tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24011793
Tiểu thuyết
26.06.2018
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


3 giờ sáng ngày mồng 5 tháng 9 năm 1948, chiến dịch Nguồn Tả bắt đầu.


Đêm ấy là một đêm không trăng sao. Bên nguồn dòng sông Hương, gió thổi hiền hòa như không cố một dấu hiệu gì báo trước một cơn binh lửa sắp nổ ra. Làng mạc ven sông im ắng. Không một tiếng chó sủa. Các đồn bốt của quân Pháp đóng dọc con đường hàng tỉnh số 3 hình như im lìm trong giấc ngủ đã lâu. Các bốt hương dũng hình như cũng đã lâu lắm chưa đánh lên những hồi trống cầm canh. Tất cả đều không biết rằng trong khi ấy thì từng đoàn người có vũ khí, như một con rắn dài vẫn lượn mình bò ven bờ sông, trên những con đường mòn ướt đẫm sương. Những đoàn quân đã được giao một nhiệm vụ nhất định, nhiều khi đi ngang qua một bốt hương dũng đang im lìm mà họ vẫn lặng lẽ đi thẳng. Đi qua rồi, mới có những tiếng xì xào rất khẽ: “Chà ngon quá, cho miềng làm một cái thì không cần: đánh đấm chi, cứ tới lay mỗi người một cái cũng đổ bốt...”.


Cứ như thế, các đơn vị quân đội Việt Nam lặng lẽ tới bố trí ở các địa hình mà từ lâu họ đã nghiên cứu trên bàn cát. Lặng lẽ, từng phút xiết chặt vòng vây.


Tiểu đoàn 18 đánh Bình Điền, tiểu đoàn 17 đánh La Ngoi và bố trí chi viện. Và cho tới 6 giờ sáng, trước khi máy bay địch có thể can thiệp, cả hai đồn lớn đều bị tiêu diệt, cũng như tất cả các bốt hương dũng ỏ các làng ven đường. Và quả như kế hoạeh dự đoán, như một đoàn rắn mất đầu, chiều tối hôm ấy quân của sáu bốt dọc đường hàng tỉnh số 3 rùng rùng bỏ bốt địch kéo về xuôi. Và đến 7 giờ thì cả đoàn xe địch gồm hai mốt chiếc lọt vào ổ phục kích của quân ta và bị đánh tan tành, chỉ một số tên chỉ huy ngồi trên hai chiếc xe Jeép đi đầu chạy thoát.


*


Chính trong lúc đánh phục kích đoàn xe này, Quý dược thấy Hồ, lúc này đã bị giáng xuống làm trung đội phó trung đội anh, một lần nữa có những cử chỉ thật lạ lùng. Lúc ấy trời hãy còn nhập nhoạng. Ấy là bởi vì ở trên miền núi cao này, ánh mặt trời thường tắt muộn, và vào những tháng cuối thu này, sương sớm cũng khá dày.


Lệnh của đại đội ban ra là phải tuyệt đốí giữ im lặng, không để lộ hình tích, chờ cho bộ phận lớn đoàn xe địch lọt hẳn vào ổ phục kích của quân ta rồi mới nổ súng theo hiệu lệnh chung của đại đội trưởng. Nơi chỗ trung đội của Quý bố trí lại là nơi gần đường cái nhất, họ có nhiệm vụ tiếp cận quân địch sau khi loạt đầu tiên đã nổ.


Lúc bấy giờ đoàn xe địch đang chạy trên đường cái, nhưng mới chỉ là hai chiếc xe Jeép đi đầu. Cũng chính lúc ấy là lúc mà tim của những người phục kích đập rộn ràng hơn bao giờ hết: trong lòng họ như có những ngọn lửa đốt, họ cảm thấy thời gian chạy sao mà chậm quá. Bởi vì ai cũng biết rằng vào lúc ấy, một cái lệnh phát ra đúng lúc hay không là có ảnh hưỏng đến toàn trận đánh, chậm một tí hay nhanh hơn một tí đều không được. Và bất cứ một sự để lộ nào, bất cứ một sự động đậy nào của những người phục kích đều không được. Chính trong lúc chỉ nghe có tiếng đập của quả tim mình như vậy mà anh đội viên Quý phụ trách súng máy bỗng thấy trước mặt mình có cái gì động đậy. Lạ thật, không lẽ lại là một con chồn hay con cáo còn nằm ỏ đây trong lúc này. Quý tưởng mình hoa mắt, anh nhìn kỹ lại khẩu trung liên bên cạnh mình. Không, em của anh, khẩu súng máy yêu quý của anh đã được ngụy trang hết sức cẩn thận... Quý định thần nhìn kỹ lại một lần nữa. Linh tính báo cho anh biết chắc trong hàng ngũ của mình có chuyện gì xảy ra. Anh cũng thoáng nảy ra ý nghi ngờ: phải chăng là Hồ, cái anh chàng cán bộ đã từng có những cử chỉ lạ lùng khi toàn tiểu đoàn đang vượt con đường này để vào đây, cái anh chàng cán bộ đã làm nhục em mình và đã bị hạ tầng công tác, phải chăng cái anh chàng ấy đến đây lại giở trò, giở chuyện. Bỗng Quý thấy cái bóng đang động đậy phía trước mặt anh cách anh chừng 4, 5 thước, bỗng ngồi thẳng dậy. Và hình như có tiếng bật một que diêm... Không kịp suy nghĩ nữa, Quý nhoài người một cái rất nhanh về phía cái bóng ấy. Óc anh nghĩ rất nhanh: Thôi, đúng là thằng này... nó muốn lắm phản chăng. Anh vồ kịp cái lưng đang ngồi nghều nghệu của Hồ và chụp lấy bao diêm. Cũng may, que điêm đầu tiến Hồ bật không cháy…


Không một lời thanh minh cho cử chỉ lạ lùng của mình, Hồ cũng quay ra đấm thẳng một quả vào giữa mặt Quý rồi nhoài người ra, quại thẳng vào nách Quý, định bẻ quặt tay anh lại và mon men sờ vào cổ, định bóp. Quả đấm làm Quý choáng váng. Nhưng sức lực như vâm của anh nông dân chưa dễ bị thua ngay vì một quả đấm bất ngờ ấy. Như hai con thú dữ, họ ôm lấy nhau vật lộn trong đám bụi cây rậm, không kể gì tới gai và cành cây nhọn xé toạc cả da và quần áo...


Cũng vừa lúc ấy, một tiếng súng hiệu lệnh phát ra từ phía đại đội trưởng Bình... và tiếp theo là một loạt tiếng nữa nổ vang trời dậy đất. Những tràng súng máy bắt đầu nổ lẹt đẹt...


Đang vật Hồ xuống đất và sắp sửa chẹn cổ họng Hồ để định hỏi tội, Quý bỗng nhớ tới ngay khẩu súng máy và nhiệm vụ của anh... Anh chỉ kịp rít lên khẽ qua hai hàm răng:


-  Định làm phản phải không?


Hồ nghiến răng trèo trẹo, đáp, miệng sùi bọt mép:


-  Ai bảo mày? Mày thì ra tòa án binh... -  Giọng Hồ lạc đi vì giận dữ...


Không kịp hỏi gi thêm, Quý quay về khẩu súng máy của anh và chĩa thẳng về phía một chiếc xe chở đầy lính địch đang lừ lừ lao tới mặc dù mìn đã nổ. Hồ cũng lồm cồm bò dậy, và. tiếp tục bò về phía trung đội trưởng, chuẩn bị chờ hiệu lệnh xung phong coi như không có việc gì xảy ra. Nhưng trong trung đội ấy, cũng đã có hai chiến sĩ trông thấy cử chỉ của Hồ và hành động của Quý, và họ đã sắp sửa can thiệp, nếu hai người không rời nhau ra kịp thời.


*


 


Ngay sáng hôm sau, hai tiểu đoàn 17 và 18 lại ghi thêm một chiến công vang dội. Họ đã đánh tan cả một đoàn xe gồm bốn mươi chiếc tiếp viện của quân đội Pháp và diệt thêm hai đồn lẻ ở cuối đường hàng tỉnh số 3. Cả một vùng rộng lớn dọc Nguồn Tả, cho tới tận Nguồn Bồ đã được giải phóng. Và chiều hôm ấy, đi trên mảnh đất tự do của mình, dài hơn chục cây số, các chiến sĩ cùng với nhân dân cả hai huyện Hương Thủy, Hương Trà cùng nườm nượp kéo nhau lên chiến khu mới để dự liên hoan chiến thắng. Cuộc vui tưng bừng đã được tiến hành ngay ở trong lăng Gia Long. Phải làm sao báo ngay cái tin mừng này cho tỉnh biết, đó là ý của Hải, của Quỳ cũng như của toàn thể cán bộ chiến sĩ ở chiến khu phía nam này.


Nhưng không phải ở Hòa Mỹ người ta đã biết ngay được tin chiến thắng Lương Miều, ở đây nhận được tin chiến thắng chậm hơn quân Pháp nhận được tin chiến bại nhiều. Sở dĩ như thế là vì do làng Hòa Mỹ sau khi bị đốt trơ trụi lạí bị địch bao vây nên mọỉ con đường đi lên chiến khu đều rất khó khăn. Thực tế thì ban ngày không mấy ai dám đi lại ở giữa làng Hòa Mỹ nữa. Đại bác địch ở đồn Cồn Nhện cách đấy gần 2 cây số sẵn sàng rơi trúng ngay vào giữa đầu anh nếu anh dám thơ thẩn đi chơi ở giữa cái bãi đất không còn một bóng người ấy. Ba ngày sau khi quân Pháp đốt trụi làng Hòa Mỹ và rút về đóng án ngữ ở Cồn Nhện, bãi đất làng Hòa Mỹ vẫn để trống. Ô Lâu, chỗ trước đây vẫn tấp nập những người lên xuống, bây giờ vẫn có hai chiến sĩ bộ đội Việt Nam gác, nhưng họ không còn đứng thong thả nhìn trời, nhìn mây nước như cũ nữa. Bây giờ họ phải đứng suốt ngày trong hố cá nhân và sẵn sàng hụp đầu xuống khi nghe có tiếng đạn đại bác rít trên đầu. Họ cũng là những người duy nhất được thấy cái cảnh rùng rợn của bãi chiến trường sau khi hai bên tham chiến đã rút đi... Trên những cành cây cao đã cháy trụi lá, từng đoàn quạ đen không biết từ đâu đã kéo tới đậu đen nghịt. Thỉnh thoảng chúng lại sà xuống những thây người chết, mổ một miếng thịt, kêu lên quang quác rồi lại bay lên đậu trên cành cây. Mặc dù làng đã bị cháy trụi và không còn chỗ nào có những làn hơi đọng lại, trên khắp cả một bãi dài hàng cây sô, mùi thối đến nôn mửa và vẫn bay khắp cả một vùng. Đó đây, những xác đàn bà bị hiếp chết hay bị đạn chết đã trương phình lên và đen thui, mới trông tưỏng như xác một lính da đen nào to lắm. Cũng có xác những Tây trắng, Tây đen, đầu vẫn đội mũ sắt nhưng đã nở chật cả cái mũ, nằm tênh hênh bên cạnh những rào tre chông nhảy dù. Quân Pháp khi rút vội khỏi làng Hòa Mỹ vì đợt phản công của quân độì Việt Nam, đã bỏ chúng lại đây.


Hôm ấy, ngày thứ ba sau khi quân Pháp nhảy dù, đến lượt tiểu đội của Thạc ra làm nhiệm vụ cảnh giới ở Hòa Mỹ. Từ ngày Ngọ chết và Quý phải sang tiểu đoàn khác, cái bộ ba ấy tan rã, Thạc đã phải chỉ huy tiểu đội của anh, gồm một nửa là tân binh. Thạc thỉnh thoảng lại thương xót Ngọ đến đứt ruột. Anh nhớ Quý, và đã từ lâu, khi Quý vào ba huyện miền nam, anh không còn biết tin gì về Quý nữa. Anh cũng nhớ Thiện, người trung đội trưởng cũ của anh bây giờ đã làm đến tiểu đoàn phó, nhưng hiện còn nằm ốm trên bệnh viện CK7. Thỉnh thoảng nhớ lại những hình ảnh cũ, Thạc có cảm giác như những việc ấy mới xảy ra hôm qua, hôm kia, nhưng cũng lại xa lắm. Anh cũng thấy rõ mình không còn là cậu bé ngờ nghệch, bỏ làng trốn nhà đi Vệ quốc ở đồn Mang Cố và bị mẹ tìm lên đến tận nơi đòi về. Mẹ bây giờ vẫn ở làng, và nhà mình cũng là cơ sở, Thạc mỗi khi nghĩ tới đó lại có một niềm tự hào kín đáo. Còn bản thân anh cũng lớn lên rồi, anh đã trở thành một cán bộ -  cái tên gọi mà ngày xưa chỉ nghĩ tới anh cũng thấy sờ sợ và cho là một hạng người cao sang mình không thể vươn tới -  anh đã nhanh nhẹn, tháo vát, lém lỉnh đến mức chính anh nhiều khi cũng không ngờ mình bây giờ lại lém đến như thế. Thạc được anh em trong tiểu dội, nhất là anh em tân binh yêu mến vì anh không hách, anh làm mọi việc với anh em một cách tự nhiên, và cũng bởi vì anh có nhiều kinh nghiệm chiến đấu hơn cả. Nhờ sự chỉ bảo tận tình của anh, chẳng bao lâu mấy anh em tân binh đều tiến bộ, đều trở thành chiến sĩ khá. Thấy thế, phòng nhân sự trung đoàn lại nhét thêm cho anh một tân binh nữa. Và lần này thì quả là thêm một gánh nặng, cho Thạc.


Hốt, anh tân binh mới được bổ sung vào tiểu đội Thạc chưa đầy hai tuần trước khi quân Pháp nhảy dù lên Hòa Mỹ, là một thanh niên phố huyện Phong Điền, nhà ở gần chợ Trung Thạnh. Nhà anh ta cũng không phải là giàu có gì, mẹ chỉ mở một ngôi hàng xén nhỏ ở chợ, cha vẫn cấy sáu sào ruộng công của làng ở cách phố huyện chừng 4 cây số và cái gia đình sáu người ấy mà Hốt là con thứ -  vẫn sống một cách vật vờ ngày này qua ngày khác. Mặt trận vỡ, chợ Trung Thạnh bị bốt huyện khống chế cha mẹ Hốt và anh Hốt là Thẳng bỏ ngôi hàng xén chạy về làng. Làng đã bao phen bị vây quét nhưng cả làng không chịu lập tề. Bố anh và anh cả Thẳng vào du kích. Còn Hốt thì trong đợt tỉnh tuyển tân binh, cả nhà đã cho là một dịp may vì anh vừa đúng mười tám tuổi và cho rằng anh vào bộ đội dù sao cũng còn chắc sống hơn là chạy giặc ở làng. Nhưng cái chàng thanh niên mười tám tuổi ấy không giống tính bố mà lại quá nhút nhát giống tính mẹ. Anh ta nhát đến nỗi những ngày Tây chưa nhảy dù, đến lượt anh ta gác đêm trước doanh trại, anh ta còn sợ không dám đi đái đến nỗi đái cả ra quần. Tiểu đội trưởng Thạc cũng không ngờ anh tân binh của mình lại nhát đến như thế nên hôm ấy lại vô tình kéo anh ta cùng đi với mình ra gác tại vọng tiền tiêu ở sát ngay bờ sông Hòa Mỹ. Lúc ấy đã gần 5 giờ chiều, ánh mặt trời vào lúc gần cuối thu đã nhạt lắm. Thạc, Đương -  tiểu đội phó, Cầm -  chiến sĩ cũ và Hốt -  tân binh, đã đi quá con hào giao thông từ trong cửa rừng đào ra. Bây giờ là lúc họ phải đi thật nhanh, vượt qua một quãng đất trống chừng hơn trăm thước mới tới được cái hầm đào ở phần nền nhà Đại chúng cũ và tới được đó mới tạm gọi là yên ổn. Đi qua đấy mà để cho ở Cồn Nhện chúng nó trông thấy thì ăn đạn đại bác hay súng cối như chơi. Vốn là những ngưòi đã từng có nhiều kinh nghiệm, Thạc, Đương và Cầm trèo lên những bậc đất cuối hàng của hào giao thông rồi bình tĩnh dừng lại một lát nghe ngóng tình hình. Xong họ rảo bước đi. Họ không để ý nên không thấy lúc ấy mặt Hốt đã tái như chàm đổ, tim anh ta đập như trống làng, tai anh ta ù và anh ta đi mà không còn biết là mình sẽ phải đi đâu để làm gì. Mọi người đã vượt được quá nửa khoảng đường trống thì bỗng một đàn quạ đang mổ thịt người chết thấy động bay ù lên một loạt đậu ở các cành cây cháy trụi và kêu quà quạ ầm ĩ. Cả bốn người đều dừng lại. Vừa lúc ấy chợt thấy Hốt rú lên một tiếng rồi anh ta khuỵu dần xuống và ngồi xổm ở ngay giữa đường trong một tư thế cực kỳ thiểu não. Người anh ta run lên bần bật. Thạc vội dừng lại đến bên Hốt cúi xuống hỏi; “Có việc gì thế. Đi mau lên thôi chứ”.


Hốt như người thất thần, đưa tay chỉ một xác người đã trương phình lên ở đấy rồi nhắm mắt lại. Mặc dù đã quen vói mùi nồng nặc trên cái chiến trường này, lúc ấy Thạc cũng đột nhiên thấy không thể chịu được cái mùi thối đến nôn oẹ ấy. Anh nhăn mặt và định kéo Hốt dậy:


-  Xác một chị nào bị chúng nó hiếp chết đấy mà. Đi thôi.


Nhưng không ngờ Hốt lại nhất định không chịu đi, anh ta cứ một mực lắp bắp:


-  Em... sợ... sợ… lắm... lắm... Anh... em... cho em... về thôi... sợ... lắm…


Thạc an ủi đến lần thứ ba không được, anh hơi cáu:


-  Mày không đi ngay cứ ngồi đây thì bị ăn đạn đại bác bây giờ đấy.


Mặc Thạc muốn nói gì thì nói, Hốt vẫn chỉ một mực run lẩy bẩy như ngưòi sốt rét và vẫn cứ đòi về, không chịu ngồi dậy.


Thấy không thể chờ lâu hơn nữa và vì sợ nguy hiểm Thạc đành gọi Đương lại nhờ đưa Hốt vào lại CK, không quên dặn Đương phải tìm cách lấy lại tinh thần cho anh tân binh quá nhát. Dặn dò xong, Thạc giận dữ bước đi, vừa kịp trông thấy hai con gà không biết trước đây của ai nuôi bây giờ đã thành gà hoang đang mổ ăn những đám dòi nhung nhúc bò ở cái thây người tuy đã trương phình nhưng sắp nát rữa. Thạc bực mình nhặt một hòn đá ném vào mấy con gà. Một tiếng “quác” nổi lên, hai con gà bay 1 vụt lên như để tránh đạn. Cũng vừa lúc ấy, một tiếng súng nổ phía Cồn Nhện, nghe rõ ràng là tiếng xuất phát của một loạt đạn súng cối và liền đó một tiếng vút trong gió bay tới. Nhanh như cắt, Thạc nhoài người một cái, tới nằm bên cạnh một mô đất, quên phắt rằng cái mô đất ở ngay bên cạnh cái thây người. Một tiếng oàng nổ vang, rồi khói bụi mù mịt và hơi thuốc súng khét lẹt cả một vùng. Lợi dụng lúc đó, Thạc chồm ngay dậy lao mình chạy thẳng ra phía vọng gác ở phía bờ sông.


Anh tới đổi gác chậm mất chừng mười phút. Anh đã định sẵn một vài câu để gíải thích với người tiểu đội trưởng tiểu đội bạn. Nhưng ở vọng gác không thấy anh tiểu đội trưỏng tiểu đội kia đâu. Một chiến sĩ nét mặt thoắt đỏ bừng rồi lại tái mét như đang lên cơn sốt mãn tính nói như thét vào mặt Thạc:


-  Ra mau mà đổi cho chúng ông. Đồ quỷ. Chậm thế. Để chết cho người ta. Ôi! Thôi... không chịu nổi nữa đâu.


Như người lên cơn động kinh, trước con mắt hết sức kinh ngạc của Thạc, anh lính nhảy lên khỏi hố cá nhân, giơ súng về phía đồn Cồn Nhện rồi như người điên, anh ta chửi đến khản tiếng: “Đù cha bay, mả mẹ bay”. Và cứ thế không kịp bàn giao tình hình cảnh giới vói Thạc, anh ta ù té chạy vượt quãng đường trống tới giao thông hào để vào rừng.


 


                                                            *


 


Tối hôm ấy, sau khi đã lên báo cáo với trung đội trưởng về tình hình cảnh giới của tiểu đội bạn, cảnh giới mà không biết tiểu đội trưởng chui đi đâu mà không thấy mặt, Thạc đề nghị cho sinh hoạt trung đội để “lấy lại tinh thần” cho những anh em bị căng thẳng quá trong khỉ chiến đấu hay khi gác ở Hòa Mỹ. Trung đội trưởng Lang đồng ý. Và trên cái sàn nhà cheo leo bên bờ một con suối lớn ở CK2, toàn trung đội đã tập hợp. Mấy tay vui nhộn liền lên cầm càng. Và một giọng hỗn hợp ồ ồ, lộn xộn, phần nhiều là sai với lời và sai nhạc cất lên bên góc rừng:


“Bao chiến sĩ anh hùng


Lạnh lùng vung gươm ra sa trường


Quân xung phong nước Nam đang chờ...”.


Bỗng mọi người đểu nghe từ xa vẳng tới một tiếng “rắc’' và một làn đạn vút đi qua rất nhanh. Tiếp theo là một tiếng oàng ghê rợn vang dội khắp núi rừng. Và liền đó là tiếng vượn hú lên rầm rì như còi xe lửa. Trong chiếc lán chật hẹp bỗng có tiêng ai thét lên: “Nằm cả xuống”. Phía ngoài có tay nhanh chân đã nhảy tụt xuống đất và nằm ẹp xuống. Có mấy tay nữa nhảy tiếp theo và có tiếng la oai oái: “Ối, dẫm cả vào người ta thế này”. Ngay ở trên nhà sàn, cũng diễn ra một cảnh tượng buồn cười: giữa sàn nhà, ngọn lửa trại vẫn bập bùng cháy và chung quanh đó là gần hai chục con người nằm im không động đậy. Nhưng bỗng có một chiến sĩ nào đó bật cười lên khanh khách: “Ồ, ngôc thật, chúng mày ơi. Nằm trên nhà sàn thế này thì hơn gì ngồi, hả, chúng mày”.


Lần lượt họ bò dậy, ngồi thẳng lên cười như nắc nẻ. Hốt vẫn chưa hết sợ, anh ta len lén bò dậy sau cùng rồi thỏ thẻ nói vớí ba bốn chiến sĩ bên cạnh:


-  Này các anh ơi! Hay là vì ta hát to quá, nó nghe nó bắn...


-  Ha ha ha! Hi hi hi! Hư hư hư! Ồ cái thằng này mới dát làm sao, chúng mày ơi. Đã thế, chúng ông lại hét to hơn cho mày chết...


-  Ấy chết, em van... em lạy... đừng... các anh.


Thạc ngồi thẳng dậy, và với một giọng rắn rỏi, anh nói:


-  Báo cáo anh Lang, tôi thấy tình hình làm nhiệm vụ cảnh giới của trung đội ta ở Hòa Mỹ không được tốt lắm. Cụ thể là tôi ra đổi gác mà không gặp đồng chí đội trưởng tiểu đội 2 đâu cả. Xin hỏi, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 đi đâu? Còn đồng chí Sảng thì như đang lên cơn rồ, đồng chí ấy là đội viên mà mắng vào mặt tôi là tiểu đội trưởng và ôm súng chạy như bị ma đuổi. Rõ ràng đồng chí ấy mất tinh thần. Xin hỏi: chiến sĩ Vệ quốc quân một lòng vì nước vì dân đã thuộc mười lòi thề danh dự mà như thế à!


Giọng ồ ồ của trung đội trưởng Lang cất lên:


-  Yêu cầu tiểu đội trưởng tiểu đội 2 tự kiểm thảo trước. Đồng chí Mạc đâu rồi?


Không có tiếng trả lời. Vốn tính nóng nảy, Lang nói như quát:


-  Tiểu đội trưởng Mạc đâu?


Có tiết rụt rè của một chiến sĩ ở tiểu đội 2:


-  Báo cáo anh, anh Mạc bảo anh ấy sốt…


-  Quái, thế sao không báo cáo tôi sớm. Ốm thật hay bệnh sợ đấy?


Mấy chiến sĩ ở tiểu đội 2 đưa mắt nhìn nhau, vẻ ngượng ngùng, bối rối.


Đến lượt Sảng phải tự kiểm thảo. Anh ta nổi tiếng bướng bỉnh ở tiểu đội 2. Và thường thường là Mạc không chỉ huy nổi anh ta. Anh ta không hề sợ uy lực của Lang cũng như hàng chục cặp mắt đang nhìn mình chăm chú:


-  Tôi không đồng ý như anh Thạc phê bình. Anh ấy đã ra chậm giờ đổi gác mà còn trách ai. Anh ấy chỉ huy tiểu đội thế nào mà để anh Hốt tân binh mất cả tinh thần đến nỗi sợ cả tiếng hát... -  có tiếng cười của vài người và Hốt tự nhiên rúm người lại, nấp vào sau lưng một cựu chiến binh -  Còn tôi ấy à? Tôi có gắt thật. Nhưng ai bảo là tôi mất tinh thần? Mất tinh thần mà tôi chịu được cơm ngày ba lạng à? Tôi chịu ăn hai ngày không muối từ hôm qua đến nay à? Tôi chịu nhịn thuốc lá hai ngấy rồi à? Mất tinh thần mà tiểu đội trưởng, tiểu đội phó đều... ốm cả, mà tôi chịu đựng chôn chân dưới hố cá nhân hơn ba tiếng liền à? Thử hỏi cứ đứng bên mấy cái xác chết trương phình, thấy quạ và gà chúng nó cứ mổ ăn, rồi đất bụi do đạn đại bác nó cày cho tung mù trời lên, tai ù lên như muốn điếc đặc cả lại thì ai mà không gắt? -  Sảng càng nói càng hăng máu. Anh ta quên mình đang phải tự kiểm thảo, anh ta nói luôn những thắc mắc thầm kín của anh ta từ mấy hôm nay, giọng như quát lên -  Hừ, có chút gì hỏng nho nhỏ cũng đem ba thằng đội viên ra bắt kiểm thảo. Thế sao mấy ông lớn không kiểm thảo đi? Ai chỉ đạo rào mà chỉ rào như vài miếng vá vậy? Ai lo việc đào hào mà chỉ đào chưa được nửa đường từ cửa rừng ra bò sông? Nói phòng gian bảo mật sao Tây nó nhảy dù đúng chỗ. Ai lo gạo muối cho chiến khu mà để bây giờ được ngày ba lạng, không muối. Sao lại cho tiểu đoàn 17 đi đâu? Quân giới thì thông ba cái nòng súng bị tắc cũng không xong! Quân trang thì khi anh em chiến đấu thật, áo quần rách bươm cả lại bảo rằng không có! Trên như rứa thì không kiểm thảo! Chỉ chết bà thằng lính...


Một tiếng quát như lệnh vỡ của Lang làm cả lán giật mình:


-  Thôi! Nói nhảm cái gì đấy. Không được nói nữa!


Cơn giận bốc lên làm Lang không nói gì thêm được nữa, vả lại anh ta thường cũng không có đủ lý luận để phân tích sâu một vấn đề gì.


Thạc giơ tay xin nói luôn:


-  Tôi thấy đồng chí Sảng nên nghĩ lại. Gọi là tự kiểm thảo thì hãy nói cái lỗi của mình cái đã, sao lại lôi của trên ra. Trên nếu có sai thì trên cũng kiểm thảo, trách nhiệm còn nặng bằng mấy mình ấy chứ. Đồng chí Sảng làm như là mới ăn mấy bữa thiếu ăn, mới nhịn mấy ngày thuốc lá, mới gác vài giờ ở Hòa Mỹ là ghê lắm rồi đấy? Thế thì còn kháng chiến gian khổ hơn nữa thì sao? Mới như thế đã gắt ỏm lên, đã kêu là không chịu nổi. Thế thì ai vì dân vì nước mà đánh giặc được. Làm sao mà mang độc lập về cho nưóc cho nhà được. Riêng tôi, tôi đã có báo cáo với trung đội trưởng là tôi ra chậm giờ đổi gác, tôi không hề giấu chuyện ấy. Nhưng vì sao thì anh Đương cũng hiểu. Anh Hốt mối vào, các đồng chí không nên chế nhạo anh ấy. Tôi nói hết.


Có tiếng anh em rào rào nổi lên đồng tình với Thạc. Riêng Lang nghĩ thầm: Thạc khá lắm, nên chú ý để kết nạp anh chàng này đây. Sảng cũng chẳng phải xấu, hắn chỉ phải cái cục cằn thôi...


Hết mục kiểm thảo, tự nhiên họ chia thành nhóm nhỏ. Quảng, một đội viên tinh nghịch cấu vào đít Hốt một cái:


-  Này, tớ hát to đấy nhá. Sợ không?


Một đội viên khác gạt tay Quảng ra:


-  Trêu gì nó thế mày, không nghe ngườỉ ta vừa đề nghị à.


Không ngờ chính Hốt lái bạo dạn nói:


-  Được, bây giờ thì tôi cũng hát, biết rồi...


 


XIV


 


Tan cuộc họp của tỉnh ủy, Thân về phòng dành riêng cho anh trên một chiếc nhà sàn ở CK3. Anh cảm thấy mệt nhọc, chính anh cũng bị cái đói giày vò như tất cả mọi người ở cái chiến khu này từ hôm quân Pháp nhảy dù và bao vây. Niềm đau xót vì bị địch bắt ở Hòa Mỹ mấy hôm nay nung nấu lòng anh. Thân không ngăn được một ý nghĩ ngại ngùng trước những việc đang xảy ra và những việc đang chờ đón anh. Anh nghĩ: sao vào lúc này anh Sơn, anh Thành lại đi vắng cả. Đang đi, bỗng Thân giật mình nhảy phốc lên một cái rồi tránh nhanh sang một bên: anh vừa trông thấy một cái hố con do một viên đá lở bên đường để lộ ra. May quá, chút nữa thì què cẳng... Không, mình không thể ngại được. Vả lại, mặc dù có khuyết điểm mình vẫn làm đúng đường lối của phân khu ủy đề ra kia mà. Sự lạc quan, tin tưởng trong chốc lát đã đánh tan mọi ý nghĩ chán nản vừa chớm trong óc Thân. Anh tin rằng nếu có phải báo cáo trước phân khu ủy vể tình hình trận đánh ỏ Hòa Mỹ, anh cũng không có gì phải thẹn thùng. Trong trí óc Thân như hiện ra những gương dũng cảm của bộ đội và nhân dân ở chiến khu cũng như ở đồng bằng đã anh dũng bảo vệ chiến khu, bảo vệ những cơ quan đầu não của tỉnh. Gạo thì thiếu thật đấy nhưng giá như có chuẩn bị khá hơn thì có thể có được nhiều hơn một chút. Nhưng các huyện ủy và nhất là các đoàn dân công thì anh dũng biết bao. Đến cả mẹ mình cũng đòi đi vác gạo ban đêm từ Ô Lâu vào CK1. Thân chợt thấy lòng dịu lại khi nghĩ đến mẹ. Tội nghiệp bà cụ cứ muốn ghép mình với cô giáo Phượng. Bà cụ áng chừng quên Ngạc được rồi sao? Không, bà không nói đấy thôi, chứ trong khóe mắt của bà mỗi khi nói tới việc ấy vẫn như có ý thầm bảo: chẳng bằng con Ngạc đâu, nhưng cũng tốt, mày nên liệu mà... đi thôi, cho mẹ còn có cháu bế... Cháu nào ở trên cái rừng này, đẻ ra để mà ăn đá à... chung quy cái khó nhất bây giờ vẫn là chuyện gạo, ngay dù Tây không nhảy dù thì cũng vẫn khó. Cố nhiên không phải là ta vin vào cái khó để mà không nghe lời phê bình của anh em... Trước hết cứ phải thấy phần lớn các lời phê bình là đúng: gạo, muối, ruốc, vải, thuốc lá... không lo từ trước, bố phòng chiến khu thì chủ quan, đánh trống bỏ dùi, nhà làm thì phô trương hình thức để lộ cả CK, chỉ đạo tác chiến thì lúc đầu có chỗ lúng túng, liên lạc giao thông thì giữ không vững, kỷ luật cho dân tránh địch thì giữ không nghiêm để bị thương vong nhiều. Tất cả những cái ấy đều đúng cả. Thật như là qua một cuộc thử thách bao nhiêu nhược điểm lộ ra cả một lúc rất rõ... Mà cũng thấy được là mình còn non thật... Nhưng còn những lời phê bình của Việt Chân thì mình không chịu. Điều tiểu đoàn 17 đi mở chiến dịch mới là đúng. Chủ trương ấy phân khu ủy cũng tán thành. Lạ thật, đã qua một lần vỡ mặt trận mà sao còn có người cứ muốn giữ không ở đây để dàn trận ra mà quần với địch! Mình thì mình tin chỉ nay may là có tin ở Hương Thủy và nhất là tin của cả sáu huyện đồng bằng. Nhất định là các đồng chí ở huyện thế nào chẳng chớp lấy cơ hội địch đánh lên chiến khu mà đánh mạnh. Ở Hương Thủy có không thể đi nữa thì cũng làm cho địch hoảng, chúng thấy đánh CK nơi này thì Việt Minh lại hiện ra ở nơi khác. Không, chắc chắn là ở đây có thương vong, có thiệt hại, nhưng cộng cả lại toàn tỉnh, cứ mỗi xã một thôn, một tổ một thì nhất định ta lợi hơn địch. Được, những ai bi quan hoài nghi trước một vài khó khăn tạm thời rồi sẽ thấy. Hừ, lại còn cái chuyện ông Thắng gặp mình nữa, thế mà trong chiến khu cũng có dư luận. Thân chợt nở một nụ cười mỉa mai: dư luận gì thì chắc cũng ở Việt Chân mà ra cả. Nhưng mà ta không sợ. Mình làm đúng nguyên tắc, chẳng có gì sai cả. Lại bảo rằng ông Thắng đi thì vừa Tây đánh lên! Làm như ông ấy được dân báo cho biết trước để tránh đi không bằng. Cũng may mà cái chuyện ấy đã có bên ủy ban tỉnh họ cải chính hộ... Không, nhất định là Việt Chân có động cơ gì đây, anh ta nói nhiều câu để lộ ý không tốt. Lân cũng có phê bình mình, nhưng thái độ anh ta đúng hơn tuy rằng anh ta không còn ở trong thường vụ nữa... Mà nói chung người như Việt Chân có là bao, tất cả đều thấy những thiếu sót là trách nhiệm chung cả, có ai phê bình mà nói như cách cái gì thường vụ tỉnh cũng sai cả, chỉ có anh ta mới đúng như Việt Chân đâu. Ồ! Việt Chân! Việt Chân, cậu này không khéo hỏng mất, có dịp ta phải tâm sự để giúp anh ta sửa đôi đi thôi, hắn còn hoạt động trước cách mạng lâu hơn Lân nhiều kia mà, Lân còn tiến được, không lẽ hắn không tiến... Cuộc đời rồi sẽ giải quyết hết...


Thân trèo nhanh lên chiếc cầu thang của nhà sàn, và bước về buồng riêng, cởi áo ngoài và định nằm nghỉ một lát.


Nhưng vừa cởi chiếc áo, tay sờ phải cuốn sổ tay, Thân lại vội vàng rút ngay ra và lại chiếc bàn con bằng nứa ở ngay trong buồng ngủ, hí hoáy viết:


“Những việc cần làm ngay:


-  Cho cán bộ đi bắt liên lạc ngay với các huyện, đặc biệt với Quỳ, Hải để nắm bắt tình hình.


-  Báo cáo và thỉnh thị phân khu về việc chuyển chiến khu.


-  Cho chôn ngay đêm nay những xác chết ở Hòa Mỹ.


-  Gặp ngay chị Quế bàn cách tăng mức ăn cho bộ đội lên 3 lạng rưỡi, cán bộ cơ quan lên 3 lạng.


-  Gặp ngay quân giới, quân y, bào chế, bàn chuyển những bộ phận này vào chiến khu Lương Miêu.


-  Bàn ngay...”.


Thân chợt mỉm cười một mình, tự nhủ: Cái gì cũng ngay cả thế này nhỉ. Thôi nghỉ cái đã, kệ nó, không ghi cũng nhớ, được rồi, sẽ bàn ngay với Lân và cán bộ tuyên huấn việc giữ vững tinh thần cho cán bộ, bộ đội, nhân viên... Nghỉ đã nào, mệt quá!


 


*


 


Thân chưa kịp về buồng để nghỉ như anh dự định thì cô giáo Phượng tới. Anh không muốn tiếp một tí nào, nhất là từ sau khi ở chiến khu không biết từ đâu có dư luận là anh mê cô giáo và quên người vợ đã quá cố. Anh cũng biết rằng việc vợ anh bị mất ở Hòa Mỹ đã làm cô giáo xúc động và có thể trong cuộc gặp mặt hôm nay sẽ xảy ra nhiều chuyện khó tưởng trước được. Nhưng anh biết rằng cương vị của anh không cho phép anh khước từ một cuộc gặp mặt mà không có lý do.


Điều đầu tiên anh nhận thấy trên nét mặt Phượng là cô đã gầy đi nhiều, nước da không còn hồng hào như hôm mới lên chiến khu cách đây mấy tháng. Trong ánh mắt Phượng, tuy không còn trẻ nữa, vẫn ánh lên một chút gì vừa ngây thơ, vừa tội tội. Thân tự nhiên thấy mủi lòng, anh thầm trách mình. Không biết bộ mặt mình có lộ ra cái vẻ bực bội hay không? Hỏng quá.


Phượng hỏi về mẹ Thân trước và cô khóc. Thận cũng hết sức mủi lòng nhưng anh tự trấn tĩnh. Anh bị Phượng trách là vô tình. Rồi Phượng chuyển sang nói chuyện công tác.


-  Em đến đây báo cáo với các anh một việc: là nên tính ngay cái chuyện tiếp tục lớp học văn hóa như thế nào. Tiếc quá! Cái nhà vừa làm xong, lớp mới mở chừng hơn tháng, đang vui, thế là nó dốt hết. Cháy trụi anh ạ. Đêm đi lấy gạo em có ra xem, chỉ còn trơ cái nền đen xám, trông buồn quá.


Thân ngạc nhiên:


-  Chị cũng đi vác gạo? Cũng xuống Hòa Mỹ?


-  Sao? Người ta vác cả, em cũng ăn thì cũng phải góp phần chứ. Vả lại các anh để em thất nghiệp mãi à? Giọng Phượng trở nên giận dỗi – Nếu không dạy học được thì ít nhất các anh cũng phải cho em làm một cái gì chứ. Cứ như thế này thì… thà cứ ỏ Huế, em còn làm được nhiều hơn cho cách mạng.


Thấy Thân vẫn cúi mặt xuống, không nhìn mình với cái nhìn thẳng thắn, linh lợi và đáng yêu như khi cô mới lên CK, Phượng thầm nghĩ: Anh ấy khó chịu chăng. Mình vừa nói cái gì nhỉ?


Không hiểu sao Phượng vẫn hỏi tiếp:


-  Có lẽ anh đang bận? Em làm phiền anh quá phải không? Hay là em để anh làm việc...


Hỏng quá! Mình lại nói cái gì thế này? Anh ấy vẫn không nhìn mình. Không, anh ấy không yêu mình.


Tự nhiên, Phượng cảm thấy tủi thân, cô chỉ chực khóc nữa, khóc lần này thì lộ hết. Không, đừng, đừng lộ ra cái gì. Sao mà mình khổ thế này.


Phượng bỗng thấy có gì như nghẹn trong cổ và cô không ngăn được trên mắt ứa ra một màng lệ mỏng. Thẹn quá, Phương vờ cúi xuống, lấy khăn tay che miệng để ho và chấm vội vào đôi mắt.


Thân không nhìn thẳng nhưng vẫn trông thấy vẻ lúng túng, ngượng ngập của Phượng. Anh vội bảo:


-  Không, tôi không bận gì ngay. -  Anh nghĩ lại ngay rồi. -  Chị cứ ngồi chơi. -  Anh lại nghĩ: nói khô khan quá thế này!


Thân nói được hai câu cụt ngủn ấy rồi im lặng, không biết nên nói tiếp cái gì. Phượng cũng thấy bây giờ mà đứng dậy đi ngay thì không nên. Cả hai cùng im lặng. Thân chợt nghĩ. Không, không được, ta không thể mập mờ trong việc này. Anh ngẩng đầu lên nói với giọng càng khô khan hơn:


-  Chị thông cảm cho. Trong lúc này, nhiều việc chúng tôi không thể nghĩ tới hết. Nhưng tôi chắc tình trạng bị bao vây thế này không còn lâu nữa. -  Đột nhiên, không hiểu sao, Thân thấy cần nói một cách dịu dàng hơn -  Trông... cô dạo này hơi gầy đi đấy... Những người phụ nữ lên chiến khu lắm lúc thật tội nghiệp. Chắc chắn là bữa nào cũng đói có phải không? Lại ăn nhạt nữa. Cô có bị sốt không?


Một tia hy vọng vừa lóe lên trong mắt Phượng rồi lại tắt ngấm. Không, anh ấy thương hại chung những phụ nữ lên ở đây thôi. Cô nói:


-  Người ta đau khổ thường không phải vì vật chất mà thôi anh ạ. Sự giày vò về tinh thần -  Mình nói cái gì thế này? -  về tình cảm -  Chết, không được nói nữa – còn làm người ta khổ hơn... Em không hiểu những người cách mạng, những người cộng sản như các anh thì tình cảm như thế nào. Sao mẹ anh... như thế... mà anh... Các anh là gang sắt hay sao? Thôi. Em chào anh... để anh làm việc... Chỉ xin anh lúc nào thật rỗi thì tìm giúp cho em một việc làm, đừng để em thất nghiệp.


Phượng muốn khóc to lên, nhưng cô hết sức nén, cô biết mình vừa nói những câu cuối cùng với một giọng hờn tủi đầy nước mắt. Một cảm giác vừa thẹn thùng, xấu hổ, vừa buồn tủi lẫn lộn trong người. Phượng sẽ sàng đứng dậy và như một cái máy cô bước ra khỏi phòng tiếp khách của tỉnh ủy, không nghe và cũng không biết Thân đã chào cô như thế nào.


Thân cũng quay trở lại buồng anh, vừa đi vừa thầm nghĩ: Thật còn khó hơn việc lãnh đạo của tỉnh ủy giao cho. Rắc rối quá. Mình cũng thành một anh chàng lãng mạn, vớ vẩn rồi hay sao thế này.


Nhưng anh không ngăn được một niềm sung sướng, tự hào và kiêu hãnh. Cô ta yêu mình, rõ quá... Ta đã quên Ngạc rồi sao? Không, Ngạc ơi! Em ơi, anh vẫn thương Ngạc... Cuộc sống rồi sẽ giải quyết hết. Mình rồi cũng phải lấy vợ. Thôi vớ vẩn...


Thân trở về buồng riêng, giở quyển sổ tay, lấy bút viết tiếp câu “bàn ngay với Lân và cán bộ tuyên huấn việc giữ vững tinh thần cho cán bộ, bộ đội, nhân viên”, rồi hý hoái ghi thêm:


-  Giải quyết công tác cho Phượng, Tăng và những anh em trí thức khác. Đừng để họ thất nghiệp.


Chợt mỉm cười một mình, Thân làm một dấu móc sau hai chữ giải quyết, viết thêm một chữ “ngay” đậm nét vào đấy. Nhìn đồng hồ, anh lẩm bẩm: Chết chưa 1 giờ trưa rồi.


Anh bước lên giường nằm và lập tức ngủ ngay. Trong giấc ngủ, Thân chiêm bao thấy anh đang đi về đồng bằng thăm mộ Ngạc. Anh xăm xăm đi, trời như nắng lắm, không mệt bóng mây. Người anh toát mồ hôi đầm đìa. Nhưng kìa, hình như anh không phải tới cái làng có nấm mồ của Ngạc mà rõ ràng anh đang quay về đứng đầu ngõ làng Nam Phổ. Phải đây là con sông mà từ bé anh với Ngạc cùng cho trâu tắm và cùng nô đùa. Kia là nhà của anh. Mẹ anh ở trong ngõ đi sau lưng như mắng anh một câu gì nghe không rõ rồi bà cụ vụt biến mất. Ngạc đang đợi anh ở trong nhà. Thân ngạc nhiên, ngờ ngợ: kìa em Ngạc, em còn sống hay sao. Rõ ràng ta đã chôn em rồi. Thân chạy vội vào định quàng lấy người Ngạc định ôm lấy Ngạc. Nhưng không hiểu sao anh đã đạp phải tấm phên dưới cánh cửa liếp làm bật tung cả cái then cài mỏng manh. Thân không sao đuổi bắt được, anh bỗng vờ ngã dúi một cái để cho Ngạc tới đỡ dậy. Quả nhiên, Ngạc tới đỡ anh thật. Anh liền nắm lấy tay Ngạc, định ôm lấy ngang lưng Ngạc nhưng kìa, ngạc nhiên biết bao, Thân nhìn kỹ lại thì ra không phải là Ngạc mà lại là... Phượng, Phượng e lệ thẹn thùng và Thân cũng lúng túng. Bỗng có tiếng ai thét đằng sau chái nhà: "Tây đến, chạy đi". Thân giật mình định chạy thì bỗng thấy chân như vướng phải một cái gì giữa nhà. Anh co chân đạp mạnh. Đau chân quá. Thân giật mình tỉnh giấc.


Choàng tỉnh dậy, Thân giật mình nhìn đồng hồ -  đã 3 giờ chiều. Anh cảm thấy trong mình hơi gây gấy sốt. Thân nghĩ sốt rét bây giờ thì thật chết, các anh ấy đi vắng cả rồi. Thân gượng ngồi dậy, thấy đầu nặng, mắt hoa, đã ba bốn lần anh định nằm xuống lại. Nhưng anh không thể nằm được, công việc bề bộn đang chờ anh. Thân liều đứng dậy, lảo đảo đi ra suối rửa mặt và sau đó, anh kiên quyết đi gần 3 cây số đường núi tới xưởng quân giới của bắc Huế và CK5.


*


 


Từ CK3 nơi tỉnh ủy đóng đến CK5 phải qua một dốc núi khá cao. Con đường này ít người qua lại, chỉ thỉnh thoảng mới có người giạo liên lui tới. Sỡ dĩ như vậy là vì xưởng quân giới là một cơ quan nặng được xếp vào loại quan trọng nên phải đóng ỏ chỗ hết sức bí mật. Con đường mòn vào CK5 vì vậy mà có nhiều chỗ không rõ nét, nhất là những lúc mờ sương, cỏ ướt đẫm. Con đường cũng lắm vắt. Những lúc ẩm trời, từng đoàn vắt từ dưới các đống lá mục bò ra, và nhâu nhâu bám lấy chân những người qua lại. Tiếp tế gạo nuôi cho chiến khu đã khó, đem được gạo muối vào cho CK5 càng khó hơn. Thân thầm nghĩ như vậy. Anh em công nhân ta thật là những anh hùng vô danh. Họ gian khổ thật. Mình vào sẽ nói với họ như thế nào về việc chuyển đi đây. Lại hàng tạ máy móc, vật liệu trên vai. Trong óc Thân vụt hiện lên hình ảnh những toán công nhân và tự vệ công nhân các nhà máy đèn, máy cưa, máy in, xưởng vôi, xưởng gạch, trường kỹ nghệ từ thành phố Huế, vác những thanh sắt, những hòm xiểng, những hộp chữ… kiên quyết đi theo kháng chiến.


Còn cách xưởng quân giới chừng hơn trăm thước, Thân đã nghe tiếng búa nện trên đe kêu vang cả một góc rừng. Vì anh đi có một mình và không báo trước, bác Hải già và đồng chí Lộc, quản đốc xưởng không biết trước để ra đón anh.


Thân không quan tâm đến việc ấy. Anh vào thẳng phân xưởng sửa chữa là phân xưởng lớn nhất. Gọi là phân xưởng, nhưng thật ra đây là một nhà máy lạ lùng nhất thế giới trong thế kỷ 20. Bởi vì nó khóng có máy động lực, không có máy công cụ, không có đèn điện, không có cái mùi nồng nồng hăng hắc của dầu mỡ và của những phôi thép phôi đồng như ỏ mọi nhà máy cơ khí khác. Đây là một nhà máy thủ công của thời cổ đại mặc dù những người thợ làm việc ỏ đây đều thành thạo việc điều khiển máy móc. Chính giữa gian xưởng là một cái bễ lò rèn khá lớn do bốn người kéo bễ. Chung quanh cái bễ trung tâm ấy, những thợ ngồi la liệt mới nhìn qua tưỏng chừng như không theo một trật tự nào. Người nào trong bọn họ cũng có một hộp đồ nghề trong tay: búa to, búa nhỏ, dũa, cưa nhỏ, lắc lê, đục, tuốc nơ vít, đinh vít, đinh ốc và trăm thứ linh tinh khác. Tiếng búa nện vào các đe nghe chan chát nhưng không đều nhịp, họ đã cố công bố trí chỗ ngồi, nhưng không tài nào làm việc theo dây chuyền, mặc dù mỗi kíp thợ đều được phân công làm một loại việc riêng. Ở đây, nhiệm vụ chính của họ là chữa súng, thông nòng súng bị tắc và cả chữa một số công cụ của trại tăng gia sản xuất của CK8 và của những đồng bào dân tộc thiểu số trên dãy Trường Sơn này. Ngoài phân xưởng sửa chữa, còn phân xưởng đúc lựu đạn là phân xưởng lớn thứ hai. Ở đây, công việc của họ nguy hiểm hơn nhiều. Họ có nhiệm vụ tháo thuốc nổ trong những quả bom, đạn đại bác, đạn súng cối của quân Pháp bắn xuống mà không nổ, và cả ở những viên đại thối mà mỗi một đội viên của trung đoàn 101 đã được lệnh phải nộp lên nữa. Nguyên liệu để đúc là nhừng ống gang dẫn nước mà họ đã mang đi theo hồi vỡ mặt trận, những bệ máy bằng gang mà thân máy bây giờ đã trở nên vô dụng vì không có điện và hàng chục thứ vật liệu linh tinh nhặt được trong những cuộc công đồn quân Pháp. Khuôn đúc của họ là những khuôn bằng đất nung. Vào phân xưởng này, những tiếng búa đe chí chát có ít, nhưng đặc điểm của nó là rất nóng vì là nấu gang thô sơ và những người thợ đen nhẻm, mình trần đầy mồ hôi, chỉ có đôi mắt sáng long lanh mỗi khi đưa những quả lựu đạn làm xong lên ngang mặt để ngắm nghía. Ngoài ra cũng còn hai phân xưởng mộc và rèn nữa, nếu người ta có thể dùng được những thứ ấy.


Công nhân xưởng quân giới phần lớn đều biết mặt Thân, bởi vì anh lên đây đã nhiều lần và đã nhiều lần anh đòi được kéo bễ, được quai búa với anh em. Tấn, anh thợ nhà máy đèn cũ, trông thấy Thân trước tiên. Vẫn ngồi nguyên chỗ cũ và đưa cái nòng súng dài lên, nhắm một mắt lại ngắm nghía. Tấn cất tiếng chào: “A, anh em ơi, anh Thân đến. Chào anh ạ”.


Từ bốn phía gian xưởng, có những tiếng chào “Anh ạ" tiếng hét thật to để át tiếng búa và tiếng bễ lò rèn đang phì phò.


Một vài anh thợ trẻ bỏ việc chạy ra vây quanh lấy Thân. Anh vội bảo:


-  Kìa các đồng chí làm đi đã chứ.


Mấy anh thợ trẻ tỏ vẻ lúng túng, hơi ngượng. Nhưng một anh bạo dạn nhất đã hỏi Thân:


-  Thưa anh, chỉ xin anh cho biết tin tức một tí: Chúng nó có còn vây CK nữa không ạ?


Một anh khác nhân được đà liền hỏi tiếp luôn:


-  Chúng nó còn đóng Cồn Nhện chứ ạ. Có đánh trận nào to không anh?


Ở gian xưởng, một vài người thợ vẫn còn hí hoáy làm công việc của mình, nhưng những người quai búa lớn và những người kéo bễ thì đã khôn khéo ngừng công việc của mình lại, vờ làm sang những việc khác. Thân cảm động nghĩ: Anh em ở trong rừng sâu nhất nhưng không quên công việc đấu tranh chung. Anh nói với giọng hơi buồn buồn, có vẻ như tự mình nhận lấy trách nhiệm về việc bị bao vây:


-  Tình hình vẫn thế, các đồng chí ạ. Chưa có tin gì mới. Nhưng chắc ở đồng bằng và ở chiến khu trong thì ta có đánh chúng nó.


Những khuôn mặt của anh em thợ hình như nhíu cả lại. Có tiếng thở dài se sẽ. Thân biết là anh em không bằng lòng về câu anh nói. Anh lo lắng nghĩ thầm: "Lát nữa nói với anh em về việc di chuyên thì sao đây. Di chuyển xưởng có nghĩa là bỏ chiến khu, là thất bại, sao chẳng khỏi có người cho là như thế".


Lác đác đã có mấy người thợ trở về chỗ cũ lặng lẽ làm việc. Một anh thợ trẻ cắt ngang bầu không khí nặng nề:


-  Anh ạ, bác Hải và anh Lộc đang ở trong văn phòng đằng sau xưởng mộc. Bác và anh ấy đang nói chuyện vối anh Út đấy.


-  Út nào thế đồng chí?


-  Dạ, anh Út ở đội trừ gian ấy ạ. Anh ấy trước ở máy đèn, vừa rồi một mình đánh lui cả một đại đội địch đấy ạ.


-  A, thế ư? -  Thân cũng nóng lòng muốn được gặp người thợ ấy và bắt tay, khen ngợi anh ta. -  Thôi, các đồng chí làm việc nhé. Tôi sang văn phòng một lúc.


Vào đến văn phòng xưởng quân giới, thấy bác Hải già, bí thư chi bộ Đảng và đồng chí Lộc, quản đốc xưỏng đang ngồi xổm dưới đất nói chuyện thầm thì với một người thợ trẻ có đôi mắt rất sáng, Thân tới bắt tay ngay:


-  Đồng chí là Út có phải không? Tôi là Thân ở cơ quan tỉnh đây.


Thấy Út hơi ngạc nhiên và lúng túng, bác Hải già giới thiệu.


-  Đồng chí Thân, hiện làm quyền bí thư của đoàn thể tỉnh đấy.


Thân nói tiếp luôn:


-  Tôi có nghe nói về thành tích của đồng chí. Thật là anh dũng tuyệt vời. Tôi thành thật có lời khen ngợi đồng chí. Chúng ta kháng chiến thắng lợi là nhờ có những hành động anh hùng như thế. Đồng chí có thể kể lại cho tôi nghe được chăng


Út thẹn đỏ mặt, không biết nói như thế nào. Con người hiên ngang trước cả một đại đội lính địch đang hùng hổ tiến lên như nước vỡ bờ ấy, bây giờ đứng trước những người muốn nghe kể lại thành tích của anh, lại lúng túng, ngượng ngập, cảm thấy những lòi khen đó quá cái anh dũng thực có của mình. Út nói:


-  Thưa bác và các anh, quả thật em cũng không biết là lúc ấy em chỉ có một mình. Thấy khẩu trung liên sẵn đạn, em nghĩ phải bắn chặn chúng lại đế cho bộ đội ta kịp bố trí tiêu diệt chúng... có thế thôi ạ.


Trong thâm tâm, Út muốn nói thêm: Chính cái người đáng được khen là anh dũng tuyệt vời lại là Lựu, người vợ đáng thương của tôi kia.


Nhưng anh không dám nói, chỉ lúng búng mấy tiếng rồi im. Muốn tránh khỏi cơn ngượng ngập, Út nói tiếp:


-  Thôi, em để bác và hai anh nói chuyện, em xin xuống xưởng thăm anh em quen một tí...


Út vừa đi khỏi, bác Hải già nói ngay:


-  Báo cáo đồng chí Thân, người anh dũng như thế mà cứ phải thắc mắc hoài vì không được kết nạp vào Đảng, thậm chí cả sinh hoạt cảm tình cũng không được.


Lộc cũng nói thêm vào:


-  Tôi còn nghe nói vì anh ta trực tính hay phê bình nên bị đồng chí Việt Chân ghét, buộc cho là kém ý thức tổ chức đấy.


Thân gật gù:


-  Không, người như thế không thể kém ý thức tổ chức được. Nghe nói công nhân nhà đèn cũ phải không?


Bác Hải già vội đáp:


-  Đúng, rất tích cực, vào tự vệ ngay từ khi còn chưa cướp được chính quyền. Vào đội quyết tử ngay khi vỡ mặt trận, sau đó vào đội trừ gian. Tôi muốn giới thiệu anh ta từ lâu, tiếc rằng từ khi độí trừ gian được chuyển sang cơ quan công an phụ trách thì ít khi gặp, lại nghĩ rằng do cơ sở ở đó giới thiệu.


Thân lắc đầu:


-  Mình không xem kỹ thì nhiều khi chi bộ cơ sở bị một vài đồng chí phụ trách cơ quan cho nhận xét không đúng đắn đâu.


Bác Hải nói luôn:


-  Bởi thế, tôi với đồng chí Lộc có ý muốn lấy anh ta và hai người nữa, cũng là thợ nhà đèn cả, về xưỏng quân giới, anh thấy thế nào?


Thân nghĩ một lúc khá lâu rồi nói:


-  Việc này cũng cần bàn với anh em ban to chức tỉnh một chút. Và cũng cần điều tra. Tôi tin rằng anh Út không có gì xấu đâu. Nhưng chúng ta cũng không nên làm mất lòng anh Việt Chân...


Tự nhiên, không khí đang cởi mở giữa ba người bỗng có vẻ lắng xuống. Bác Hải già hơi lộ vẻ không bằng lòng nhưng không nói gì, bác khẽ nhặt một hòn sỏi nhỏ dưới chân bàn, ném ra ngoài buồng. Thân trông thấy cử chỉ đó, anh hơi giật mình tự nhủ: mình sai lầm chăng? Nhưng mà không, bây giờ chưa thể giải quyết khác ngay được. Nhưng, không hiểu sao anh cứ tự thấy mình vừa có lỗi với mấy đồng chí công nhân trung thực này.


Cố lấy lại tự chủ, Thân nói sang việc khác:


-  Hôm nay lên đây, chủ yếu muốn bàn với các đồng chí một việc quan trọng: Xưởng ta không thể để đây mãi được. Tiếp tế thì khó, mà lực lượng chính của ta cũng chẳng ở đây nữa...


Lộc giật mình hỏi luôn:


-  Anh nói thế nào? Bỏ chiến khu này à? Chúng ta sẽ đi đâu? Lẽ nào chúng ta không đủ sức phá vòng vây của chúng?


Thân đáp, giọng nhẹ như hơi gió thoảng:


-  Không phải là bỏ chiến khu, các đồng chí ạ. Mà cũng không nên tung lực lượng ra quần với địch để phá vòng vây. Bọn địch chỉ chờ ta có thể. Không, ta cần bảo toàn lực lượng. Chiến khu thì thiếu gì chỗ. Cả một dãy Trường Sơn này là của ta, ta ở đâu mà không được. Ta còn phải có cả một vùng giải phóng, nghĩa là một chiến khu ở ngay đồng bằng nữa kia. Ta đi, nhưng không có nghĩa là để địch chiếm cả dãy Trường Sơn này.


Bác Hải già thắc mắc:


-  Thế là thế nào, tôi không hiểu?


Ý bác muốn nói: Anh dạo này đâm ra nói kiểu cách tợn. Bác vẫn chưa nguôi giận về câu chuyện khi nãy.


Thân vẫn bình tĩnh giải thích:


-  Thế này bác ạ. Phân khu ủy chủ trương nếu địch đánh mạnh lên chiến khu này thì ta sẽ phòng ngự, nhưng đồng thời ta đưa lực lượng đánh địch chỗ khác, chỗ nào chúng sơ hở nhất. Tỉnh đã điều thêm một tiểu đoàn cho ba huyện miền nam. Chưa có tin... nhưng chắc thế nào cũng... thắng bởi vì địch tưởng ta tập trung ở cả đây... Cố nhiên ta chưa chuyển bây giờ nhưng phải chuẩn bị...


Bác Hải già vẫn nói giọng giận dữ:


-  Thế còn mấy trăm đồng bào còn bị vây hãm ở Hòa Mỹ, đành để cho họ chết trong tay giặc hay sao? Muốn đi đâu thì cũng phải đánh để giải thoát cho họ đã!


Bác nói với giọng trống không, như ra lệnh cho một người nào đó, không phải là với quyền bí thư tỉnh ủy đang ngồi trước mặt mình.


Thân chạnh lòng nghĩ tới mẹ mình cũng đang ở Hòa Mỹ không biết sống chết thế nào, anh thấy ruột đau như cắt. Đến cả đồng chí công nhân già tin cậy và ruột thịt này cũng không hiểu cho lòng anh. Không hiểu được, tự nhiên trong khóe mắt của Thân như có một dải sương mờ. Anh lặng đi một lúc lâu không nói gì cả.


Bác Hải già đã thấy dịu lại. Bác vẫn chưa biết chuyện bà cụ Thân bị mắc ở Hòa Mỹ, nhưng nét mặt bùi ngùi và thái độ của Thân lúc ấy làm bác lại thấy thương anh... Anh ta cũng nghĩ nát óc chứ không phải thảnh thơi gì, bác thầm nghĩ như thế. Chắc anh ta phải cân nhắc ghê lắm về lợi ích lâu dài của cách mạng, của kháng chiến nên mới không chủ trương đem bộ đội ra đánh giặc ở Hòa Mỹ. Chắc là đánh chưa lợi. Nhưng không lẽ để chết dân hay sao? Mà những bộ phận như xưởng mình ở trong cái vòng vây này thì bây giờ mình như người đang quờ quạng trong đêm tối mù mịt, cổ họng bác bỗng như tắc nghẹn... Không có lối thoát nào lợi hơn cả ư...


Thân đã lấy lại bình tĩnh, anh nghĩ: phải lo cho công việc cái đã, mình buồn nản bây giò chẳng giải quyết được cái gì mà chỉ thêm tổn thất. Anh nói:


-  Chúng ta làm cách mạng, cố nhiên là phải lo cho dân. -  Trong ấy phải chăng là có cả mẹ mình, ôi, tại sao con lại không nhắc tới mẹ! -  Nhưng cái thế bây giờ chưa lo được thì phải lo sao cho toàn cuộc kháng chiến được duy trì. Bác nghĩ xem còn đường nào khác hay khỏng? -  Thấy bác Hải già im lặng, Thân nói tiếp -  Cố nhiên là khi có điều kiện, chúng ta không bỏ lỡ dịp để cứu đồng bào -  Con có cứu kịp mẹ không, mẹ ơi? -  Tỉnh ủy đã chủ trương như thế. Tỉnh ủy cũng chủ trương chuẩn bị rút dần những bộ phận nặng trước. Đó là con đường hợp lý nhất, phải không các đồng chí. Riêng tôi nghĩ không còn con đưòng nào khác. Vấn đề là làm sao anh em công nhân không thắc mắc về lại phải chuyển đi.


Giọng Lộc sôi nổi:


-  Cái ấy thì anh không phải lo. Chúng tôi bảo đảm là tinh thần anh em rất vững.


Thân hỏi lại:


-  Mặc dù cơm ngày có ba lạng không muối?


Lộc đáp:


-  Đói thì cố nhiên anh em đói tợn. Có anh mờ mắt đi, đập cả búa vào ngón tay, năng suất thì kém hẳn. Nhưng cái đáng lo không phải ở đấy.


Bác Hải già nói tiếp:


-  Đúng, cái đáng lo là anh em không hiểu và không tán thành bỏ chiến khu. Mấy đồng chí tự vệ hôm qua đây còn nằng nặc đòi ra đánh để cứu đồng bào ở Hòa Mỹ. Trong số anh em có một số gia đình ở Hòa Mỹ. Bây giờ phải làm anh em hiểu. Thông rồi thì họ sẽ vác tất cả đi trong nháy mắt...


Thân mỉm một nụ cười, một nét sáng chợt loé lên trên khuôn mặt hốc hác và buồn rầu của anh:


-  Nhưng trước hết hãy hỏi chính bác thông chưa đã chứ?


Bác Hải già không đáp, chỉ lẳng lặng đứng dậy, phủi quần áo:


-  Thôi, để triệu tập anh em họp lại ngay đi thôi.


Trái với sự lo lắng của ba người, anh em công nhân vào xưởng, sau khi nghe Thân và bác Hải già giải thích kỹ chủ trương của tỉnh, đã vui vẻ lao ngay vào công việc chuẩn bị di chuyển. Họ bàn nhau chỉ để một bộ phận nhỏ để thông nòng súng bị tắc, bộ phận này sẽ chuyển đi sau cùng.


*


 


Thiện được cáng lên bệnh viện CK7 đã ba hôm. Vết thương của anh nhẹ thôi. Mảnh đạn lọt vào dưối da đã được gắp ra ngay đêm đầu tiên. Sau khi mổ, anh không sốt như nhiều người khác. Sức khỏe của anh hồi lại nhanh chóng. Anh được chuyển sang phòng an dưỡng của những người sắp khỏi để trở về chiến đấu. Đó là một điều rất may mắn cho Thiện vì như thế là anh được thoát khỏi cái phòng ngoại khoa ghê gớm nọ ở bệnh viện từ khi quân Pháp đánh lên chiến khu.


Bệnh viện tỉnh có lẽ chưa bao giờ bận rộn đến như thế. Trước đây, sau mỗi trận đánh ở đồng bằng ba huyện miền bắc, người ta cũng cáng lên đây những người bị thương mà những bệnh xá tiểu đoàn, bệnh xá huyện không chữa được. Nhưng con số đó có là bao. Bây giờ chiến trường nổ ra ở ngay giữa chiến khu, và cảnh chiến đấu ác liệt chưa từng thấy. Phòng ngoại khoa đông nghịt người. Cả một gian của khoa nội trước dành cho những người bị sốt rét ở chiến khu trước đây thì số đông lại bị các bệnh tai ác ấy -  bây giờ phải để chữa những chiến sĩ bị thương phải mổ, phải cưa. Ba ngày đầu ở cái phòng này thật là một sự ghê rợn. Bông, băng, cồn và thuốc sát trùng, cờ rê din... không đủ để át cái mùi tanh thối đến lợm mửa. Phần lớn đó là do những vết thương của những chiến sĩ để lâu mới được cáng lên đây và đã bị nhiễm trùng. Có những vết thương sâu hoắm, để lộ cả xương và trong hốc vết thương đầy mủ vàng, xanh. Có người trong vết thương đã có dòi. Trong ba ngày đêm liền không đêm nào trong phòng không có người chết.


Giá mà đừng có những lũ quỷ quái ác... thì sẽ yên ổn biết bao. Ta sẽ dạy học, làm thơ... Không phải để in mà chỉ để chép, để tặng.


Chết, mình đâm ra lắm ảo tưởng quá rồi. Thiện đang ngồi mơ mộng bỗng thầm kêu lên như vậy. Không biết như thế có phải là tiểu tư sản không.


Thiện nhìn quanh như sợ có ai bắt gặp được anh đang nghĩ những gì. Anh chợt bật cười khẽ: ai còn đến đây mà bắt bẻ mình. Đảng viên cũng là con người chứ. Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản... cái buổi nói chuyện ấy cũng thật là hay...


Trí óc Thiện lại quay sang dòng mơ mộng khi nãy: mình sẽ tặng ai? Tặng vợ mình trước hết. Mình sẽ là người hết sức yêu vợ, điểu đó đã rõ ràng rồi. Và tặng Vân nữa... Như thế có trái với vợ không nhỉ. Mà tại sao... tại sao Vân lại không thể là...


Có tiếng chân người lạo xạo dẫm lên những đám đá cuội rải rác gần bờ suối. Thiện giật mình quay lại: đó là Bảo và An, hai người bạn cùng phòng với anh. Bộ ba mới quen nhau ở bệnh viện nhưng họ thân nhau vì cùng ý hợp tâm đầu. Bảo làm việc ở Ty Công an tỉnh, trước cũng đi dạy học tư ở Huế, An ở phòng thông tin huyện Hương Trà được lên bệnh viện tỉnh chữa vì bệnh đau tim nặng.


Bảo cười nói:


-  Cả bệnh viện được một mảnh đất con này có nắng thì cậu chiếm cả nhé.


Quả thật, lúc ấy mặt trời vừa lên và qua đám lá um tùm không hiểu sao lại lọt đúng vào bên bờ suối thành một khoảng đầy nắng chừng ba bốn thước vuông. Thiện nói:


-  Ra ngồi sưỏi cho vui các cậu, mấy khi ở CK7 mà được tắm nắng.


Bảo lễ mễ khiêng tới hai hòn đá để ngồi rồi ghé tai Thiện nói nhỏ:


-  Tin mới nhé. Nàng tiên của chúng ta đang khóc.


An cũng nói chen vào, vẻ quan trọng:


-  Chắc là có việc gì lạ lắm. Hai hôm nay nàng trực ở phòng ngoại khoa, nghe lính đồn ầm lên là cậu nào mà được nàng chăm sóc thì bệnh đang mười khỏi hẳn xuống chỉ còn ba, bốn. Đẹp thật... như mình đây vợ con rồi thế mà cũng cứ là muốn rụng tim...


Bảo ngắt lời:


-  Chả trách cậu đau tim nặng là phải. Nhưng tớ đã dò ra được phần nào manh mối. Đố các cậu có thể đoán là gì?


Thiện vờ làm như không biết gì, anh hỏi:


-  Tại sao mà... nàng khóc thế cậu?


Bảo càng làm ra bộ bí mật hơn, anh nói rất khẽ:


-  Thế có phục công an không đã nào? Này, chúng mình không biết chứ, nàng đã đính hôn rồi đấy nhé. Từ hồi ở Huế, chưa cách mạng kia... Chả phải bị lính nào trêu hay vì cái gì cả. Chỉ vì cái cậu vị hôn phu ấy... nghe đâu bị ta bắt nhưng rồi lại được giáo dục và được làm công tác cho ta ở một cơ quan nào ở CK ấy, bây giờ lại bỏ CK mà chạy rồi. Chính cậu Vệ hôm Tây nhảy dù Hòa Mỹ đã thấy hắn ta chạy vượt sông Ô Lâu và chính anh ta đã bắn theo hắn một nhát... không chết. Cậu Vệ ta bị sốt rét, tình cờ mấy hôm trước đây lại được chở lên CK7. Cậu ta kháo chuyện... chuyện tới tai nàng và thế là nàng khóc.


An nói:


-  Cuộc đời tình ái của nàng thế thì cũng bi nhỉ. Như tớ nghĩ thì việc quái gì mà đeo đuổi. Đính hôn hay không, bình thường ra người ta còn cắt như không nữa là đây lai trải qua bao nhiêu biến đổi cách mạng rồi kháng chiến, vỡ mặt trận rồi chạy tứ tung... Thế nào, anh Thiện nghĩ có phải không?


Thấy Thiện ngồi trầm ngâm không trả lời, Bảo nói luôn:


-  Phải quá còn gì nữa. Mình mà như nàng thì mình cắt từ lâu. Trai trẻ ở chiến khu thiếu gì, cứ gì phải đi đâu xa, cứ ba anh em chúng mình đây này, lại không đáng để lọt mắt xanh của nàng hay sao.


Bỗng Thiện ngơ ngác đứng dậy, hỏi với giọng thảng thốt:


-  Các anh trông thấy Vân khóc ỏ đâu? Phòng cô ấy hả. Thôi, hai anh ngồi chơi nhé.


Bảo và An cùng ngạc nhiên nhìn theo, không hiểu sao Thỉện lại có vẻ quen và quen rất thân với người con gái đang là đầu câu chuyện của bất cứ người lính nào lên nằm ở cái bệnh viện này như thế.


                                                                        *


Thiện bước nhanh về phía phòng riêng của Vân ở phía sau phòng nội khoa, ý nghĩ quay lộn rất nhanh làm đầu óc nóng bừng: Chính Long đã cứu ta... Phải nói cho Vân rõ... Nhưng biết đâu rằng sau đó... Vân đã săn sóc ta tận tình mấy hôm trước... An nói cũng có lý phần nào chăng? Không được, chưa biết Long thế nào... nhưng sao lại không? Sao lại không? Mình yêu Vân và yêu thành thực từ mấy năm nay... Sao lại bắt Vân cứ phải đeo đuổi vì một lời đính hôn từ trước cách mạng... Bây giờ vẫn đang khóc… tội nghiệp.


Vân tiếp Thiện với đôi mắt còn đỏ hoe, tuy rằng cô đã nín từ lâu. Thiện vội vã bưóc hẳn vào trong phòng Vân, anh hỏi:


-  Nghe nói Vân khóc... vì chuyện gì thế?


Không thấy Vân trả lòi, Thiện nói luôn:


-  Vì chuyện Long phải không? Tôi cho rằng mới là tin đồn, chưa có gì là thật cả. Không lẽ Long mới được ta giao cho công tác mà…


Vân trông thấy Thiện, nỗi tủi thân vì hoàn cảnh éo le của mình trỗi dậy, cô lại tấm tức khóc. Không ngăn được nước mắt nhưng câu nói của Thiện cũng làm cô phân vân. Ừ, chả có lẽ nào Long lại.... Mà tại sao mình lại phải đeo đuổi một người như thế kia chứ. Ước vọng của ta là vào đoàn thể kia mà.


Trong trí óc Vân, thoáng hiện lại cả một quãng thòi gian dài từ khi cách mạng đến nay. Ừ, sao ta lại cứ phải lệ thuộc vào cái lời hứa hẹn ấy. Tình yêu có còn nữa chăng? Phải chăng đã bao lần mình muốn đặt lại vấn đề. Tình yêu đã rạn nứt ngay từ cái hôm ấy, hôm tiễn Long đi Hà Nội ấy. Thế mà mình cứ đeo đuổi là tại làm sao. Long có còn xứng đáng vối mình nữa đâu. Tại sao lại cứ phải là Long mà không là người khác trong sạch hơn, xứng đáng hơn:


Thiện cũng im lặng suy nghĩ: trước mặt anh chính là ngưòi con gái đang bị giày vò vì người yêu có thể đi sang một con đường khác, trước mắt anh chính là người cũng có cảm tình với anh, chỉ cần anh nói một câu bất lợi cho Long, bạn của anh. Nhưng Thiện tự thấy mình không thể hèn kém đến nỗi đi nói xấu Long vào lúc này. Anh nói nhanh:


-  Vân ơi, Long là người tốt, không nghi ngờ gì cả. Chính Long đã cứu tôi hôm ở Hòa Mỹ, vừa đó tôi quên chưa nói cho Vân biết đấy.


Thiện nói mà tai anh hình như không nghe những lời anh nói, Anh thầm nghĩ: sao lại khẳng định là tốt. Lố sau khi cứu mình Long chạỷi itheo giặc thật thì sao. Mình không thật. Mình đang nghĩ gì thế này?


Vân ngước mắt lên nhìn Thiện: Anh ta tốt quá... Mình có thể yêu một người như thế này chăng. Nhất định anh là đảng viên, mới có tính tình như vậy. Anh ấy cũng yêu mình. Cái tài hoa của Long đã từng làm mình say đắm liệu có thể so được vói tính tình trung thực, cao thượng, với sự tiến bộ, ý thức giác ngộ của Thiện hay không. Tự nhiên Vân cảm thấy hình như từ lâu lắm, cô đã là người của Thiện, cô vẫn yêu Thiện hơn bao giờ hết...


Thiện thấy đôi mắt Vân đổi khác, hình như chờ đợi gì ở anh.


Sau đó một lúc lâu, Vân đã đi ra rồi mà Thiện vẫn còn đứng thừ người trong buồng. Không hiểu mình vừa làm những gì. Đầu óc quay cuồng, anh chỉ còn mang máng nhớ mình đã nắm lấy tay Vân và rất nhanh sau một cái kéo tay rất nhẹ, cả người Vân hình như đã ngả vào lòng anh. Đầu Vân gục vào ngực anh, nóng hổi. Hình như anh có nói một câu gì đó, nhỏ lắm và cũng hình như môi anh đã chạm môi Vân. Nhưng mà tại sao ngay sau đó là có chuyện Vân gỡ tay anh ra, bỏ chạy và nói lên những tiếng quái gở: Không được, không được...


Thực tế thì có chuyện gì đã xảy ra vậy. Mình đang đứng ở đâu thế này. Mới vài giây trước đây, hạnh phúc tưởng đã ở trong tay mình, chắc chắn. Thế mà bây giờ thì sao. Tại sao Vân lại nói không được. Mình có làm cái gì sai chăng? Không, mình chưa hề lợi dụng nếu kể là lợi dụng thì mình đã nhiều lần có thể lợi dụng. Nhưng lần này... lần này mình có lỗi gì với Long không? Vân vẫn một lòng với Long đến thế kia ư. Vân đâu rồi. Chết hay là Vân đang khóc?


Thiện chạy bổ ra bờ sưối tìm Vân... Mình sẽ xin lỗi nếu quả mình đã làm trái ý Vân. Nhưng tại sao mình lại phải xin lỗi kia chứ!


Vân không có ở bờ suối. Tìm quanh mãi, Thiện mới thấy Vân đang chăm sóc cho một thương binh nặng ỏ phòng ngoại khoa mà mùi tanh thối vẫn bốc lên nồng nặc. Không biết từ bao giờ, Vân đã mặc chiếc áo choàng trắng, nước da có vẻ hơi xanh, và trong ánh mắt có vẻ hoảng hốt ấy giấu sau một vẻ bình tĩnh kín đáo mà trừ Thiện ra không ai có thể biết được. Nhưng biết đâu là Thiện cũng chỉ đoán mà thôi! Biết là chưa thể gặp Vân vào lúc ấy được, Thiện lặng lẽ thở dài, quay về giường nằm, trong bụng phân vân không biết nên hối hận hay nên lấy làm vui sướng vì cử chỉ vừa rồi.


 


 


XV


 


Bệnh viện được lệnh chuyển đi gấp. Hôm qua, quân địch đã rút khỏi Hòa Mỹ. Đêm qua có chuyến tiếp tế gạo đầu tiên, mặc dù là chuyển trong đêm tối mù mịt. Ấy thế mà sáng nay lại có lệnh chuyển. Thế là thế nào. Nhiều người không hiểu, có nhiều cơ quan cũng không hiểu, trong đó có cái bệnh viện này. Tưởng địch hết gạo thì cứ ỏ đây mới phải chứ. Nhưng lệnh là không, các cơ quan cứ việc chấp hành, y sĩ Tín đã nói với các nhân viên và cả người bệnh nữa như vậy. Y sĩ phụ trách đã nói với cả người bệnh vì chuyển cái bệnh viện này đâu có dễ như các cơ quan kia. Người bệnh nặng cũng là một thứ  phải được gánh đi. Y sĩ Tín đã phải xin đến ba chục bộ đội và dân công khỏe mạnh để làm việc đó.


Thế là ba hôm liền, Vân bận tíu tít không mở mắt ra được. Hôm nào cũng gói thuốc, đóng hòm, thay băng cho các chiến sĩ bị thương nặng, rồi thu xếp gạo, nồi niêu xoong chảo giúp bộ phận cấp dưỡng, lại phải lo động viên những người ốm nhẹ tự đi lấy. Bởi vì đường đi vào phía nam đâu phải dễ dàng. Mới hôm qua đây không biết có phải do địch đánh hơn được hay sao mà chúng đánh lên Trò và đóng luôn ở đó một đồn tạm. Thế là con đường vẫn thưòng đi ở phần rìa núi bị nghẽn, muốn đi vào ba huyện phía nam bây giờ phải leo lên thượng đạo, lên một ngọn núi cao gần biên giới Lào -  Việt. Đường đi trước chỉ có gần 3 cây số, bây giờ thành ra đến ngót 80 cây số và phải đi hai ngày rưỡi mới tới. Tuy vậy, có anh bộ đội nào lại nỡ để cho nàng Vân -  như tiếng họ thường vẫn dùng để gọi Vân -  phải nói đến lần thứ hai rằng anh nên gắng đi lấy. Cô em bé nhỏ yếu ớt thế mà còn leo được thì đường đường một đấng nam nhi dù là đang trong lúc đau yếu, lẽ nào lại không gắng mà đi lấy...


Thiện đã trở về đơn vị từ hôm kia. Sau cái buổi hôm ấy, Vân hết sức tránh không gặp lại anh nữa. Cho mãi đến lúc sắp rời bệnh viện, Vân cũng chỉ để cho anh gặp mặt một lúc ở ngay chỗ đông người và hai người chỉ kịp chào nhau có một câu. Đêm hôm ấy, Vân đã thao thức gần như suốt đêm không ngủ được. Chỉ một ý nghĩ: mình làm như thế có lạnh nhạt quá với anh ấy hay không? Thực tế thì từ cái buổi cô ngả đầu vào ngực Thiện và để Thiện hôn lên môi một cái, cô đã không còn lúc nào được yên ổn. Mình làm như vậy là đúng hay sai? Thâm tâm cô cho rằng mình chẳng có gì sai cả, Long không còn có quyền gì bắt cô: phải giữ nguyên vẹn mối tình nữa. Nhưng lý trí của cô, được nhồi từ lâu bằng những giáo lý Khổng Mạnh thì vẫn cho rằng cô đã hứa hôn thì dù chưa cưới vẫn cứ coi như là đã có chồng và trong khi chưa có bằng chứng gì rõ rệt về sự phản bội của người chồng chưa cưới ấy, cô không có quyền được yêu ngưòi khác. Cứ mỗi lần nghĩ như thế, Vân lại thấy bứt rứt khó chịu, cái cảm giác “mình đã ngoại tình” cứ đè nặng lên tâm trí cô.


Nhưng gần haí năm kháng chiến ít nhất đã rèn luyện cho Vân cái đức tính bình tĩnh, cô không còn xốc nổi và háy để lộ tình cảm ra ngoài như trước. Cô vẫn tận tụy làm những công việc bệnh viện giao cho cô trong lúc đi đường. Và người bệnh, hầu hết không ai biết nỗi lòng “ẩn” của cô, vẫn coi cô là nguồn tươi vui của cả đoàn người di chuyển. Bảo và An là hai ngưòi hay đùa nhất. Hôm đầu tiên, Vân còn chịu đựng, nhưng sau khi đã qua khỏi A La, con đường đã bắt đầu dễ đi hơn thì cô đã không nén được bực tức, và cô đã làm cho mọi người phải ngạc nhiên. Câu chuyện xảy ra đầu đuôi như sau: lúc ấy trời đã về chiểu và người giao thông dẫn đưòng đã báo một tin vui: cả đoàn đã sắp tối thôn Trấm và chỉ còn một chặng đường chừng 10 cây số nữa là tới chiến khu mới. Con đường từ khi bộ đội ta đánh tan cả hệ thống đồn bốt của địch, bây giờ hoàn toàn dễ đi, không phải lén băng qua đường trong đêm tối như trước. Vân đang đi với đám người bệnh có thể tự đi liền động viên những người yếu nhất: “Cố lên các đồng chí, sắp tới làng rồi, tới đấy chúng ta sẽ nghỉ”. Bảo và An vẫn kè kè đi gần Vân từ khi di chuyển, bỗng đùa cợt: “Kìa các cậu ơi, nàng tiên đã bảo sắp tới làng, các đấng nam nhi chúng ta gắng lên, chắc thế nào tối nơi nàng cũng có thưỏng”.


Nghe giọng nói rè rè của Bảo, không hiểu sao, nỗi bực mình của Vần đối với anh chàng cán bộ này bỗng bừng bừng nổi dậy. Tiếp theo đó là câu đùa nhả của An:


-  Đố các cậu biết thưởng cái gì nào? Mỗi chàng một cái cười và một phát chết tươi vào mông, sướng chưa!


Vân cau mày, thẹn đỏ mặt rồi bừng giận. Thật ra thì từ khi sống trong tập thể bộ đội, cơ quan, cô đã nghe nhiều câu đùa còn thô tục hơn thế nhiều. Nhưng không hiểu sao, hôm nay câu đùa của An lại làm Vân chạnh lòng, cô cố cảm tưỏng người ta đem tính tình dễ dãi, hay cười và hay an ủi các chiến sĩ của cô ra để chế nhạo. Tự nhiên Vân có cảm giác như An đang nói bóng gió gì đó về cái việc cô đã không giữ được hoàn toàn trong trắng. Đang đi Vân bỗng đứng lại gắt:


-  Đề nghị anh An không có lối đùa nhả như thế nhé.


Tưởng Vân cũng chỉ gật đùa, Bảo lại cười hề hề:


-  A ha! Nàng tiên nổi giận, chết thằng cu An chưa.


Vân quay sang Bảo, gắt to hơn:


-  Cả anh nữa, tôi không đồng ý đùa thế đâu. Các anh quá lắm...


Vừa buông xong câu nói cuối cùng, Vân chợt nhận ra rằng chính cô mới là người quá quắt, và hai anh chàng kia chỉ là vô tội. Nhưng nỗi buồn bực từ hôm trưóc đến nay như vượt quá sức chịu đựng của cô, cô bỗng nghẹn lời và trên đôi mắt nhung xanh đẹp, hai dòng nước mắt bỗng ứa ra rất nhanh làm cô không kịp quay mặt đi để giấu mọi người.


Nỗi buồn bực của Vân có dịu đi tí chút khi cô vượt khỏi làng Trấm và bước chân lên con đường mòn quen thuộc dẫn đến chiến khu Lương Miêu. Đây là chỗ cô đã ở lâu từ khi về mặt trận, đây là hồi cô sống sung sướng và trong trắng trong tập thể bộ đội, trong niềm hy vọng sẽ gặp Long cùng trong một hàng ngũ kháng chiến, trong tình thương của tiểu đoàn 18. Tại sao người ta lại điều mình về cái bệnh viện Hòa Mỹ trong ngót ba tháng trời làm gì. Cuối cùng rồi cũng về lại đây thôi. Chỉ mất công đi, công về và lại gặp cảnh bực mình. Giá không gặp lại Long ở Hòa Mỹ, cứ thế rồi được tin anh ta chạy theo Pháp, thế là cắt đứt và thế là yên ổn. Đằng này lại gặp nhau mà mình không có cách gì để giữ anh ta lại và rồi cuối cùng lại xảy ra câu chuyện với Thiện... Nhưng tại sao mình lại bực mình. Tại sao mình lại không thể yêu Thiện được. Tại sao? Chốc lát, Vân lại tưởng như từ trước tới nay cô chỉ yêu có một mình Thiện, yêu say đắm và câu chuyện hứa hôn vớỉ Long chỉ là câu chuyện hão huyển. Có thể như thế được chăng...


Lúc ấy trời đã tốỉ hẳn. Vân và một số chiến sĩ đứng quanh quẩn bên những cái cáng chở anh em bị thương nặng để giao từng cái một cho dân công của chiến khu ra thay cáng. Bỗng một chiến sĩ đứng gần Vân khi trông thấy bóng dáng một cô gái quê liền hỏi:


-  Ai như cô Báu. Báu đấy có phải không? Triều đây. Anh Quý vẫn khỏe mạnh chứ.


Một giọng gái quê thanh thanh cao vút cất lên:


-  Trời ơi. Anh Triều. Anh cũng theo đoàn này vào ư? Anh Quý em khỏe. Nhưng mà chuyện rắc rối lắm.


Vô tình, Vân được nghe câu chuyện giữa cô dân công không quen biết tên là Báu và anh bộ đội tên là Triều nọ.


Tiếng ngưòi đàn ông hỏi:


-  Sao chuyện gì mà rắc rối thế?


Tiếng người con gái nói với giọng uất ức:


-  Một tến khốn nạn anh ạ, cái thằng Hồ ấy...


-  Cô bảo cái gì? Hồ nào? Nói đầu đuôi, không thì ai hiểu được.


-  Anh nhớ em có thằng bé... phải không. Chính là cái tên Hồ ấy nó...


-  À, hiểu rồi. Thế sao lại rắc rối gì với anh Quý?


-  Cả hai đều ra tòa án binh. Anh Quý em bảo trông thấy nó định phản ở ngay mặt trận, anh ấy liền vật ngay nó xuống. Nó cãi lại rằng không có lý nào nó muốn phản mà lại đợi đến lúc ấy và làm để cho anh Quý thấy. Nếu nó muốn theo giặc thì thiếu gì lúc... Ở đây con buôn người ta về thành như cơm bữa. Kể nó nói thì có lý. Nhưng em thì em tin anh Quý. Thằng ấy khốn nạn lắm.


-  Cô đã gặp nó?


-  Em gặp nó ngay hôm nó mới vào đây. Nó mới từ Hòa Mỹ vào chứ đâu. Lúc mới vào còn đại đội phó kia đấy. Khốn nạn, lúc nghe đâu còn làm to hơn, đâu như đội trưởng, Cho đến lúc sắp đánh nhau thì chỉ còn là trung đội phó. Em tưởng giá người tử tế thì cũng...


-  Tôi tưởng bắt nó phải lấy chứ.


-  Em lúc đầu cũng nghĩ thế. Chả gì cũng để cho thằng bé có bố. Chẳng phải vì nó bị giáng chức mà em không... Em chỉ ngại mỗi mình là gái quê mà nó là người tỉnh thành, khó hợp, khổ cả cho em, cả cho nó. Em cứ phân vân mãi: nếu không lấy nó thì khổ thằng bé không bố  Trước hôm đánh nhau, em còn xin với ban chỉ huy để... Nhưng hôm nay thì em dứt khoát rồi. Một thằng ra mặt trận mà như thế, em tin rằng nó không phản ngay đi nữa thì cũng chẳng tốt gì với bộ đội, với kháng chiến thì mình phải dứt khoát ngay, có phải không anh...


-  Hôm nào gặp Quý để tôi hỏi thêm đã.


-  Thôi, em cũng phải đi thôi. Thế nào cũng ở gần nhau thôi mà.


Bóng người dân công thoăn thoắt đi trong bóng tối tỏ rõ cô ta rất thuộc đường! Vân muốn chạy theo níu lại hỏi một tí xem cô ta nói Hồ ấy là Hồ nào, có phải người anh họ của cô không, nhưng cô không dám, sợ tỏ ra là mình nghe trộm câu chuyện giữa hai người và sợ không biết sẽ nói năng như thế nào. Cô chỉ thầm nghĩ: Hồ, đại đội trưởng rồi bị xuống đại đội phó, lại ở Hòa Mỹ thì có nhiều phần chắc là Hồ ấy rồi. Nhưng anh ta có con với cô gái quê này từ hồi nào? Kể ra thì chơi bời bậy bạ như anh ta thì cũng có thể lắm. Từ chỗ ấy đến chỗ phản bội... Vân chợt rùng mình nghĩ tới cái sa đọa của một người, mà cô đã có nhiều phần tin là có họ hàng với mình. Còn cái cô gái quê ấy, tên là gì nhỉ, à phải Báu, cái tên nghe cũng hay đấy chứ, em của anh gì tên là Quý, mà cô ta nói cũng buồn cười nhỉ? Giản đơn quá. Lấy nó là để cho thằng bé có bố. Lại “bắt nó phải lấy”. À không. Câu này là của anh bộ đội kia nói đấy chứ nhưng mà cô ta bảo rằng cô ta cũng nghĩ như thế. Và cô ta bảo cô ta dứt khoát ngay khi biết thái độ của anh Hồ nào đó là không tốt với kháng chiến, cũng chỉ mới biết mơ hồ vậy thôi chứ chưa có kết luận gì của tòa án. Vậy là họ chỉ lấy nhau để làm vợ làm chồng thôi hay sao? Còn tình yêu thì sao nhỉ? Ờ mà sao ta lại cho rằng họ không có tình yêu... Dứt khoát... Họ có suy nghĩ lắm chứ không phải nói không có hiểu biết. Thế ta thì sao lại không dứt khoát được. Ta có quan niệm đối với Long chỉ là chuyện lấy hay không lấy? Không, ta muốn có một tin tức thật rõ ràng về Long. Không nên mơ hồ. Khi nào tận tai tận mắt ta, thấy được, nghe được việc Long phản bội, ta sẽ dứt khoát. Long bây giờ ở đâu. Liệu có ai biết đích xác hay không?


Hết


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 21.09.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 06.09.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.09.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 26.08.2018
Tử tù tự xử lý nội bộ - Trần Thư 24.08.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 23.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
xem thêm »