra sinh linh hoàn hảo hơn. Ta phải tìm ra những cơ chế khác, để cho người phấn đấu hoàn hảo.”


Bogadyr lại nắm chặt chiếc dây chuyền vàng trong bàn tay lớn của mình. Cảm thấy nóng từ trong người, anh đã hoàn toàn phó thác mình cho Thượng đế.


“Và bây giờ, Bogadyr à, con hãy lựa chọn. Con có thể sống tiếp, trở về Korpus hoặc ở lại thiên nhiên hoang dã. Khả năng thứ hai là ta sẽ nhận con về mình. Con hãy quyết định đi.”


 


Thời gian gần đây, Bogadyr đang suy nghĩ rằng anh sẽ trở lại Korpus và lập gia đình với Nasta. Anh hỏi Thượng đế về điều đó: ”Thưa Ngài, không còn cơ hội cứu rỗi nhân loại nữa sao, vì con sẽ tạo ra dòng tộc mới với Nasta… Cũng có thể cả Bogdana chắc chưa chìm hẳn trong cuộc sống ảo… Ngài sẽ không phải tạo ra những sinh linh mới.”


“Nếu con ước mong có Nasta thì hãy trở về, nhưng đừng có hy vọng. Nasta không phải là người đàn bà giống như Eva. Cô ấy sẽ sinh ra hai đứa con là cùng, mà như thế thì chưa đủ cho việc tạo ra nhân loại. Các con sẽ phải sống xa Korpus và không để bị rơi vào những cám dỗ của nó, song như thế cũng không được. Chúng sẽ tìm các con và sẽ lôi kéo những đứa trẻ của các con hưởng sự thoải mái và không muốn làm gì. Thay vì lao động vất vả, chúng sẽ ưu tiên những cám dỗ của Korpus. Con thấy Nasrim kết thúc thế nào rồi. Ông ấy từng dạy dỗ con trai và con dâu biết lao động và nhẫn nhịn. Cuối cùng chúng vẫn ra đi theo sự phóng túng. Ta cũng không nghĩ rằng Nasta lại sống và lao động cực nhọc trong thiên nhiên hoang dã, nó không quen với điều này. Bogdana hơn nữa không có chồng và đã quen có kukla rồi...”


“Mặc dù vậy con vẫn muốn… Có thể với sự giúp đỡ của Người thì cũng có thể được...,” Bogadyr cố điều đình.


“Không Bogadyr à, ta thẳng thắn luôn: Con người giờ đã là sinh linh hư hỏng về di truyền. Đó là phế liệu, không còn thích hợp kể cả là nền tảng cho con người mới. Đã hơn một nghìn năm nay không thế sống thiếu tiêm chủng phòng ngừa, thuốc men, các phương tiện hỗ trợ, tóm lại là không thể thiếu nền văn minh của mình mà nó lại rất dễ tổn thương. Thậm chí họ còn bỏ thói quen lao động. Chừng nào con người còn tuân thủ ít ra một phần những mệnh lệnh của ta, lao động và sống chăm chỉ, vượt qua bệnh tật bằng cách tăng khả năng đề kháng, thì quy luật lựa chọn tự nhiên còn hoạt động. Chỉ những ai khoẻ mạnh và có năng lực sẽ sống sót và tiếp tục sinh sôi. Từ khi con người không sử dụng các phương tiện kỹ thuật cho các lợi ích của Thượng đế mà cho lợi ích của mình, không có lựa chọn tự nhiên, những người ốm đau và thiệt hại về di truyền sinh con nhiều hơn là những người khoẻ mạnh, thì loài người sau đó sẽ phát triển đến những đặc tính xấu hơn. Vì vậy một thời gian dài chiếm ưu thế là những người không có chất lượng, bệnh tật, không có năng lực, không có những đòi hỏi về văn minh và bị kết án diệt vong ngay lập tức. Những đặc điểm thiếu chất lượng này được thể hiện trong mã di truyền. Đó lại là thắng lợi của năng lượng đen tối.”


“Cần phải tồn tại số lượng lớn người để có thể chọn ra những cá nhân có năng lực trong khuôn khổ môi trường sinh tồn khó khăn và để quá trình tiến hoá khởi động nhằm cải thiện những đặc điểm qua chọn lọc tự nhiên. Con là một cá nhân có năng lực như thế. Nhưng con chỉ còn một mình. Vì vậy ta sẽ tạo ra một sinh linh mới và thà sử dụng lại một số phần trong mã di truyền của khỉ hơn là của người. Ta sẽ chọn linh hồn những người chính nghĩa và sẽ sử dụng chúng để hoá thân vào các cơ thể mới. Loại người mới sẽ được tạo ra thông qua năng lượng của mình bằng cách biến đổi mã di truyền chủng loại họ hàng. Bằng cách ấy ta tạo ra tất cả các loại sinh vật cấp cao. Luật lựa chọn tự nhiên sau đó duy trì chủng loại này để nó sống cả khi các điều kiện sống thay đổi. Nhưng để làm việc này cần có đủ các cá nhân.”


Chúa trời ơi, xin Người hãy cứu loài người lần cuối. Hãy cho chúng con cơ hội. Người là toàn năng, Người có thể tái sinh chúng con, có thể huỷ diệt Korpus… Loài người cầu xin Người và Người đã nghe thấy họ… Người hãy nghe cả con, con xin Người...”


“Khi người người cầu xin ta, ta biết rằng họ đang trên con đường sửa sai và xua đuổi năng lượng đen tối khỏi linh hồn mình. Sau đó ta luôn sẵn sàng tăng cường năng lượng tự trị của con người. Ta toàn năng, năng lượng của ta có thể tác động chống lại mọi quy luật của thiên nhiên nếu muốn. Con người ta có thể mạnh khỏe trở lại một cách thần kỳ, bay bổng, vận động cùng với đồ vật từ xa hay thậm chí chết đi sống lại. Ta có khả năng làm việc đó trực tiếp hoặc thông qua người nào đó như môi trường. Nhưng ta không có thừa năng lượng. Ta không thể làm việc đó với mỗi người. Nếu có đủ năng lượng, ta đã không phải tạo ra con người, đã có thể điều khiển trực tiếp vật chất. Thế nhưng những dự định của ta có quy mô rộng lớn, ta phải thực hiện chúng phần lớn thông qua các sinh vật điều khiển thế giới vật chất một cách tự nhiên. Đơn giản là sinh vật với tối thiểu năng lượng tinh thần tạo điều kiện điều khiển các vấn đề vật chất. Rồi phần lớn năng lượng vật chất, mà năng lượng này thì có đủ, sẽ tiêu hao đi và đồng thời nhiệm vụ tinh thần được thực hiện. Dù sao thì đây cũng là mạo hiểm đối với sự thâm nhập năng lượng đen tối vào linh hồn các sinh vật. Ta vẫn luôn luôn chiến đấu với năng lượng đen tối trên mọi lĩnh vực, ta không thể lãng phí năng lượng của mình. Ta phải đầu tư nó vào một sinh vật sống hoàn chỉnh hơn.”


“Con lấy làm tiếc rằng con phải tiêu tan.”


“Con sẽ không tiêu tan hoàn toàn, linh hồn là bất tử và ta sử dụng nó, ngày xưa ta đã đặt nó vào cơ thể, sau cái chết ta sẽ lấy lại nó nếu như nó chưa bị năng lượng đen tối làm hư hỏng hoàn toàn. Những linh hồn còn lại sẽ bị đào thải, ta sẽ cho đốt chúng đi. Nhưng linh hồn của con sẽ được đặt vào cơ thể mới. Ta hy vọng sẽ thành công trong việc tạo ra mầm mống các sinh linh mới, những nhân mạng này sẽ phân phối lý trí vào mọi phần của vũ trụ và tác động đến vật chất khắp mọi nơi trong khuôn khổ đã dự kiến. Ta sẽ giải thích đầy đủ cho những người mới này các kế hoạch của mình. Sẽ không mạo hiểm cái gì ở con người, rằng họ sẽ không hiểu ta. Vì vậy những nhân mạng mới phải hoàn chỉnh hơn. Ta rút được bài học trên con người để phải làm như thế nào. Đây là cơ hội duy nhất, nếu không vũ trụ sẽ tiêu tan.”


 


Bogadyr đã hiểu, nhưng anh thấy có trách nhiệm với Nasta, anh hứa với cô khi ra đi là sẽ trở về. “Con muốn đến bên Người, nhưng con cảm thấy ràng buộc với Nasta. Con là người đàn ông cuối cùng và cô ấy là người đàn bà cuối cùng, liệu chúng con có nên cùng đến với Người không?”


“Nếu Nasta muốn, ta cũng sẽ nhận cô ấy về. Ta sẽ giải thích cho cô ấy trong giấc mơ, sẽ nói về quyết định của con. Hoặc cô ấy sẽ chọn cuộc sống ảo, hoặc cô ấy sẽ đến bên ta. Trong trường hợp này các con sẽ gặp nhau trong vương quốc của ta.”


“Thế còn Mona? Còn Tana, còn Bogdana?”


”Rồi sẽ biết, sau khi họ chết đi, ta sẽ quyết định. Cuộc sống ảo chưa có nghĩa là những con người đã bị năng lượng đen tối làm hư hỏng. Nhưng Mona thì đã hư hỏng bởi năng lượng đen tối, sau khi chết, ta sẽ biến đổi linh hồn cô ấy thành nhiệt. Ngày nào trước đó cô ta đã đi phá thai, để cho người ta lấy đi đứa trẻ, từ đó cô ta yếu dần, năng lượng đen tối đã thống trị cô ấy... Tana thì khá hơn, từng muốn sinh con, có thể ta sẽ tẩy gột cô ấy một chút và nhận về. Lần này phải lựa chọn các linh hồn thật khắt khe, ta sẽ thực hiện cuộc phán xử cuối cùng với tất cả các linh hồn. Năng lượng đen tối không được phép bước vào nhân loại mới.”


“Mona phá thai, thật kinh khủng, con không biết gì về việc này.” Bogadyr há miệng ngỡ ngàng. Nếu ai đó biết về anh, có thể họ nghĩ anh là kẻ đáng thương. Thượng đế nhìn thấy tất cả, đã quen với đủ mọi thứ trên đời nên Người chờ đợi. Phát hiện khủng khiếp này đã dẫn đến quyết định. Bogadyr hiểu rằng anh không thể quay lại Korpus. Một lát sau, anh khẩn khoản thành kính: ”Con muốn đến bên Người.”


“Ta vui mừng vì con đã quyết định như vậy. Thế thì con lại đây...”


 


Linh hồn của Bogadyr rời thể xác. Thân thể anh nằm dưới bụi cây lúc này đã thôi cháy và hoàn toàn nguyên vẹn. Nasta nghe theo lời của Thượng đế trong giấc mơ, đi theo Bogadyr sau vài khoảnh khắc. Linh hồn của họ sẵn sàng để hóa thân vào những con người mới.


 


***


 


Akéla suốt buổi nằm trên rìa mảnh đất, co quắp một cách nhút nhát. Khứu giác của nó cho biết nó không gặp nguy hiểm, mặc dù vậy nó cảm thấy sự kính trọng thiêng liêng. Khi ngọn lửa tắt, nó tiến đến thân thể của Bogadyr, nhận ra mùi tử khí. Nó ngồi dậy và bắt đầu tru. Ở bìa rừng những con chó khác xuất hiện. Chúng cũng đồng thanh tru. Tất cả bày tỏ sự tôn kính cuối cùng tới người bạn lớn. Khi mặt trời bắt đầu lên, tất cả chạy vào rừng.


Akéla băng qua mảnh đất trống, chui vào bụi rậm. Ở đó nó không ăn cũng không cử động. Những con khác thỉnh thoảng đến với nó, hít hít. Rồi chúng hiểu rằng Akéla muốn ở lại một mình. Những quy luật muôn đời điều khiển hành vi của chúng ra lệnh cho chúng phải tiếp tục đi săn và sống cuộc sống trách nhiệm. Tất cả chạy vào rừng với những bổn phận của mình. Khi không có thủ lĩnh, chúng tự tách ra một cách tự nhiên thành nhiều nhóm, làm chủ từng khu vực. Akéla trút khỏi linh hồn để tiếp tục phục vụ ông chủ của mình tại nơi mới.


 


Sau một thời gian đàn chó gặp những con người lạ lẫm. Lúc đầu họ sợ chúng, nhưng rồi dần dà kết bạn với nhau. Nasta và Bogadyr tạo thành một đôi uyên ương trong cuộc sống mới, sinh rất nhiều con cái.


 


Lời bạt – Doslov


 


Một bộ ba toàn diện và căn bản về sự sống còn


của loài người trên trái đất


 


“Cái hay của việc viết văn là ta có thể mơ trong lúc tỉnh táo thật sự.”


(Nhà văn Nhật Hakuri Murakami)


*


 


Quả thế! Bạn đã có trong tay, trong óc mình một "tập đại thành" về hầu hết các đề tài sinh tử của nhân loại cổ kim đông tây được văn chương hóa: Bộ ba tiểu thuyết giả tưởng tiên tri của nhà văn - triết gia Séc Vlastimil Podracký được dịch thuật bởi tập thể dịch giả Việt Nam do nhà văn Đỗ Ngọc Việt Dũng/ Do.honza chủ biên.


Dân Việt chúng ta luôn dùng phương châm sau để trường tồn trên dải đất hình chữ S đầy vinh quang mà cũng lắm đa đoan: "Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao." Người Trung Hoa vốn sở đắc một giang san bao la, một lượng dân cư vô kể và một tham vọng vô bờ cũng thường nhắc nhau câu: "Ba chúng ta là một Gia Cát Lượng". Trong cuộc sống thường nhật, số 3 được xem như chỉ số vững chắc - vững như kiềng 3 chân. Theo văn hóa phương Đông, con số đó tượng trưng cho phong lưu, may mắn... Trong tiếng Trung Hoa, đọc nó giống như các từ “phát triển”, “ra đời”... Còn theo phong tục phương Tây số 3 đem đến sáng tạo hạnh phúc, hòa đồng và khách quan.


Phải chăng bởi thế bộ ba tiểu thuyết chính là cửa ải cuối cùng với các văn tài, các cây bút tầm vóc. Có thể kể ra một danh sách dài những tác phẩm lớn lao như thế. Và từ hôm nay, trong thư viện của người Việt năm châu vừa có thêm tác giả V. Podracký với 3 đầu sách quý hiếm: Hiểm họa sắc vàng; Nhân mạng cuối cùng và đồng loại; Sodoma và Gomora.


Trong hình thức văn học phi hư cấu và ở thể loại truyện/tiểu thuyết giả tưởng - vốn đều là các loại hình thời thượng của văn xuôi hiện nay - ba tác phẩm đó đã đồng thanh cất lời khi ẩn dụ viễn kiến lúc bóng gió xa xôi, nhằm góp phần trực diện và cụ thể để lý giải và phán đoán hàng loạt câu hỏi treo trên đầu thế giới đương đại.


Đó là gần như toàn bộ thế giới phương Tây, rõ nhất là Châu Âu, đang lâm vào một thời kỳ bất thường về toàn bộ xã hội. Đó là Trung Quốc đã hết còn danh hổ giấy, đang làm một con hổ thật sự trỗi dậy và đảo mắt vươn vai ra ngoài xứ sở Trung Hoa. Đó là nan đề Hồi giáo tự ngàn xưa cho chí ngày mai. Đó là nền kinh tế thị trường hết còn vận hành trơn tru như đã từng trong rất nhiều thập niên, thời kỳ. Đó là bối cảnh toàn cầu hóa bất bênh trong các khủng hoảng về bản chất. Đó là hai vấn nạn di dân và khủng bố như không còn lối ra. Đó chủ nghĩa dân túy liên tiếp thắng thế trước hệ thống dân chủ tự do tưởng như là thành trì bất khả sau Chiến tranh lạnh. Đó là bình đẳng giữa 3 giới tính, nữ quyền và tương quan sinh đẻ-dân số quyết định bàn cờ chính trị thế giới, số phận cộng đồng, vận mạng sắc tộc. Đó là vân vân và... vân vi. Vân vi trước 3 câu hỏi muôn thuở, vừa siêu hình vừa sát sườn: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Ta đi về đâu?


*


Tập 1 - Hiểm họa sắc vàng


Một cuốn truyện viễn tưởng lấy bối cảnh thế kỷ XXII, tức là khoảng 150 năm nữa, trong xung đột giữa 3 nền văn minh lớn nhất nhân loại trên hai châu lục: Ả Rập với Hồi giáo, Châu Âu/Séc với Thiên chúa giáo và Trung Quốc với Nho giáo.


Là loại tiểu thuyết luận đề về âm mưu và chiến tranh nhằm cảnh báo một cách quyết liệt (có phần cực đoan!) sự bành trướng Hồi giáo không chỉ ở phương Tây. Dùng hình ảnh đời thường thì văn chương chữ nghĩa trong Hiểm họa da vàng, qua bàn tay tự tin và rắn rỏi của mình "đầu bếp" V. Podracký đã dùng "con dao" Tàu mổ xẻ "con cừu" Hồi giáo trên "cái thớt" Châu Âu Séc là trung tâm. Cũng có thể coi đây như một tiểu thuyết địa-chính trị hay địa-văn hóa. Xung đột quân sự, bạo lực xét cho cùng vẫn là xung đột văn hóa. Hiểm họa văn hóa! Với tác giả V. Podracký, đó là “hiểm họa” áo chùm Hijab; là “hiểm họa” người theo Đạo Hồi “nhốt vợ ở nhà, canh phòng các cô gái để tránh trở thành nạn nhân của thói dâm đãng Hồi giáo.”*); là “hiểm họa” không sinh con ở đa số phụ nữ Châu Âu/Séc theo chủ nghĩa tự do.


Trong tập truyện, chủ nghĩa dân tộc luôn làm đủ loại ngòi nổ cho những âm mưu xung đột nơi mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia. "Biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc là quá mơ hồ. Bất cứ điều gì cũng có thể được coi là chủ nghĩa dân tộc." Mà với tác giả, ở cộng đồng Hồi giáo chủ nghĩa dân tộc hóa thân vào chủ nghĩa Hồi giáo. Nó đe dọa Châu Âu đến mức các nhân vật người Séc nòi phải tự thú "chúng ta là nền văn minh hết cơ hội”, "chúng tôi là nền văn minh mệt mỏi rồi.” Rời bỏ chủ nghĩa thần quyền đã lâu Thiên chúa giáo đành phải… botay.com trước Hồi giáo cực đoan.


Giữa một dung lượng không quá dài so với thể loại tiểu thuyết, cuốn sách mang đến nhiều nội dung vừa hấp dẫn vừa khó hiểu, vừa cấp thời vừa vĩnh cửu, trên vô số các lãnh vực, đề tài, vấn đề được dàn trải theo nhiều tuyến nhân vật ở nhiều vùng miền Âu - Á. Bằng bút pháp mô tả, thống kê xen kẽ trần thuật và biện luận, tác giả đã làm chủ chữ nghĩa văn chương để bàn về chính trị và tư tưởng, tôn giáo và chiến tranh, địa lý và kinh tế, tình báo và tình yêu, v.v... Trùng điệp các nhân vật, địa danh, sự kiện. Trùng điệp các mâu thuẫn quốc gia, sắc tộc, cá nhân. Một trái núi chữ nghĩa dưới bầu trời thời thế. Tất cả chỉ bởi một nguyên nhân: âm mưu để gây chiến, bạo lực để chiếm đoạt nhân mạng, tài sản, cuối cùng là đất đai. Thiển nghĩ, độc giả đầu tiên của cuốn sách nên là các nhà lãnh đạo quốc gia, thế giới, các nhà chính trị, tư tưởng, lập thuyết, các nhà kinh bang tế thế. Song le, nếu chỉ có thế thì có lẽ Hiểm họa sắc vàng là một… hiểm họa nhận thức với đông đảo độc giả!


Mấu chốt ở chỗ, vì là tiểu thuyết văn học, trong "âm mưu và chiến tranh" tất có âm mưu và tình yêu". Tất cả xoay quanh nhân vật chính, một viên tướng Trung Quốc tên Chuan họ Po-lo. Chuan làm đến chức “tổng thống Trung Quốc”, “từng chỉ huy quân đội chinh phục Châu Âu năm 2108”. Tác giả rõ khéo đặt cho nhân vật chính một lý lịch đủ “yếu tố toàn cầu hóa”: Chuan là hậu duệ bốn-năm đời của một nhà thám hiểm Châu Âu đến đất Trung Nguyên lập nghiệp, am hiểu sâu sắc văn hóa Nga ở Siberia và - tất nhiên! - kết hôn với Lenka, một phụ nữ Séc từng có chồng và nguồn gốc gia đình đến từ thế giới Hồi giáo. Kết thúc câu truyện là Vašek, con trai của Chuan và Lenka, trở về tìm được vợ Saša, người Hồi giáo Chechnya, và con gái, con dâu. Vašek được xem như người anh hùng phục vụ Trung Quốc chiến đấu phản gián trong lòng địch tại Tunisia mà điều đó “gắn liền với tầm nhìn xa thiên tài của Chuan”. Kết thúc có hậu, sau bao thăng trầm và tan nát, chết chóc và điêu tàn, mà cái chết cuối cùng là con trai cả của Vašek khi phải cứu sống cha mình trong một giây phút quyết định. Cuốn truyện dừng lại ở năm 2160, khi tướng Italy Musalione thống lĩnh liên quân quốc gia Châu Âu đã cùng với Trung Hoa - như một cảnh sát toàn cầu - đại thắng nhà nước Hồi giáo Umma.


Rất nhiều chương đoạn được viết theo phương pháp tường thuật, điều tra lịch sử - văn hóa. Thực chất không phải là giả tưởng về thi pháp nghệ thuật, mà giả tưởng ở thời tương lai nào đó khả dĩ của tư tưởng. Cho nên nhà văn đã làm chúng ta thưởng thức dễ dàng các chuyện phi thực. Từng là chuyên gia về tin học - điện toán, tác giả thành thục (đôi chỗ hơi sa đà “cho bõ nhớ nghề xưa”) khi diễn tả, phân tích các đề tài khoa học, với chủ tâm không nhắm nhiều đến công nghệ hiện đại lúc bấy giờ, thế kỷ XXII, mà chỉ quan tâm tới quan hệ, tư duy con người tiến triển hay thụt lùi. Điều này khiến người đọc thấy gần gũi, yên tâm bên các trang văn cồng kềnh, rắc rối từ nội hàm đến hình thái.


Trong thi pháp sử thi, cuốn truyện được cấu trúc đúng theo mô típ "Ngàn một đêm lẻ" Ba Tư xưa. Mỗi chương truyện chỉ như một câu chuyện ngắn, như một mảnh kính trong bức tường vạn hoa. Mỗi tên chương mục đều được “hộ tống” bởi một câu tục ngữ, châm ngôn đa phần là từ thế giới Ả Rập, còn lại là từ kho tàng văn hóa Trung Hoa. (“Còn ai trồng khoai đất này” nữa cơ chứ?!) Không ít chương độc lập nhau, độc lập với cặp nhân vật chính Chuan và Lenka.


Hiểm hoa sắc vàng, do quá nhiều kỳ vọng - nên tinh thần chung của nó là muốn làm pho sách giáo huấn - chính trị pha chút văn chương lãng mạn, lâm ly. Văn phong khoa học, rõ ràng. Sự lắt léo nằm ở tu duy thời cuộc, ở logic triết học của câu chuyện. Mới đọc qua tưởng như khô và khó.


Hướng tới mục tiêu rõ tỏ như thế, độc giả vẫn thoải mái dù có thái độ thế nào với tương quan chân vạc Hồi giáo - Trung Quốc - Châu Âu, dù có thể “đi guốc trong bụng” tác giả ở việc pro et contra ai và ai. Ấy cũng nhờ văn phong đến từ một cao thủ ngôn ngữ - một kiểu văn phong nước đôi, thậm chí nước ba nước tư! Ngay khi nhận chân quan điểm của tác giả  là chống Hồi giáo cực đoan bành trướng, cổ xúy việc dùng Trung Quốc để thực thi việc đó. Có thể hiểu cách nói hoán vị lập lờ: “Thảm họa da vàng” là “thảm họa Trung Quốc” nhưng là thảm họa với Hồi giáo cực đoan.


Chương ”Báo cáo thật sự về hiện trạng Châu Âu” làm nền tảng truyện. Như một đoản văn chính luận sắc sảo và lôi kéo, tác giả giải thích tệ nạn di cư tại các nước phát triển ở Châu Âu qua ví dụ là Séc. Từ đó chỉ đạo toàn tập sách: Tại sao nền văn minh tự do Châu Âu không kháng cự nổi đạo Hồi? Lời một nhân vật thế này: “Các giá trị văn hóa Châu Âu hay Hồi giáo? Châu Âu trên ngã rẽ con đường. Hai nền văn minh không tương thích, trong đó một bên tàn lụi vì khả năng sinh sản thấp, tương đối hóa các giá trị của mình và bên kia là hoàn toàn xa lạ, bùng nổ và bành trướng... Phải làm gì đây? Cô lập trong sự suy sụp, kiệt quệ của mình hoặc là để bị nghiền nát? Nhưng ở đây còn lựa chọn thứ ba: Tiếp nhận kịp thời Hồi giáo, loại bỏ các giá trị suy đồi và tự bảo vệ như một sắc tộc. (...) Tôi nhận ra Kitô giáo hiện nay bất lực…”


Các đoạn lãng mạn, tình tứ tuy cực kỳ ít nhưng đủ gợi cảm, dẫu về dàn dựng văn chương chưa hẳn đã thấu tình đạt lý. Đây, chuyện tình tình báo Vašek và Saša như là những trang mượt và ướt nhất tập truyện.


Cô ngủ ngon và họ làm tình với nhau nhiều lần. Vào buổi sáng cô bỗng nức nở: "Vašek ơi, chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa đâu. Em sẽ không thể đến được Umma, nó cực kỳ nguy hiểm. (...) Nó thực sự chỉ dành cho các chiến binh dày dạn. Và em là mẹ của ba đứa trẻ, ai biết được sẽ không phải là đứa thứ tư. Em phải dành cho chúng. Ngoài ra, để có thể kể cho chúng nghe về những hành động dũng cảm của cha mình..." (...) Cô ôm chầm lấy Vašek. "Em yêu anh và sẽ không bao giờ yêu ai khác. Anh hãy đến, dẫu chỉ là một lát có thể...".; “Dưới trái tim mình em mang đứa con anh (...)”;Vašek hỏi đi hỏi lại: “Mà sao phải có con lúc này em?“. “Buộc phải giải quyết vậy thôi. Em không thể làm tình với cả hai. Em nghĩ, ông già [tức là ông nội Vašek] sẽ không chịu nổi. Em có thể làm chết ông ta vì điều đó. Mà em không có lệnh ấy của tình báo.”


Tựu trung, phải ngăn chặn sự lan tràn của cả Hồi giáo lẫn đạo Hồi cho đến chủ nghĩa Hồi giáo với những mặt trái không thể cải tạo được, từ cái khăn trùm kín bưng cho chí tham chiếm quyền lực - đó là đích văn chương của nhà chính trị theo chủ nghĩa bảo thủ V. Podracký trong tiểu thuyết Hiểm họa da vàng. Vai trò của Trung Hoa chỉ như con dao pha cho bàn tiệc thế thời bất khả kháng này của thế giới đương đại không-Thánh-Allah mà Châu Âu đang là điểm nóng nhất. Nga và nhất là Hoa Kỳ chỉ là các VIP có tiếng không có miếng. Tư tưởng thời cuộc thế giới như vậy hẳn còn xa lạ với độc giả Việt Nam, ít nhất trong văn học? Chúng tôi cả nghĩ, dù cao tay nhấn cách mấy, trong lối diễn ngôn trung dung ra sao, thì cái sự dùng độc trị độc - lấy “bành trướng” này diệt “bành trướng” kia - của tác giả vẫn toát ra sự khinh khi vị trí và tham vọng của Trung Hoa, ngay cả trong “tiểu thuyết” và ở dạng “giả tường”. Phải chăng văn tài V. Podracký vững tin ở điểm nhìn rằng, về nghệ thuật thi pháp nó vẫn OK Salem? Nào, mời bạn đọc Việt vào cuộc…


Tập 2 -  “Nhân mạng cuối cùng và đồng loại”


"Tiểu thuyết là sử thi của đời tư." (V. Belinski). Tập 2 này giữa bộ ba tiểu thuyết giả tưởng là về “đời tư” của nhân vật chính Bogadyr. Song, đích thực sự của tác giả lại là tiểu thuyết luận đề, thành thử cuốn sách đã như một sử thi của nhân loại, một sử thi của cả cộng thể loài người. Vào năm 3156 khi giống người cáo chung trên trái đất, bởi khủng hoảng trong lối sống của mình. Mà người đàn ông cuối cùng có tên Bogadyr là đại biểu duy nhất. Đã vượt lên và hóa thân từ linh hồn loài-người-cũ để trở thành người đàn ông đầu tiên mang xương thịt mới cho loài-người-mới. Bogadyr đã là chàng Danko của thời đại con người bị nô lệ bởi thế giới siêu ảo trong không gian siêu mạng!


Lịch sử và Thượng đế đã chọn Bogadyr là kẻ tái sinh loài người. Bởi dù là một trong 25 người bình thường (trong truyện gọi là người vật lý) cuối cùng, anh đã can đảm và thông minh quyết định từ bỏ sống tập trung trong Korpus - nơi toàn những người sống ảo chỉ ham tìm giải trí và cảm xúc lạ bằng mũ kukla, ăn đồ sẵn mana, ở căn hộ soba robot phụ giúp. Tất cả đã khiến người ảo không phải lao động để kiếm sống, không có tình yêu để sinh đẻ, không thèm học tập để tu dưỡng trí tuệ, phát triển cơ thể…  Bogadyr nhận ra thế giới ảo dù có khung thể chế qua Hiến pháp dân chủ, có lãnh tụ tài ba (trong truyện là Human1), có cơ chế tự do, phổ thông đầu phiếu, có trường học không bắt buộc, có diễn đàn công khai… Song đó chỉ là phòng thí nghiệm chăm bẫm các xác sống, hoàn toàn tách khỏi Mẹ-thiên-nhiên, Cha-hành-động và nhất là khước từ sự sinh trưởng của giống người như một sinh vật bình thường. Vì thế anh phải ra đi, về cội nguồn của loài-người-cũ để, theo ngôn từ người Việt đương đại,“làm một cái gì đó”!


Có thể xem Nhân mạng cuối cùng và đồng loại như một cuộc tổng kiểm thảo phong cách sống nơi con người về nhân sinh quan, thế giới quan, về khoa học, tư tưởng, nhân cách, giáo dục, quan hệ người-người, người-vật, con người - thiên nhiên, về giới tính, tình yêu, thám hiểm… Nói bằng kiểu các cụ nhà ta: sống không ra sống thì chỉ có chết. Theo quan niệm và cách sáng tạo của mình, tác giả đã lần lượt đưa lên bàn mổ những thói hư tật xấu của con người thời hậu hiện đại để chứng tỏ thế nào là “sống không ra sống” và cuối cùng đi đến tất yếu: “chỉ có chết”.


Là tiểu thuyết hư cấu dựa trên các yếu tố khoa học - xã hội phi hư cấu, cuốn Nhân mạng cuối cùng và đồng loại dùng phong cách ngụ ngôn hiện đại không ngoài đích chỉ ra các lý do khiến xã hội đương đại thường xuyên bị khủng hoảng. Trong tiểu thuyết là câu chuyện tuyệt chủng của loài người đến từ nhiều nguyên do mà quyết định tại bởi người sống ảo tự cho mình là dân chủ và toàn năng, luôn khống chế để tìm cách tiêu diệt hơn hai tá người vật lý cuối cùng.


Ta thử coi lại hai trích đoạn đặc trưng về sự thảo luận giáo dục gia đình của thế giới ảo: “Quan điểm đa số các bộ não dân chủ lại chiến thắng, phần lớn họ sống ảo, những người chưa bao giờ có con: “Người mẹ không thể đặc quyền với con cái. Mỗi người không thể có quyền trên người khác. Nếu xuất hiện một nhân thể đòi hỏi sự chăm sóc, bất kể cho dù đó là đứa trẻ hoặc người không đủ năng lực, thì việc chăm sóc này phải được thực hiện chỉ bởi Trí tuệ tối cao, đại diện của Thâm nhập não người được uỷ quyền bởi Human1.


Và, “Human1 phát biểu: ”Con người hoàn toàn độc lập và thực sự tự do, như hiến pháp chỉ ra, để chúng ta thực hiện, chỉ dành người có cuộc sống ảo. Trong không gian ảo con người muốn làm gì thì làm. Trong cuộc sống thể chất, tự do luôn bị hạn chế và hiến pháp không bao giờ được thực thi. Lúc nào cũng có bạo lực và mất tự do, lúc nào quyền bất khả xâm phạm của con người cũng bị vi phạm. (...) Chấp hành hiến pháp có nghĩa là đưa trẻ em vào các soba và đội kukla cho chúng…”


So với tập đầu, tập giữa nghiêng về văn chương hơn hẳn, ít bàn luận tư tưởng, bớt tranh biện tôn giáo hơn hẳn. Cấu trúc truyện cũng liền một khối tổng thể dù chi tiết, sự kiện cũng tản mạn, phân biệt từ các mảng câu chuyện, tư liệu ghép nên con tàu văn chương liên hoàn. Một tiểu thuyết thứ thiệt! Không thể đọc nhảy cóc, ít nhất như ở Tập 1. Văn tài Podracký được tung tăng hơn, có thể nói đã đạt đỉnh hân khoái về trí tưởng tượng và óc khoa học. Là một cuốn truyện giả tưởng lạ kỳ, triết lý mạnh bạo, mà không quá cao xa so với mặt bằng văn hóa đọc và tầm đón đợi ở Việt Nam. Bởi đối tượng của nó là tất cả những ai là-người còn muốn làm-người. Vui mà thật: Độc giả Số 1 của Tập 2 ắt sẽ là các bạn - từ tuổi teen cho đến lứa ông bà teen - đang thành các con nghiện mạng xã hội, điện thoại thông minh, chơi máy chơi game…


Càng đọc càng hồi hộp. Tập sách lại như một phát kiến văn học tuyệt vời của nhà phù thủy ngôn ngữ và tư tưởng V. Podracký. Còn nhìn về nội hàm (ví dụ chỉ đọc Mục lục, như “Cuộc sống tươi đẹp của những người thể chất”, “Những yêu cầu thân xác”; “Để bảo vệ trẻ em”; “Điếu văn về sự tồn tại thể chất loài người”; “Chế tạo con người”...) thì đây thực chất là một công trình khảo cứu và đề án. Một nghiên cứu khoa học xuất sắc! Một thử nghiệm văn học độc đáo về lịch sử học và nhân học cho sự phát triển giống người!


Bút pháp văn xuôi của tác giả biến hóa vô lường. Khoa học viễn tưởng toàn về các chủ đề “khủng”, các tư duy phức tạp, các phương tiện công nghệ lằng nhằng, thế nhưng đọc vẫn bị thu hút. Các trường đoạn trữ tình, gay cấn trong truyện (ví dụ, giữa một chàng Bogadyr bô trai, cơ bắp và sáng láng với một “tiểu đội phụ nữ” bên mình!) đủ làm nên những con sông tắm mát cả pho sử khô khan và bao la.


Sự thán phục của riêng chúng tôi về tiểu thuyết giả tưởng Nhân mạng cuối cùng và đồng loại càng được thăng hoa bởi yếu tố ngẫu nhiên sau... Vào đầu tháng Tám này, khi đọc được trên mạng bài viết từ nhà báo Lê Học Lãnh Vân, từng là một nhà khoa học người Việt lâu năm ở Pháp nay đã nghỉ hưu. Xin phép lọc lược và nhấn mạnh: “Vợ chồng tôi thường nhìn những đứa con mình đã hay sắp trưởng thành. Chúng tôi (...) hồi hộp theo từng bước chân vào đời của chúng… Chúng cũng yêu ba mẹ. Mà sao hai thế hệ đứng hai bên rào nhìn nhau (...) mơ hồ chợt hiểu, chợt không… Vợ chồng tôi thường bàn nhau, không biết thế hệ con cháu mình, trong cơn lốc chóng mặt của đổi thay công nghệ dẫn theo đổi thay nếp sống, tâm lý, triết lý sống… chúng nó có hạnh phúc không? (...) Chúng hiểu, cảm hạnh phúc ra sao? Chúng có bày tỏ tình yêu thương như cha mẹ chúng không? Chúng có sẽ sinh con đẻ cái như thế hệ chúng tôi không hay sẽ bằng một công nghệ sinh học nào đó?” Và tác giả bài báo cho biết sự giải tỏa nỗi lo âu rất thời thượng và tim óc của mình đã được tìm thấy khi ông đọc hai bài thơ từ nữ sĩ Vũ Lập Nhật xuân xanh đang nổi ở Việt Nam.


Dám thưa văn sĩ - triết gia V. Podracký, cứ tin rằng đang và sẽ có nhiều độc giả như Lê Học Lãnh Vân cần đến Nhân mạng cuối cùng và đồng loại!


Tập 3 -  “Sodoma và Gomora”


Tập chót của bộ ba tiểu thuyết mà chúng ta đang có thuộc vào thể cổ điển. Nghiêng về văn hóa - lịch sử, nó được viết bằng cách phục hiện quá khứ mà răn bảo hiện tại và định hướng tương lai. So với hai tập trước, tập cuối cùng có vẻ hiền và lành về bút pháp, cũ và xưa về nội dung, thể hiện chậm rãi mà cương quyết các giá trị văn hóa, tâm linh, tư tưởng, kinh tế, địa lý sâu sắc và bình dị. Chúng tôi ngờ rằng ở Việt Nam Sodoma và Gomora sắp là của hiếm về sách dịch, còn về sáng tác chắc chưa mấy tay bút ta nào viết thể tài tương tự như “ông Tây/Tiệp” đây? (Cũng có nghĩa, văn sĩ Việt còn có thể sáng tạo những gì na ná Hiểm họa da vàng hay Nhân mạng cuối cùng và đồng loại hơn!)


Khác Tập 1, và gần như Tập 2, nội dung Tập 3 khá nhất quán, như một bộ biên sử nhân loại kinh sợ và tự nhiên về văn hóa - xã hội. Tác giả nói ngay ở Lời giới thiệu, đó là về "sự vô đạo đức và suy đồi văn hóa len vào cuộc sống con người"; cụ thể hơn: về quan hệ cách mạng tiên tri trong đích "cố gắng cứu vớt cho con người", về nữ quyền, sự sinh đẻ... Truyện lịch sử trong thời cổ đại mà gần đến sát sườn mỗi chúng ta qua mỗi sự kiện, vấn đề.


Vẫn mang âm hưởng chính trị bảo thủ, V. Podracký với Sodoma và Gomora muốn cảnh báo lần thứ ba - lần cuối và mãi mãi: Hỡi loài người, hãy cảnh giác;  về vấn nạn tuyệt chủng của các nền văn minh, các xứ sở, quốc gia!


Dường như trong thập niên qua, từ sau năm 2005, tác giả đã cùng dư luận, báo chí rộ lên với các nhà khảo cổ: tại khu vực Tall el-Hammam ở Jordan lần đầu tìm thấy dấu tích hai thành phố Sodoma và Gomora bị “Chúa trời phá hủy bằng lưu huỳnh và lửa” theo Kinh Thánh. Đa số thông tin về hai vương quốc Sodoma và Gomora đều là từ sách Sáng Thế, rằng chúng xuất hiện trong khoảng thời gian từ năm 3500 đến 1540 trước Công Nguyên và được cho là bị hủy diệt rất đột ngột.


Cuốn tiểu thuyết như chúng ta vừa đọc đã khá trung thành theo nguyên mẫu: Kinh Cựu Ước nói, Đức Chúa trời hủy diệt hai thành phố mỹ lệ và giàu có nhất với toàn bộ cư dân đều là những kẻ mắc tội lỗi xấu xa (đồng tính luyến ái!?), trừ duy nhất một người đàn ông gương mẫu cùng với vợ con là được thoát hiểm. Cây bút V. Podracký đặt tên người may mắn và tốt lành đó là nhân vật Lot, một nhà tiên tri, sống cùng gia đình ở Sodom. Còn nhân vật chính - nhân vật hư cấu có lẽ hoàn toàn - là Kesulot, được dựng truyện như nhà doanh nhân tài ba, chính trị gia bảo thủ không nhiều tham vọng nhưng mang ý thức cộng đồng cao rộng và có người vợ thứ hai là Shura, một phụ nữ trẻ đẹp và phóng khoáng. Vấn đề ở chỗ Shura thuộc vào thế hệ Đứa trẻ hoa (ẩn dụ của thế hệ Hippy) ra đời sau một cuộc cải tổ vương quốc. Đứa trẻ hoa của Podracký ở Tập 3 cũng là anh chị em của người sống ảo trong Tập 2: ưa ham hưởng hạnh phúc, lười nhác lập gia đình ổn định, nhất quyết không sinh con nhưng phóng khoáng, tốt bụng, chuộng dân chủ...


Đối thoại của hai công nhân trong đó có một người Dazars - dân hạng hai so với dân bản xứ:“"Chị có nhớ chồng không?" Người phụ nữ trẻ hơn, rõ ràng là người xứ Gomorrah, hỏi. „Chị không yêu anh ấy lắm. Các ông bố bà mẹ tổ chức đám cưới cho thôi.“ Cô gái trẻ phản ứng: "Em không có vấn đề như vậy, em chưa kết hôn và không có con. Cha mẹ đặt cho em một con sâu cái từ khi còn ở trường." "Chị cũng có đấy." Cô gái để lại đứa con cho bố mẹ chồng nuôi, nói. Chủ lao động thường tạo điều kiện đặt cho nữ nhân viên sâu cái với chi phí nho nhỏ. Bây giờ đã có phương pháp mới, không bắt buộc phải là vàng, mà chỉ cần một loại đá gì đấy mịn xay từ thạch anh.”


Ngoài chuyện quan niệm đạo đức và luyến ái/sinh sản, hàng loạt tệ nạn khiến cả hai thành phố bị “Thiên Chúa nổi giận” đã được cuốn tiểu thuyết nêu ra, ngoài thông tin có được từ Kinh Thánh: luật sở hữu đất đai không hiệu quà; thiếu cạnh tranh lành mạnh trong kinh tế; hàng rẻ phá giá lan tràn; tương quan hưởng thụ và cống hiến giữa các thế hệ, gia đình...


Xuyên qua chính trị gia thủ cựu Kesulot của thời đồ đá đồ đồng, nhà chính trị bảo thủ Podracký giữa thời @ đã đưa xuất nhiều dự án có tầm quốc gia, toàn cầu. Trước nhất, về tư tưởng - tâm linh, vẫn cứ theo sách kinh lời thánh song cần “đổi mới” cập nhật thời thế. “Phải có cả hai: phải có Thư chính tắc và nhà tiên tri hiện tại, giảng giải theo tinh thần thời đại.” Lời reo Eureka của Kesulot trong tiểu thuyết!


Kỹ thuật dựng truyện lối viết của tác giả lại thêm một lần nữa cao cường, nhuần nhụy. Văn giản dị, hồn nhiên mang tải đề tài lớn và rộng, khó và khô. Không ít tình tiết, tình huống, chủ đề (như chuyện kinh tế, kinh doanh, luật lệ hành chính) đơn điệu. Kết thúc kinh hoàng (như thực tế lịch sử và giống trong Kinh Thánh) logic tự nhiên. Nếu không nói là tất nhiên.


Vẫn là thể tiểu thuyết luận đề dạng giả tưởng trong lối dựng truyện “sử giả” hấp dẫn, Tập 3 mang cốt truyện từ tốn hơn nhiều so với “liền chị liền anh” của mình. Nhân vật hư cấu vẫn  tưởng như thực, tình huống truyện có cao trào, tứ truyện đeo mâu thuẫn Đúng là một tiểu thuyết chứ không phải mô phỏng Kinh Thánh. (Nói vậy e chưa chuẩn: thật ra Kinh Thánh đã là một đại tiểu thuyết!)


*


Thay lời cuối


Nếu nhìn nhận thể loại tiểu thuyết khi làm nền móng lúc lại là mặt tiền cho một lâu đài văn học, thì rõ ràng văn xuôi Séc đương đại đáng kiêu hãnh với bộ ba tiểu thuyết của tác giả  V. Podracký. Và nhóm dịch giả, đứng đầu là Đỗ Ngọc Việt Dũng/ Do.honza cũng đáng hãnh diện. Thiển nghĩ: Đấy, chuỗi tác phẩm để đời của tác giả; đấy, bộ sách dịch để đời của dịch giả! Cho dù xem xét toàn bộ pho tiểu thuyết còn có các khiếm khuyết nhất định, bởi đặc tính thể loại và thể tài, cũng bởi cá nhân tác giả. Cho dù - điều không khó nhận ra - bản dịch lần đầu xuất bản này còn không ít điều có thể hoàn thiện.


Trong những hình thái văn chương giả tưởng - tiên tri dùng lịch sử pha khoa học, các tác giả thường nắm đằng chuôi ở chức năng dự báo của văn học. Với V. Podracký chắc chắn vậy! Nhớ, mỗi lần giải Nobel văn học kéo về, dư luận lại trở tới trở lui, rằng tác giả nọ đã nói ra sự huyền bí nơi tâm tưởng chúng ta về quan hệ với giới tự nhiên, rằng văn chương liệu còn là nó không nếu chẳng vì con người, rằng tác phẩm lớn khi biết cảnh tỉnh nhân loại…


Theo cách hiểu của chúng tôi, pho tiểu thuyết của V. Podracký là tác phẩm lớn! Bởi lẽ, nội dung đã mang tải những điều lớn lao để nói với các thế hệ loài người. Bởi lẽ tác giả đủ tài năng diễn ngôn nội dung qua một cấu trúc nghệ thuật lớn lao. Cuối cùng, cũng bởi - may mắn sao! - nhà văn vốn là một kỹ sư điện toán, trong 3 năm liên tiếp 2007-2009 đã cho xuất bản bộ ba tiểu thuyết vô cùng kinh điển mà cực kỳ thời sự, đúng vào thời kì phát triển mạnh khó lường của công nghệ vi tính và kỹ thuật mạng.


Cuối cùng cho tất cả: 


Thưa tác giả, các dịch giả và biết bao độc giả thân kính! Hãy cho phép bài viết vội này được kết thúc qua liệt kê 3 vấn nạn đại sự hiện thời đều rất nóng bỏng, khiến chúng tôi dốc tâm trí, gắng góp chút phần nhỏ bé cùng các thân hữu, bạn văn trong việc biên tập bản dịch một bộ sách 3 tập toàn diện và căn bản về tính sinh tử của loài người trên trái đất, trong đó có mỗi chúng ta cùng toàn dân tộc Việt và Tổ quốc Việt Nam, toàn dân tộc Séc và đất nước CH Séc.


Một, khủng hoảng người di dân: Liên minh EU và Hoa Kỳ với hàng loạt luật lệ, quy chế mới tựa hồ bất lực trong đôi năm qua.


Hai, khủng hoảng khủng bố, hận thù người ngoại quốc: Hai sự kiện tội phạm điển hình ở sự công khai, bài bản và tàn ác của hai tay súng người da trắng điên cuồng bắn vào đám đông người nhập cư tại siêu thị Walmart ở Mỹ ngày 3/8/2019; và “nguồn cảm hứng” cho chính nó trước đó tại hai nhà thờ Hồi giáo ở New Zealand ngày 15/3/2019.


Ba, khủng hoảng Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc: Sự kiện Bãi Tư Chính trong hơn một tháng qua đang căng thẳng từ diễn biến hiện trường cho đến ngoại giao quốc gia và có thể còn leo thang vô lường về mặt quân sự, làm sôi sục từng diễn đàn báo chí, nơi mỗi người Việt lo âu nguy cơ lãnh thổ bị trắng trợn xâm phạm.


Cũng may mắn có dịp được gọi là cho ra một cuốn tiểu thuyết thời sự về vấn nạn Trung-Việt sau sự kiện Giàn khoan Hải Dương 981 hồi 2014, người viết xin giương lên câu sau đây từ bộ tiểu thuyết lớn của nhà văn Séc Vlastimil Podracký làm lời kết bài Bạt nhỏ: "Không có gì hệ trọng đối với đất nước hơn là chuẩn bị đối phó cho một cuộc tấn công của kẻ thù."


Vancouver - Hoàn thành 3 giờ sáng ngày 18/8/2019


Đỗ Quyên


Nhà văn, nhà phê bình văn học (Canada)


____


*) Trong bài, tất cả các câu/đoạn in nghiêng giữa ngoặc kép là trích từ ba tập truyện đang bàn đến. Ví dụ, câu vừa dẫn là trích từ Tập 1, Hiểm họa da vàng.


Mọi thế hệ luôn nghĩ rằng, thay đổi được thế giới. Mỗi thời đại, mỗi khoảnh khắc có thể được coi là then chốt cho định hướng tiếp theo của lịch sử. Ngày nay bước phát triển mới đã sản sinh, chúng ta đang vun đắp tương lai bằng mạng sống của mình. Câu hỏi chỉ là, có ai nhận thức được đầy đủ điều, chúng ta đang tạo ra thế giới nào.


Kể từ thời đại, khi nhân loại liên tục điều khiển được nhiều hơn thiên nhiên, sử dụng nguồn lực của nó, xử lý các phương tiện trong việc gây ảnh hưởng cơ bản tới cuộc sống của mình và cuộc sống của các thế hệ tiếp theo, trách nhiệm của họ vì tương lai tăng lên. Tôi không chắc chắn, người ta có nhận thức được trách nhiệm này hay không.


 

Ing. Vlastimil Podracký.

 


... Năm 2006, nhiều người nhập cư sống trong các cộng đồng phân chia từ xã hội nước sở tại và điều này áp dụng ở cả thành phố lớn và nhỏ. Người nhập cư hoàn toàn không có bạn bè Đức, Anh hay Pháp, người ta không quan hệ với họ, thậm chí thường không nói cả bằng ngôn ngữ của họ. Những nhà giảng thuyết khen họ rằng những giá trị và truyền thống của họ là vượt trội so với các giá trị và truyền thống của những kẻ ngoại đạo và bất cứ tiếp xúc nào với họ, ngay cả với hàng xóm là không thể được. Thanh niên nhập cư phàn nàn rằng họ là nạn nhân và rằng họ bị loại bỏ, nhưng sự khép kín xã hội và văn hóa đó giữa các khu ổ chuột thường được coi là tự nguyện.


... Tôi đã thấy Châu Âu và người Châu Âu trong những thời kỳ tốt và cả  xấu. Sau tất cả khoảng thời gian này là khoảng thời gian thu gọn có thể nào đó, bởi vì Châu Âu, tôi biết, dần dần biến mất. Điều gì chiếm vị trí của nó? Xu hướng chung dường như là rõ ràng và nó không phải là điều có thể lấp đầy trái tim tôi bởi niềm vui lớn. Thậm chí tôi không biết câu trả lời cho những vấn đề vĩ mô, mà với Châu Âu sẽ nổi lên trong những năm tới. Và tôi ghen tị với những người trong những năm gần đây đã viết về tương lai tươi sáng của Châu Âu: Tôi mong muốn chia sẻ sự lạc quan của họ. Tuy nhiên, tôi nghi ngờ rằng nó sẽ là tương lai khiêm tốn và hy vọng rằng từ Châu Âu sẽ còn sót lại nhiều hơn không chỉ là một bảo tàng...

 

Walter Laqueur (nhà sử học, nhà báo và nhà bình luận chính trị người Mỹ. 

Học giả có ảnh hưởng về các chủ đề khủng bố và bạo lực chính trị.)

 

Những ngày cuối cùng của Châu Âu, Washington, DC, 2006 

 


 


Podle Nietzscheho poslední lidé už opustili kraje, kde bylo tvrdo žít...


 


Ještě pracují, neboť práce je zábava. Ale dávají pozor, aby práce je nevysilovala.


Již nechudnou a nebohatnou, obé je příliš namáhavé.


 


Kdo by ještě vládl? Kdo by poslouchal?


 


Obé je příliš namáhavé. Žádný pastýř, žádný ovčinec.


Každý chce stejně, každý chce stejný.


 


Kdo cítí jinak, jde z vlastní vůle do blázince.


 


Francis Fukuyama, Konec dějin a poslední člověk


 


 


Theo Nietzsche, những con người cuối cùng đã rời bỏ miền đất sống khắc nghiệt...


 


Họ vẫn còn làm việc, bởi vì đó chính là niềm vui. Nhưng họ chú trọng, để không phải làm tới kiệt sức.


Họ chẳng thể nghèo đi và giầu lên lên, cả hai đều quá vất vả.


 


Ai đây sẽ còn cai trị? Ai đây sẽ là người lắng nghe?


 


Cả hai đều quá vất vả. Chẳng còn người chăn cừu, chẳng còn chó chăn cừu.


Ai cũng muốn như nhau, ai cũng muốn giống nhau.


 


Bất cứ ai cảm giác khác đi, sẽ tự nguyện tìm đến nhà thương điên.


 


Francis Fukuyama, Sự kết thúc của lịch sử và nhân mạng cuối cùng


 


 


Lời cảm ơn


 


Xin trân trọng cảm ơn tác giả, Ks. Vlastimil Podracký, nhà văn, triết gia Cộng hòa Séc đã hợp tác, cho phép miễn phí bản quyền dịch và xuất bản bộ ba tác phẩm tiên tri (Sci-fi trilogy) của ông sang tiếng Việt, trong đó có một lượng song ngữ phục vụ cho công tác nghiên cứu.


 


Tập thể dịch giả xin thay mặt tác giả chân thành cảm ơn tới:


 


-          Các biên tập viên, các bạn hữu, các nhà tài trợ, bạn đọc Facebook đã đọc, biên tập, chỉnh sửa và góp ý cho bản dịch.


Đặc biệt chúng tôi xin chân thành cảm ơn các tổ chức xã hội Việt Nam, Tiệp Khắc đã động viên hổ trợ vật chất, tinh thần để xuất bản tác phẩm này:


+ Hội nhà văn Cộng hòa Séc, Ngài chủ tịch Karel Sýs


+ Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam


+ Hội hữu nghị Việt Nam - Séc


+ Công ty TNHH & Thương mại BOO


+ Công ty TNHH Sao Thủy tinh Bohemia, Việt Nam


 


-          Lời cảm ơn đặc biệt xin gửi tới:


 


+ Mgr. Renáta Greplová, phu nhân Đại sứ CH Séc tại Việt Nam,


   giảng viên tiếng Séc UK-Praha, cố vấn ngôn ngữ Séc – Việt.


+ Mgr. Lukáš Musil, Phó Đại sứ CH Séc tại Việt Nam, cố vấn.


+ Mgr. Ondra Slówik, CSc., tiến sỹ Việt Nam học, cố vấn ngôn


   ngữ, văn hóa Séc trong suốt quá trình dịch tác phẩm này.


+ Ks. Đỗ Ngọc Thủy (Đỗ Quyên), nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình


   văn học (Canada) với phần biên tập và phân tích tác phẩm.


+ Ts. Phạm Thành Hưng, DrSc, trường đại học Quốc gia đã


   biên tập và phân tích tác phẩm.


+ Nhà xuất bản Hội nhà văn đã hoàn tất thủ tục, cấp phép để


    phát hành tác phẩm này tới bạn đọc


  


Và...


là Chủ biên tác phẩm tôi xin cảm ơn, cảm ơn rất nhiều các anh, chị, những người bạn đã đồng hành cùng tác phẩm, biên dịch, biên tập, tham luận và cho những lời chỉ dẫn quý báu để hoàn thành bản dịch này.


 


Sẽ còn phải bổ sung, hiệu đính, tranh luận trong những lần tái bản tiếp theo nhưng mong muốn chuyển tới tay bạn đọc một đề tài nóng bỏng của tương lai số phận nhân loại lúc này là cấp bách và thời sự trước khi quá muộn màng.


 


Do.honza


Hết


Nguồn: Nhân mạng cuối cùng và đồng loại. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc: Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Mgr Nguyễn Thị Mùi (Lenka Nguyen),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza). Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info







* Sông Hằng




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »