tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26690143
Tiểu thuyết
03.02.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại


Truyện thứ sáu


NGỌC KHOA, GÁI NƯỚC VIỆT


Cái tựa của người kể câu chuyện huyền thoại thứ sáu lại còn dài dòng hơn cả cái tựa của người thứ năm. Ngay khi anh ta mới đưa ra mấy câu vào đầu, mọi người đã tỏ ra chán phè và chỉ muốn anh đi thẳng vào câu chuyện cho sốt dẻo, nhưng Tư Sắc – bí danh Trần Hùng – không chịu và cứ nói thẳng thừng, không một hai gì cả:


- Truyện của tôi phải kể lể dài dòng một chút, các anh em chịu thì tôi cảm tạ, nếu không thế, tôi xin rút lui, không kể, để cho người khác kể thay.


Tư Sắc nổi tiếng vì ngang bướng. Lúc bắt đầu kháng chiến chống Pháp, anh đã có nhiều phen chống lại những tư tưởng hủ hóa của cấp trên, chống tinh thần thư lại của các cán bộ phụ trách công việc đãi ngộ các anh em văn nghệ. Một số người đã làm báo cáo mưu hại anh, nhưng không làm gì nổi anh bởi vì cái tiếng thành thực, dám nói, dám làm của anh. Hết thảy các quân khu trên đều rõ. Thêm nữa, cấp chỉ huy hồi đó lại đặc biệt mến thương anh vì xuất thân là một “quái xe díp”([1]), anh đã cố công học tập, anh đã trước tác được nhiều bút ký miêu tả sâu sắc cuộc đời cực nhọc của công nông trong xã hội thực dân mà còn đi sâu miêu tả ý nghĩ và hành động anh hùng, tính chủ động sáng tạo, mưu trí tuyệt vời của công nông.


Một bản nhạc của anh được toàn dân ca hát. Nhưng cái tài của anh đến đấy chưa hết: Tư Sắc lại còn là một họa sĩ, một nghệ sĩ nhiếp ảnh yêu nước đem tâm trí phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị cách mạng. Rồi mỗi khi đi tới đâu, có liên hoan, đại hội, anh lại biểu diễn kịch nói, kịch hát “ra gì”, đem văn nghệ đến cho nhân dân và quân giải phóng sau những giờ sản xuất và chiến đấu.


Tất cả tội của anh chỉ là tội nghiền á phiện. Nhưng ở ngoài đó thỉnh thoảng lắm người ta mới dám giở bàn đèn ra hút. Đa số phải “táo” vào bao diêm để lấy ra nuốt dần mỗi ngày một hai viên, hoặc dưới hình thức uống nước pha một hai giọt vào trong nước trà. Một bọn xấu làm báo cáo mật lên cấp trên về trường hợp Tư Sắc nhưng không ăn thua gì hết, vì kháng chiến lúc ấy đặc biệt đãi ngộ văn nghệ sĩ vì cho rằng “năm năm có thể tạo được một lớp thợ, chứ mười lăm năm chắc gì đã tạo được một lớp văn nghệ ra trò!”.


Có lẽ một phần vì thế mà Tư Sắc hách lắm, quen cái tính giận lẫy những người trái ý anh. “Tôi biết như thế là không hay ho gì cả, nhưng tôi cứ hành động như vậy, bởi vì sống với anh em lúc bắt đầu kháng chiến gặp rất nhiều khó khăn, mâu thuẫn, mình không luôn luôn “giở phép” thì mình bị họ chèn, họ bắt nạt và bị xuống nước ngay”.


Tư Sắc hỏi:


- Vậy bây giờ anh em có bằng lòng tôi nói mấy câu khơi mào không? Xin cứ dạy. Thưa các anh em, tôi hủ lậu, tôi quan niệm như thế này: một câu chuyện kể mà không có tựa – nói nôm là không có mào đầu – y như thể là một người không có trán. Bắt tôi tạo ra một người không có trán, tôi không thể nào chịu nổi.


Một vài anh em bực quá:


- Thôi, xong rồi. Mào đầu nhanh lên rồi vào ngay câu chuyện. Nói dằng dai, sốt ruột quá.


Tư Sắc chậm rãi tiếp:


- Các anh em, chị em ở đây ai cũng biết chuyện “Huyền Trân công chúa” và “Tây Thi - Ngô Phù Sai” rồi.


Như các anh em chị em đã biết, Tây Thi là một cô gái tuyệt đẹp ở thôn Trữ La, nước Việt, làm nghề dệt lụa, được Phạm Lãi dạy cách dùng nhan sắc mê hoặc người rồi đưa sang hầu hạ Ngô Phù Sai, hại vua này mất nước bởi tay Câu Tiễn là vua nước Việt.


Còn Huyền Trân công chúa thì anh chị em lại càng biết quá: nàng là công chúa, con vua Trần Nhân Tông, được vua cha hứa gả cho vua Chàm là Chế Mân. Đến khi Chế Mân sai người đem sính lễ để xin cưới thì triều thần không thuận, vì thế năm Bính Ngọ (1306), Chế Mân phải tình nguyện đem hai châu Ô, Lý làm sính lễ. Vua Trần Anh Tông, anh của công chúa, thuận gả để lấy hai châu ấy sau đổi ra là Thuận Châu và Hóa Châu.


Nói đến đây, Tư Sắc đập một miếng cây vào cái bát đựng cà phê và hát:


Nước non ngàn dặm ra đi,


Mối tình chi!


Mượn màu son phấn,


Đền nợ Ô, Ly.


Xót thay vì


Đương độ xuân thì


Số lao đao hay là nợ duyên gì?


… … …


Vì lợi cho dân,


Tính đem lợi mà cân


Đắng cay muôn phần.


Hát Nam Bình xong, anh ngâm bốn câu:


Lòng đỏ khen ai lo việc nước,


Môi son phải giống mãi trên đời?


Châu đi rồi lại châu về đó,


Ngơ ngẩn trông nhau một lũ Hời!


Tư Sắc ngâm xong lại độc diễn:


- Tại sao “châu đi rồi lại châu về đó”? Là vì đến năm 1307, Chế Mân chết, vua Anh Tông sai Trần Khắc Chung giả mượn tiếng đến thăm, tìm cách cướp được công chúa Huyền Trân đưa về nước để tránh nạn hỏa thiêu, theo phong tục Chiêm Thành.


Rút lại thì hai chuyện “Tây Thi - Phù Sai” và “Huyền Trân công chúa” cho ta thấy gì? Thấy là gái cũng như trai đất Việt, đến khi đất nước cần dùng, bao giờ cũng sẵn sàng xung phong “Có tôi đây!”. Mà riêng gái Việt thì ở vào những lúc như thế, họ coi danh tiết nhẹ mà chỉ biết quyền lợi của đất nước là to, cái chết của mình không có nghĩa gì mà chỉ có sự sống của quốc gia dân tộc mới là điều đáng kể. Nhưng ở cả hai trường hợp vừa nói, cả hai người đẹp hy sinh cho đất nước đều không chết.


Tây Thi được Phạm Lãi cứu vừa kịp lúc, đem xuống con thuyền du ngũ hồ, sống những giờ thơ mộng. Cũng thế, công chúa Huyền Trân được Trần Khắc Chung cướp được, cũng sống một cuộc đời mộng thơ không kém Tây Thi. Là vì Trần Khắc Chung là người tình trước đây của nàng: hoa xưa ong cũ, ai ngờ còn có ngày tái ngộ, đôi trai tài gái sắc kéo dài cuộc ân tình trên mặt biển hơn một năm mới về đến Kinh.


Tư Sắc trông mọi người với đôi mắt lạnh như một lưỡi dao sắc bén, cười:


- Thôi, xong. Bây giờ các anh em chị em có bảo tôi tiếp bài tựa nữa, tôi cũng chịu. Tôi xin vào chuyện chính. Nhưng trước khi kể, thiết nghĩ cũng nên nói trước là người thứ ba, người đàn bà Việt cũng hy sinh cho đất nước, cũng đem thân tuyết trinh ra bán rẻ cho quân địch vì quyền lợi của nhân dân, cũng không quản lặn ngòi noi nước sang đất rợ một mình để phá quân xâm lăng tàn ác từ trong lòng chúng, như Huyền Trân công chúa, như Tây Thi, người đàn bà ấy đến chung cục không có người nào đón rước và cuối cùng đã bị giặc chặt đầu bêu trước chợ.


- Gớm quá, người đẹp ấy là ai mà cứ kể lể con cà con kê mãi vậy?


- Xin bắt đầu vào chuyện.


 


Người đẹp ấy là Ngọc Khoa, con gái thứ ba của chúa Nguyễn Sãi Vương.


Nguyên vào thời đó, giặc ở nhiều nơi nuôi mộng xâm chiếm nước ta. Trong khoảng hai mươi năm, Lê Đại Hành phá Tống bình Chiêm. Đến thời Hậu Lý, Tống lại đem quân sang đánh báo thù và lại bị Lý Thường Kiệt chặn đánh ở sông Như Nguyệt. Quân Tống phải rút về Quảng Nguyên, nhưng sau cùng phải trả Quảng Nguyên cho ta để đổi lấy tù binh.


Còn quân Chiêm thì lại ngoan cố cách khác: thường thường chúng sang quấy nhiễu nước ta, nhưng vào thời đó, điều quan trọng hơn là chúng lại tự ý bỏ lệ triều cống nước ta theo một điều giao ước của vua Chiêm với vua Lê Đại Hành, theo đó thì vua Chiêm xin thần phục vì đã bắt sứ giả của ta.


Các vua nhà Hậu Lý nhiều phen cử binh đi đánh. Qua các cuộc bình Chiêm, cuộc Nam tiến bắt đầu. Chính câu chuyện tôi đương kể đây xảy ra hồi bắt đầu cuộc Nam tiến đó. Chiêm Thành bị Lý Thường Kiệt đánh bại, nằm yên được ít lâu, lại trỗi dậy quấy phá nước ta. Hai viên tướng Chế Nông, Chế Bốc của Chiêm Thành lại gây rối quân ta, nhưng đó không phải là điều quan hệ. Truyền rằng quân xâm lược Chiêm Thành sở dĩ cứ nối tiếp nhau gây rối nước ta như thế, hết đời này sang đời khác là vì nhờ có một cây Cam Xe mọc trước cung điện của Pô Rô Mê.


- Pô Rô Mê là vua Chàm phải không?


- Chính đó. Cây Cam Xe là thần mộc của dân Chàm. Còn Pô Rô Mê là vị vua mà dân Chàm sùng bái vào bực nhất. Chế Củ, Chế Bốc, Chế Nỗng, Chế Bồng Nga không theo bén gót. Là vì Pô Rô Mê tuy là vua Chiêm thật, nhưng thực ra là một vị thần. Mà “Bài ca Pô Rô Mê” của Chiêm Thành đã thuật lại như sau:


“Thần Pô Rô Mê đẹp vô song, đầu như vàng, vai và đùi như đồng trơn, nhẫn đeo chói lọi nơi tay, đôi hài bóng như ban ngày.


“… Khi Pô Rô Mê ngồi trên ngai vàng, thân hình sáng rực lên, đầu phát ra những làn chớp.


“Mỗi lúc trông thấy Pô Rô Mê, tóc người ta dựng đứng lên, hồn xiêu phách lạc vì khuôn mặt của nhà vua sáng như vàng…”.


Bài ca không nói rõ ông từ trên trời rơi xuống hay từ ở dưới đất chui lên, nhưng cứ theo lời dân chúng Chiêm Thành đến bây giờ vẫn còn kể lể cho nhau nghe, thì Pô Rô Mê là con của một cô gái ở Pa Rích (tức là Phan Rí bây giờ). Tôi nói là “một người con gái” vì mẹ Pô Rô Mê là một cô gái hoàn toàn trong trắng, không hề đi lại với đàn ông bao giờ, nhưng một hôm thụ thai vì tắm ở một khe núi nọ có thần linh đang ngự. Thấy con gái như thế, bố mẹ nàng yên trí là con gái mình hư hỏng, nhất quyết đuổi đi. Không nơi nương tựa, cô gái ấy đi lang thang hết các đồi này núi nọ, sống qua ngày bằng củ dại, nước khe. Rồi một hôm, đến một thung lũng kia, cô giở dạ đẻ ra một đứa con trai. Mà ở chỗ ấy tuyệt nhiên không có một làn khóc bốc lên, thậm chí đến cái tiếng gà gô gáy buổi trưa cũng không nghe thấy nốt. Sau một cơn thiêm thiếp, cô mở mắt ra nhìn thì thấy mây đen vần vụ ở trên đầu. Cô tưởng là mưa kéo tới, nhưng hóa ra không phải: một con rồng không rõ từ phương nào bay tới đã đến rửa sạch những vết sinh đẻ của cô và cuốn cả mẹ cả con bay đến một cánh đồng có nhiều người đang gặt. Thấy người con gái và đứa bé sơ sinh khóc oe oe, mọi người chạy lại xem rồi bồng cả mẹ cả con vào trong một cái cầu gần đấy, đốt lửa, cho ăn và đánh một túp lều nhỏ để tránh mưa tránh nắng.


Đứa trẻ lớn lên trông thấy.


Người mẹ bế con đến một làng Ra Đê để hái nấm và măng độ nhật.


Thằng bé ấy chính là Pô Rô Mê.


Pô Rô Mê đi chăn bò cho những người giàu có, bị trẻ con ở đó chế nhạo là “Đồ không cha”. Giận quá, Pô Rô Mê về hỏi mẹ “Cha con là ai?”. Người mẹ trả lời: “Con không có cha bao giờ hết”. Hôm sau, nó lặp lại câu ấy với bạn bè. Chúng vỗ tay: “Thế thì mày là con hoang rồi còn gì nữa!”


Pô Rô Mê ứa nước mắt về nói với mẹ: “Con là một đứa con hoang. Nhục này không chịu nổi. Con phải bỏ làng mà đi, dù chết đói cũng còn sướng hơn là ở đây”.


Pô Rô Mê đến làng Ha Mu tại xứ Ka Rang. Bị chê bai nữa, nó lại đi đến làng Bo Mo Thu tại xứ Pan Rang. Nơi đây, trẻ nhỏ đỡ tàn ác hơn. Chúng coi Pô Rô Mê là bạn. Pô Rô Mê được chúng giới thiệu giữ trâu cho vua Mo Ta Ha. Trong những lúc chăn trâu trong rừng, Pô Rô Mê học hát, học bắn cung. Về tài bắn cung thì bao nhiêu trẻ nhỏ và cả người lớn – kể cả các hiệp sĩ cao cường võ thuật – đều phải chịu thua tài Pô Rô Mê. Không bắn thì thôi, chớ một khi đã giương nỏ lên để bắn, chim gáy, gà gô, công, sáo sậu… thể nào cũng lăn ra chết. Còn tiếng hát của y thì kỳ tuyệt: cất tiếng hát, cây cối, núi non, sông hồ, chim muông đều phải dừng cả lại để nghe, mà riêng bầy trâu của y chăn, tản mát mỗi con một chỗ trong rừng, hồ nghe thấy thì cúi đầu chạy ùa cả về chỗ Pô Rô Mê đứng đợi. Có một hôm kia, Pô Rô Mê đương nằm khểnh trên một cây đại thụ nhai trầu, vừa định nghiêng đầu nhổ bãi quết trầu thì chợt thấy ở dưới gốc cây có hai con mắt long lanh đỏ hiện ra, rồi toàn thể cái cây cong queo, uốn éo thành ra một con rồng, lá là vẩy, ngọn là đầu, còn gốc là đuôi. Con rồng bay lượn một hồi lâu rồi biến mất. Đất ở chỗ ấy đùn lên, đùn lên mãi thành một cái núi, bây giờ người ta kêu là Núi Mắt Đỏ (Cheek Bhong Meeta) hiện còn nằm ở Pan Rang.


Pô Rô Mê thấy thế hoảng sợ, nhảy từ trên cây xuống, cắm đầu bỏ chạy. Y chạy mãi, chạy mãi, rồi lạc, không biết đường về. Quân hầu của nhà vua thấy mất Pô Rô Mê và bầy trâu, đổ đi tìm. Mấy hôm sau mới tìm thấy Pô Rô Mê nằm ngủ ở dưới chân một ngọn đồi bên một khe suối, chung quanh có ác thú nằm vây lại, như thể để canh y vậy.


Pô Rô Mê sống yên ổn như thế được ít lâu. Bỗng một hôm nhà vua lâm bệnh. Vị thầy cả chiêm tinh, nổi tiếng là coi số thuật hay nhất lúc bấy giờ, được mời vào triều để xem số cho Ngài. Giữa khi thầy cả tâu lên rằng mệnh Ngài còn vững, ít ra Ngài cũng còn trị vì được vài năm nữa thì tiếng của Pô Rô Mê đuổi chó vang đến chỗ Ngài ngự. Vị thầy cả giật mình hỏi:


- Tiếng ai vậy?


Một quân hầu tâu lên:


- Thưa, đó là Pô Rô Mê.


Vị thầy cả bèn truyền kêu Pô Rô Mê lên hầu. Nhìn tướng mạo xong xuôi rồi lại nghe tiếng nói của y thêm lần nữa cho kỹ càng, thầy cả cho Pô Rô Mê lui xuống bếp rồi tâu với nhà vua:


- Tâu bệ hạ, thần đã coi kỹ tướng mạo và nghe kỹ tiếng nói của Pô Rô Mê: Đó chính là người sau này sẽ là vua Chiêm Thành. Bệ hạ nên nuôi nấng y cẩn thận và cho học hành chu đáo.


Vua Mo Ta Ha, theo đúng chỉ dạy của vị thầy cả, cho y ở riêng biệt một nơi, phái người dạy chữ và dạy lễ. Ít lâu sau, Pô Rô Mê thành một thanh niên mạnh khỏe, đi đứng hiên ngang, nói năng hoạt bát, làm cho ai cũng phải kính sợ, nể vì. Đức vua bèn gả công chúa cho chàng và một năm sau đó thì truyền ngôi cho chàng.


Ăn ở với vợ là Bia Than Chi ngót hai năm vẫn không sinh được mụn con nào, Pô Rô Mê đi về phía Tây đến xứ người Ra Đê kiếm một phương thuốc nổi tiếng là thần diệu để giúp cho hoàng hậu có con. Nhưng cùng chuyến đi ấy, Pô Rô Mê lại đem về một người đẹp Ra Đê, tên là Bia Than Chan.


Hoàng hậu Bia Than Chi nhờ được phương thuốc của Pô Rô Mê kiếm về, sinh được một nàng công chúa, Pô Rô Mê gả cho ông hoàng Bích Chích (Phik Cheek).


Bia Than Chan, tức là người vợ gốc Ra Đê, thấy thế buồn lắm, bèn thu nạp thủ hạ thân tín lén kết bang giao với vua Việt Nam lúc bấy giờ. Trong số các thủ hạ, có con rể của Pô Rô Mê là Bích Chích. Chính Bích Chích đã tố cáo với vua Việt Nam tính háo sắc của Pô Rô Mê.


Nắm được cơ hội tốt, vua Việt Nam bèn họp đình thần lại, tương kế tựu kế tìm mưu để thao túng Pô Rô Mê. Lý lẽ viện ra như sau: “Nước Chiêm Thành sở dĩ liên tiếp quấy rối nước ta không chịu thần phục hẳn, mà lại còn manh tâm phản bội là khác, chính vì thần mộc Cam Xe mọc ở trước dinh thự của Pô Rô Mê. Bây giờ có lung lạc được Pô Rô Mê thì mới hy vọng hủy diệt được cây thần mộc”.


Phải làm sao bây giờ? Triều đình nước ta bàn nhau tái diễn cái kế của Việt Vương Câu Tiễn đem Tây Thi cống hiến Phù Sai. Vua bèn đem ý kiến đó ra hỏi hết thảy các vị quan to có con gái đẹp lúc bấy giờ, nhưng người quốc sắc mà lại đủ tài cầm kỳ thi họa xét ra có đủ khả năng lấy Pô Rô Mê rồi từ đó dụ hoặc y, làm cho y mê mẩn tâm hồn, nhất nhất bảo gì cũng nghe theo, người quốc sắc thiên tài như thế, lọc lựa mãi rút lại chỉ còn một người. Và người ấy chính là công chúa ba. Nghe kể mưu đồ của triều đình, nhằm tiêu diệt quân phản bội nuôi mộng xâm lăng đất Việt, hầu đem lại một nền hòa bình trường cửu cho dân tộc, công chúa Ngọc Khoa chịu liền.


Theo dân chúng Chàm bây giờ còn nhớ lại lời ông cha họ kể cho nghe những buổi mưa chiều nắng sớm, Ngọc Khoa giả làm một người đi buôn vào đất Chiêm Thành. Danh tiếng của cô nàng khả ái mỹ miều đồn đến tai Pô Rô Mê. Ngài bèn cho mời đến. Vừa trông thấy mặt Ngọc Khoa, Ngài say mê liền, cưới về làm vợ ba và kêu là nàng Bia Út. Theo nguyên văn của bài ca Chàm nói về vụ này, còn truyền tụng đến bây giờ, thì công chúa Ngọc Khoa cùng hai thể nữ xuống thuyền vượt biển, trên bảy ngày đến nơi. Đồn canh ở biên giới báo động, người Việt ở trong thuyền cho hay: “Chúng tôi đưa công chúa nước tôi sang quý quốc”. Vua Pô Rô Mê tự mình đến, gặp công chúa trang sức cực kỳ lộng lẫy, không gì có thể sánh bằng. Trông thấy nàng, vua đã yêu ngay, nàng yêu cầu làm lễ thành hôn. Lễ cưới trọng thể, trâu bò giết vô số([2]).


Giả làm người buôn bán để sang đất Chiêm Thành, hay cùng đi với thể nữ với tư cách một nàng công chúa, sự kiện đó không có gì quan hệ. Chúng ta chỉ cần biết là Pô Rô Mê, vị vua háo sắc, được Ngọc Khoa làm vợ rồi, say mệt say mê, quên cả hai bà vợ hiền là Bia Than Chi và Bia Than Chan. Tất cả đàn bà con gái ở trong triều thấy Bia Út, hoàng hậu Út, người Việt Nam được đức vua sủng ái như thế đều ghen ghét, thậm chí họ đã liều chết khuyên can vua phải nhớ đến bổn phận cứu dân giữ nước, song le bao nhiêu lời khuyên đó đều như nước đổ lá khoai.


Sau khi đã mê hoặc được Pô Rô Mê và gạt hai hoàng hậu Miên xuống gót chân rồi, hoàng hậu Út mới bắt đầu thực thi mưu kế đã được ấn định và dặn dò kỹ lưỡng lúc ra đi.


Bây giờ nhắc đến Bia Út, người Chàm vẫn còn hát với nhau:


“Trong vòng ba tháng, hoàng hậu Út đã dùng sắc đẹp và mưu mẹo làm cho nhà vua mê đắm rồi vờ bệnh nặng, không có thuốc thang nào trị nổi. Vua đến thăm, hoàng hậu Út vờ bệnh nặng lên, kêu rên thảm thiết vô cùng. Các bậc thánh chiêm tinh, số thuật được vua mời đến chữa bệnh cho người thương của Ngài. Xem xét, nghiên cứu tướng mạo và số thuật rồi chẩn bệnh đi, nghe mạch lại, đều chịu không tìm ra bệnh gì. Không có gì khác, sao lại bảo là có bệnh? Họ nhìn nhau, lắc đầu, tỏ vẻ nghi ngờ, tức thì nhà vua la hét ầm cả cung điện lên, khiến cho tóc của những ông quan đứng đó đều dựng đứng cả lên, hồn xiêu phách lạc vì tiếng nói của nhà vua sang sảng như tiếng vàng chen tiếng sắt:


- Lũ ngu ngốc kia sao dám nghĩ là hậu của ta không có bệnh tật gì cả? Nếu không đau, sao hậu lại kêu rên thảm thiết làm đứt lòng đứt ruột ta như vậy?


Nói rồi đuổi hết cả danh y, tướng thuật đi khỏi cung, lập tức truyền gọi các bà đồng đến hỏi. Theo lời dặn dò bí mật của Bích Chích và đồng bọn, các bà đồng làm phép xuống âm hỏi các hồn linh rồi trở về tâu rằng: “Bệnh tình của hoàng hậu Út do cây Cam Xe, thần mộc của Chiêm quốc gây ra”.


Đêm hôm ấy, nhân khi thanh vắng, Pô Rô Mê hỏi Bia Út:


- Hậu đau ở đâu?


- Thần thiếp không biết rõ, nhưng dường như ở bụng.


Nói đoạn, Bia Út cựa mình, Pô Rô Mê nghe thấy xương nàng kêu răng rắc. Thực ra, đó không phải là tiếng xương kêu, nhưng là tiếng bánh tráng bể vì Bia Út đã cố ý mỗi khi lăn lộn rên xiết thì bánh vỡ kêu răng rắc, nghe tưởng là tiếng xương kêu.


- Hậu ơi, ta không có hậu không thể nào sống nổi. Ta chiều tất cả ý muốn của hậu, hậu muốn gì cứ nói.


- Bệ hạ để cho thiếp chết. Thiếp không bao giờ dám nói ý muốn của thiếp ra với bệ hạ vì e có tội.


- Tội gì ta cũng tha thứ cho hậu hết, miễn là hậu sống được thì thôi.


- Tâu bệ hạ, đã nhiều đêm lăn lộn giữa cái sống và cái chết, thiếp thấy một vị thần mặt đỏ, mắt xếch, râu hàm, hiện đến bảo thiếp rằng, thiếp vô phúc không thể nào sống nổi để mà hầu hạ quân vương. Trong cơn mơ màng như thế, chính thiếp thấy thiếp quỳ lạy vị thần linh, xin cho thiếp sống, “vì cái ân của quân vương đối với thiếp như trời cao bể rộng, ví thiếp có đem máu đào xương trắng ra đền bù cũng không thể đáp được cái nghĩa của quân vương đối với thiếp trong muôn một”. Lạy như thế đến đêm thứ ba, vị thần linh mới bảo thêm rằng: “Cái số của con thì vắn nhưng tấm lòng của con thì quý, thần thánh lấy làm cảm động nên đã ưng thuận cho con sống thêm hai con giáp nữa nhưng với một điều kiện là chặt ngay cây Cam Xe đi liền, vì bao nhiêu tật bệnh của con đều do thần mộc ấy gây ra cả!”.


Nghe thấy giấc mộng của Bia Út phù hợp với lời tâu của các bà đồng thiếp xuống âm để hỏi các hồn linh. Pô Rô Mê đứng dậy la lên:


- Tại sao bây giờ hậu mới nói với ta chuyện đó? Chặt cây Cam Xe nào có khó gì đâu mà ngại?


- Tâu bệ hạ, bệ hạ có lòng thương thiếp thì nói thế, chớ cái phận hèn mọn này dù biết vậy mà không dám nói ra là vì đã biết cây Cam Xe là thần mộc, bây giờ bệ hạ cho đốn đi vì thiếp, e rằng các quan to trong triều đình không bằng lòng và trút hết tội lỗi lên đầu thiếp…


Bị chạm đến lòng tự ái, Pô Rô Mê la hét quân hầu ầm ĩ. Đầu ngài như vàng phát ra những lằn chớp, vai và đùi như đồng trơn sáng rực lên như đốt cháy. Pô Rô Mê ra lịnh cho quân hầu sửa soạn đẵn cây Cam Xe liền.


Nghe được tin dữ đó, các quan quỳ mọp xuống dưới đất tâu lên:


- Nếu cây Cam Xe bị đốn, vương quốc sẽ nguy. Từ bao nhiêu đời nay, ai cũng biết thế, mà Trời cũng dạy ta như thế. Lời dạy đó còn ghi trong một đạo bùa từ trên trời thả xuống, bây giờ hãy còn giữ được trong Thái miếu để thờ!


Thôi, bây giờ muốn nói cách gì đi nữa thì Pô Rô Mê cũng chẳng thèm để vào tai. Phải đốn cây Cam Xe ngay lập tức! Ai trái ý, sẽ bị chôn sống. Và ngài lại hét lên:


- Bớ thần mộc, ta đốn ngươi và ta cần phải đốn ngươi đi vì ngươi bội bạc với danh vị mà ta đã đưa ra để đãi ngươi.


Ngay hôm đó, cuộc đốn cây Cam Xe bắt đầu. Trước khi đốn, tất cả các quan lớn, nhỏ trong triều, mũ cao áo dài, mổ ba con trâu, giết không biết bao nhiêu heo, gà, vịt để làm lễ tế cây, xin phép đốn. Vừa lễ xì xụp, các quan vừa khấn: “Xin thần mộc chứng giám cho lòng của chúng tôi, quả chúng tôi không bao giờ dám tự ý làm điều càn rỡ. Chẳng qua chúng tôi làm đây là theo ý của hoàng thượng truyền ra. Mà thần mộc, xin thần cũng chớ nên phật ý hoàng thượng vì hoàng thượng muốn tức là Trời muốn”. Bao nhiêu lá cây Cam Xe, tự nhiên không có gió, rụng rào rào xuống đất. Sau này, các cụ già từng chứng kiến vụ này kể lại cho cháu chắt nghe, bảo rằng lá rụng đó tức là nước mắt của cây chảy ra vậy. Rồi một lát sau, cây cất lên tiếng nói rất buồn: “Tôi có tội gì đâu mà đốn tôi đi, chẳng qua là vua nghe lời xiểm nịnh của bà vợ Việt Nam, sau này hối hận không còn kịp nữa”.


Lễ xong, vua quan cùng dân chúng xúm lại hạ cây thần bằng đao búa, bằng móc câu, bằng dao quắm, bằng tầm sét, nhưng hạ như thế suốt hai ngày trời mà cây cứ đứng trơ ra, không chuyển động. Là vì những vết đao, búa, tầm sét, móc câu đốn vào thân cây đều liền lại, đao búa vừa rút ra thì từ thân cây tiết ra một thứ nước nhờn, đỏ như vang, hàn gắn liền ngay khi ấy những vết thương kia lại. Người ta đem bảy con voi đến cột vào gốc cây để cho chúng kéo thân đổ xuống, nhưng cũng vô ích nữa. Cây Cam Xe dường như có hàng ngàn vạn thần linh tiếp sức để cho nó đứng trơ như đá, vững như đồng. Ai cũng rởn tóc lên. Riêng có vua Pô Rô Mê không sợ. Ngài nổi giận đùng đùng, sai quân lính kiệu Ngài đến tại chỗ. Ngài chỉ vào cây, mắng chửi hồi lâu rồi cầm lấy một cái rìu lớn nhất, nặng nhất, bổ vào cây liền ba nhát. Bao nhiêu người đứng đó trông thấy từ cái rìu tiết ra một ngọn lửa đỏ đòng đọc rồi ở bốn chung quanh, dường như có tiếng kêu than vọng lại. Thế rồi cây đổ gục xuống, bao nhiêu rễ bật cả lên khỏi mặt đất và một chất nước đỏ tuôn chan hòa trên mặt đất, y như máu người. Người nào bị máu của cây bắn vào mình bị chết ngay tại chỗ. Còn về phần cái cây thì đổ xuống rồi, nó còn rên rỉ như một con voi, ba đêm ba ngày chưa nín.


 


“Cây thần chết rồi”, “Cây thần Cam Xe chết thật rồi!”. Dân tộc Chàm truyền tin ấy cho nhau và khóc cả một tháng trời không ráo nước mắt.


Người Việt thấy thế cũng động lòng trắc ẩn, nhưng biết làm sao được? Một khi mà các vua Chàm vẫn còn ngoan cố, mưu định xâm lăng nước Việt và không ngớt quấy rối biên cương, vua Việt không thể dung túng họ với ý đồ bạo ngược, tham tàn như vậy. Bèn gửi thư cho Pô Rô Mê, yêu cầu con rể và con gái về thăm, lấy cớ là ngài ngọa bệnh. Thư có đoạn như sau: “Nếu Pô Rô Mê hoàng đế vì công việc triều chính bận rộn không qua nước Việt được thì cũng xin để cho hoàng hậu về thăm nhà một ít ngày vì thái hoàng, thái hậu nhớ con khắc khoải, mà các chị cũng muốn gặp mặt em trò chuyện hàn huyên để cho vơi bớt niềm thương nỗi nhớ”.


Ngoài ra, trong thư còn có một đoạn yêu cầu Pô Rô Mê ký kết với Việt một hiệp ước long trọng thừa nhận chủ quyền của Việt Nam và cam kết từ giờ sắp sau sẽ thần phục và triều cống như trước, không bao giờ lại giở giáo và ngoan cố nữa.


Pô Rô Mê không trả lời. Hơn thế, lại cho người gìn giữ biên cương cẩn mật hơn cả bao giờ hết, nhất định không để cho Bia Út rời khỏi cung điện một giây, ngoài ra lại còn họp triều thần quyết định một thái độ dứt khoát với vua nước Việt.


Hay tin đó, vua Việt tức giận con rể không biết chừng nào, ra lịnh cho binh lính ào ạt tấn công Chiêm Thành trị tội và cũng là để cứu công chúa ba ra khỏi cái đất buồn tênh tiếng hát líu lo, mông mênh cát đỏ, từng chặng lại chênh vênh những ngọn tháp bí mật dường như mọc từ đời thần thoại.


Chính Pô Rô Mê cầm quân ra đánh toán quân đầu của ta. Chàng khỏe mạnh như một vị thần khỏe mạnh nhất trong các cổ tích Chàm, nhưng quân ta lại mạnh hơn thế nữa, toán này vừa thấm mệt thì toán khác lại đến thay, hết ngày nọ sang ngày kia kéo tới trùng trùng điệp điệp, càng đánh lại càng hăng, mỗi lúc lại đông hơn gấp bội, đánh chỗ nào, y như là chẻ tre chỗ đó. Trước cái khí thế ào ào như thác lũ của ta, quân Chiêm sợ hãi chui cả vào hầm để trốn. Một số đông tướng lĩnh xin hàng. Còn binh sĩ Chàm, phần đánh nhau lâu kiệt quệ, không kham nổi sức tấn công như vũ như bão của ta, mật bàn với nhau hạ khí giới xin ngưng chiến, nhưng Pô Rô Mê được thám báo cho biết như thế, ra lịnh bắt và xử tử.


Chiêm quốc sống những giờ rối ren chưa từng thấy trong lịch sử. Pô Rô Mê vẫn không chịu bó tay. Nhưng rồi có một lúc chính mình nhận thấy thế cùng lực tận rồi, Pô Rô Mê phải họp một hòa nghị toàn dân, toàn quân lại để lấy ý kiến phải đối phó với vua Việt ra thế nào. Hai bà Chúa người Miên ngỏ ý nên tìm đến chỗ cây thần mộc bị hạ đặt lễ xin tạ tội với cây thần mộc rồi lấy thân cây làm ván, cành cây làm cột buồm, rễ cây làm bánh lái, đóng một cái thuyền thần để cho vua thân chinh xuống đó băng sông vượt biển, đánh thẳng vào trái tim nước Việt, phá ngay nước Việt từ nơi quân lính xuất phát và tiêu diệt ngay từ ổ tiếp tế thực phẩm và binh sĩ.


Vua cho đề nghị ấy chính đáng, xuống lịnh triệu tập ngay lập tức mười tám ngàn thợ để đóng thật lẹ một chiếc thuyền lớn nhất thời bấy giờ và hẹn nội trong bảy ngày phải xong xuôi. Đúng hẹn, hoàng đế Pô Rô Mê nai nịt gọn gàng, mang cung ở vai, đeo tên tẩm thuốc độc bên mình, cầm ngang ngọn giáo bước xuống thuyền. Lúc ấy, đầu Pô Rô Mê phát ra những lằn chớp rùng rợn hơn cả bao giờ hết, tóc của bàn dân đưa tiễn Ngài dựng đứng cả lên, hồn xiêu phách lạc vì khuôn mặt nhà vua dữ như mặt một thiên tướng bằng vàng.


Thì ra cây thần cũng có khác cây thường! Mặc dầu đã bị đốn và chết lăn ra như con voi rồi, gỗ của cây Cam Xe đóng thành thuyền vẫn có một sức mạnh kỳ bí và huyền diệu không thể nào tưởng được. Không cần chèo, không cần lái, cái thuyền khổng lồ ấy cứ tự ý trôi đi vun vút, y như thể có hàng ngàn, hàng vạn tay chèo vô hình lèo lái. Đứng ở trên bờ trông theo, người ta thấy những lằn chớp phát ra từ đầu Pô Rô Mê loang loáng như sấm sét lòe ra trong một đêm tối trời, rồi những lằn chớp ấy kéo dài mãi ra liên tiếp, không dứt. Thế là bao nhiêu người ở đó không ai bảo ai, quỳ cả xuống bờ bể mà lạy đấng tối cao đã cho họ “một vị thần chỉ huy có một bộ óc nối liền trời với bể, mây với nước, một vị thần đi trên đất thì làm cho đất đau đớn, mà phi trên nước thì làm cho bao nhiêu nước rung chuyển và kêu than cùng khắp cõi đời”.


Quả nhiên quân Việt bị đánh tơi bời. Sau này, “Bài ca Pô Rô Mê” thuật đến đoạn này, kể lại rằng “Pô Rô Mê chỉ một cái, có những tảng đá nặng hàng ngàn tấn rơi vào đầu dân Việt, chết đầy cả mặt đất. Pô Rô Mê la lên một lời, tức thì có những con chim sắt tung ra những độc tố phá hủy mùa màng, làm thành mưa bão tạo thiệt hại không để đâu cho hết, mà lại còn có thể gây ra những bệnh dịch làm cho người Việt chết trong khoảnh khắc”.


Trước sự độc ác vô ngần của giống Chàm xâm lăng nuôi ý đồ tiêu diệt người Việt, làm cho Trời phải oán hận, Đất phải căm hờn, quân Việt thề phải tiêu diệt cho kỳ được quân bạo Chàm, dù phải hy sinh xương máu trong mười, mười lăm năm hay hơn thế nữa. Khắc chữ vào tay, vẽ lên trên quần áo, quân Việt thề “thà chết hai mươi tuổi còn hơn làm nô lệ quân Chàm”. Quân Chàm càng giết, quân ta đánh lại càng hăng, và càng uất ức thì những người dân tình nguyện xung phong ra trận lại càng đông.


Vua Pô Rô Mê, dù là thần cũng thấm mệt, mà quân lính của ngài vì thiếu chính nghĩa, đánh mãi cũng thấy chán chường cái cảnh máu chảy thịt rơi. Quân ta, chờ đúng giờ đúng phút, xuất toàn lực đánh một đòn quyết liệt, đổi thế thủ ra thế công, đánh lại quân Chàm tan nát, có khi không chạy kịp. Đồng thời, ta lại dùng cọc sắt và xích sắt chắn sông nước lại, đắp be bờ để cho nước không thể lưu thông, lại thả nỏ xuống cửa bể, cửa sông phá nổ thuyền bè của địch.


Chiếc thuyền thần làm bằng gỗ cây Cam Xe không hiểu vì kỵ sắt hay vì sợ máy nỏ của ta thả xuống nước, tiến đến chỗ có cọc sắt và xích sắt thì đứng dừng hẳn lại, muốn làm cách gì cũng không chịu tiến thêm lên nữa. Pô Rô Mê ngửa mặt lên trời hét ba tiếng. Miệng Ngài bốc ra lửa, tiếng của Ngài âm vang đến một trái núi xa đấy hai dặm và bao nhiêu cây cối vì bị sức ép, gục xuống ầm ầm. Lửa ấy, theo dân Chàm bây giờ kể chuyện với nhau, đốt cháy mất nhiều cây tháp cổ, không thế thì tháp Chàm còn nhiều gấp trăm và cũng lớn gấp trăm bây giờ. Còn trái núi có cây đổ vì sức ép của tiếng hét Pô Rô Mê thì bây giờ là cái đồi trọc Mu Gajang trên có đền Mỹ Sơn (Trà Kiệu).


Đồng thời, cả đoàn thuyền đi theo thuyền thần của nhà vua cũng chơi vơi. La hét cùng trời chẳng thấy ăn thua, Pô Rô Mê quăng ngọn giáo xuống nước, rút gươm ra chém đứt đầu mũi thuyền thần. Thuyền lạng đi rồi chìm dần xuống nước, đồng thời đoàn thuyền theo sau cũng đắm luôn.


Quân Việt ào tới giết quân Chàm không tiếc tay. Máu làm đỏ rực cả một khúc sông và đông đặc lại làm cho nước sông không chảy được. Bây giờ, chỗ ấy thành ra một cái bãi kêu là bãi Chà Bàn.


Về phần Pô Rô Mê thì đến tận lúc đại nguy nan như thế vẫn không chịu thua quân địch: Ngài lặn xuống đáy sông, trọn một ngày, rồi thừa lúc đêm hôm khuya khoắt, bơi tít ra ở một nơi xa, trèo lên trên bờ, vừa đi vừa xóa những vết chân hằn lên trên cỏ nên quân Việt không biết đâu mà tìm.


Pô Rô Mê ẩn trong một cái hang kỳ nhông ở độn cát. Vì ở cửa hang có cây cối um tùm và có giống nhền nhện khổng lồ chăng tơ bít lấy cửa hang như thể dây tơ hồng, quân Việt không thể nào tìm thấy. Kiểm soát hai ngày không thấy bóng dáng Pô Rô Mê, quân Việt đã tính bỏ đi thì chẳng may có một con tắc kè cất lên tiếng kêu ai oán và dài dặc. Quân lính Việt nghe thấy tiếng kêu đó lại tưởng là tiếng rên của một người bị thương, gỡ những sợi tơ bít cửa và tìm thấy Pô Rô Mê. Thế là họ ào cả lại, lấy dây thừng tam cố thòng vào cổ Pô Rô Mê và chặt lấy đầu Ngài – cái đầu mà bài hát Chàm ca ngợi là trông đẹp như vàng vậy.


Truyền rằng cái thân xác của Pô Rô Mê, sau khi mất đầu rồi vẫn không chịu thất bại, nghỉ một giây lâu lại vùng đứng dậy đi khật khà khật khưỡng về cung điện. Bất hạnh lúc thây ma không đầu tóc đi qua một cánh đồng cỏ, có một lũ chăn trâu trông thấy la lên: “Ơ kìa, cái thây ma không đầu mà đi được, lạ chưa?”, thế là cái thây ma của Pô Rô Mê ngã gục xuống đất, không bao giờ dậy được.


Còn cái đầu “đẹp như vàng” của Pô Rô Mê thì quân lính Việt cắt đem về doanh trại, cất kín vào trong một cái buồng tối âm u; nhưng sáng hôm sau, tìm lại thì không còn nữa. Quân lính đổ đi tìm kiếm khắp mọi nơi không thấy, thì kỳ lạ thay, đêm hôm sau, cái đầu lâu ấy lại quay trở về buồng tối âm u mà nằm nguyên vẹn ở chỗ cũ, như không có chuyện gì lạ xảy ra. Người ta bảo rằng, cái đầu lâu của Pô Rô Mê tiếc nuối Bia Út đã về nơi điện ngọc đền vàng xưa cũ để tìm nàng, nhưng tuyệt mù tăm cá bóng chim nên chán nản lại quay trở lại, với hy vọng được thấy Bia Út trở về với cha mẹ và các chị trên đất Việt.


 


Thì ra Pô Rô Mê, mặc dầu là thần, một khi đã chết cũng nghĩ sai, đoán trật như những người tầm thường trên đời này. Bia Út không còn ở trong cung điện quốc vương Chàm nữa mà cũng không bao giờ trở lại quê hương thơm ngát với đồng bào thương mến ngày nào.


Sau khi được tin Pô Rô Mê đã bị quân lính Việt bằm thây và cắt lấy thủ cấp đem về nước, bao nhiêu quan cao chức trọng trong triều còn sống sót đã họp một phiên tối khẩn với vị hoàng hậu người Miên Bia Than Chi và vị hoàng hậu người Ra Đê, Bia Than Chan, bắt giữ Bia Út, chằng dây vào khắp người rồi buộc vào chân mười bảy con voi cho chúng phanh thây.


Còn cái thây của Pô Rô Mê thì triều đình Chàm ướp bằng một trăm hai mươi thứ hoa thơm để trong một cái nhà quàn dựng bằng những cành cây Cam Xe thần để cho dân chúng đến chiêm ngưỡng và lễ bái trong một trăm ngày rồi mới đem hỏa táng.


Hoàng hậu Bia Than Chan, từ trên đàn cao, nhảy vào lửa chết theo chồng. Về sau, tưởng nhớ đến mối tình chung thủy vô vàn của bà ta, người Chàm tạc tượng Bia Than Chan đặt ở trong tháp Pô Rô Mê – một cái tháp cao bốn tầng, ở tiền điện mỗi tầng đều có tạc tượng thần và có những cái trụ cất theo hình nụ sen. Bà Bia Than Chi cũng được người Chàm tạc tượng, nhưng chỉ để ở phía ngoài tháp mà thôi.


Cho đến tận bây giờ không ai biết là lúc hỏa táng Pô Rô Mê thì người Chàm có làm thêm một cái đầu lâu giả hay chỉ hỏa táng cái thây không thôi, bởi vì người ta biết đích xác rằng cái đầu lâu của Pô Rô Mê từ khi quay trở lại căn buồng tối âm u trong hoàng cung nước Việt thì ở luôn tại đó, không còn đi đâu nữa.


Thấy thế tội nghiệp – dù sao Pô Rô Mê cũng là một người anh hùng đã chiến đấu oanh liệt cho vương quốc Chàm, thêm nữa lại có cái tình con rể với mình – một hôm vua Việt truyền đem cái đầu lâu đó đi chôn cất tử tế ở một cái đèo giữa biên giới hai nước Việt – Chàm. Nhưng sắp đem chôn, cái đầu lâu ấy cất tiếng sang sảng nói cùng vua Việt: “Đừng chôn cất làm chi. Dùng đầu lâu tôi làm cái đồ đựng rượu, không có nước nào thôn tính nổi Việt Nam!”.


Vua Việt nghe thấy thế bèn phán với quần thần:


- Quả là vị vương này có một sức mạnh phi thường cả về tinh thần lẫn vật chất.


Bèn làm đúng theo lời của đầu lâu đã bảo, sai thợ khéo chuốt cho thật đẹp, thì quả nhiên, trải qua nhiều triều đại, không có nước nào thôn tính nổi Việt Nam. Đã đành rằng trong các cuộc tiêu diệt xâm lăng, để bảo vệ cho lãnh thổ, ý chí quyết chiến quyết thắng của toàn dân là điều kiện chính yếu, nhưng dù sao ta cũng phải nhận rằng sự ủng hộ tinh thần của các nước anh em,  của các phần tử địch cảm phục lòng tốt của ta mà quay về chính nghĩa với ta cũng là một yếu tố có một tính cách quan trọng không phải là nhỏ.


(còn tiếp)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 







([1])  Quái xe: ăn cắp xe. Lúc Pháp mới trở lại Đông Dương sau Thế chiến thứ nhì, có phong trào đánh cắp xe jeep và vũ khí của Mỹ cho Pháp.




([2]) Nguyên văn bài ca Chàm này đã được ông Hoàng Trọng Miên dịch đăng trong “Việt Nam Văn học toàn thư”.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.04.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 18.04.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 12.04.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 09.04.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.04.2019
Kẻ sỹ thời loạn - Vũ Ngọc Tiến 07.04.2019
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 04.04.2019
Quỷ Vương - Vũ Ngọc Tiến 04.04.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
xem thêm »