tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31269695
Tiểu thuyết
06.02.2020
Thanh Tâm Tài Nhân
Kim Vân Kiều Truyện


Viên Tù trưởng thấy Thúy Kiều ủ liễu phai đào, trăm phần chẳng có phần nào phần tươi, cũng nể lòng không nỡ ép sự trăng gió. Thúy Kiều bấy giờ một mình nghĩ ngợi đắng cay trăm đường, chí đã nát ngọc tan vàng mới thôi, nhưng lại sợ có người cứu vớt thời không được như ý. Ngồi mãi đến trống canh ba, bỗng nghe có tiếng sóng dội ầm ầm, từ cửa bể đến tòa Băng Sơn, vang sông dậy núi, nghe rất dữ dội. Thúy Kiều thấy vậy càng thêm ngao ngán, nghĩ thầm rằng: “Chân trời mặt nước lênh đênh, nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào?”. Nghĩ xong, nhân hỏi viên Tù trưởng rằng:


- Chẳng hay tiếng dữ dội đó là tiếng chi?


- Đó là trào tín!


Thúy Kiều nghe nói, liền tỉnh ngộ ngay, lại hỏi luôn rằng:


- Đây có phải là sông Tiền Đường không?


- Phải, chính phải!...


Thúy Kiều hỏi xong, ngồi nghĩ thầm rằng: “Thôi, con sông này chính là con sông kết cục của cái thân bạc mệnh này rồi! Ta nhớ lời thần mộng rõ ràng, nay thôi hết kiếp đoạn tràng từ đây. Năm trước Lưu Đạm Tiên có dặn đón ta ở đây mà!”. Nghĩ xong, ngẩng đầu lên nhìn, thấy trong thuyền có nghiên bút, liền đem ra trước ngọn đèn, viết một thiên tuyệt bút gọi là để lại về sau.


Những hẹn mười lăm năm trước,


Ngày nay mới đến Tiền Đường;


Cõi tục ba sinh thấm thoắt,


Cuộc đời một giấc mơ màng;


Tin sóng giục người dạo gót,


Đang tay dứt mối đoạn tràng!


Đề xong liền gọi to mấy tiếng rằng:


- Từ Minh Sơn! Đợi thiếp ở đó! Thiếp vì việc nước, nên phụ lòng chàng! Giết chồng mà lại lấy chồng, mặt nào mà đứng ở trong cõi đời! Thiếp xin một thác để tạ lòng chàng, chàng ơi!...


Nói dứt lời, gieo mình xuống nước. Một tiếng “tùm”, viên Tù trưởng nghe thấy chạy ra, thời đã trầm hương đắm ngọc rồi. Không may lại gặp giữa lúc sóng đánh dữ dội, thuyền cắm không vững, quân sĩ đành chịu bó tay mà than rằng:


- Thương thay! Cũng một kiếp người. Hại thay! Mang lấy sắc tài làm chi.


Viên Tù trưởng đành chỉ cho quân đợi đó đến sáng, rồi đem bài thơ đệ trình quan đốc phủ. Quan xem xong, cũng lấy làm hối hận, song việc đã dĩ nhiên, đành chỉ thông sức cho địa phương ấy, nếu vớt được tử thi Thúy Kiều, thời đem mai táng.


***


Lại nói chuyện Giác Duyên khi ở Lâm Tri từ biệt Thúy Kiều, đeo bầu quẩy níp rộng đường vân du, thẳng đến đất Việt, tìm vào Tam Hợp đạo cô, theo học phép tu luyện.


Một hôm, nhớ đến Thúy Kiều dặn nhờ hỏi việc chung thân, liền hỏi sư Tam Hợp rằng:


- Kính bẩm sư phụ! Thúy Kiều với đệ tử đây, vẫn có tình nghĩa. Nay chẳng hay duyên cớ tại sao mà chỉ những trọn đời vất vả?


- Thúy Kiều vất vả cũng là đáng kiếp lắm chứ! Phàm con người ta sinh ở đời, thời tu là cõi phúc, tình là dây oan! Thế mà Thúy Kiều kia thời lại vì chữ tình gây nên chữ oán, thường khi những chốn nhà vàng ở không yên ổn, mà những nơi nước lửa, thời lại tìm đến nương thân. Hết nạn ấy đến nạn khác, thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần. Mãi đến khi nào mà trong vòng tên đạn, bạn cùng hổ lang, giữa dòng sông nước, gieo mồi rồng cá, thì hết kiếp đoạn trường!


Giác Duyên nghe nói, lấy làm kinh ngạc, liền hỏi lại Tam Hợp rằng:


- Chết nỗi! Nếu vậy, thì một đời nàng chỉ những đắng cay mà thôi ư! Thương thay!


- Ấy không! Đạo cô chớ ngại! Tuy vậy nhưng cũng chẳng hề chi, nghiệp duyên cân đi, nhắc lại còn nhiều! Thúy Kiều trước vì tình, đã không mắc tiếng gian dâm; sau gặp oan lại tỏ được lòng hiếu nghĩa. Vả Kiều lại làm điều nghĩa lớn, hại một người cứu muôn người, biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng. Ấy đó, cái công đức của Thúy Kiều đã lớn lao như vậy, thời cái nghiệt trái của Thúy Kiều sẽ tiêu diệt hết, rồi mối nhân duyên lại được sum vầy. Đạo cô nay muốn trả nghĩa cùng Thúy Kiều thời đến sông Tiền Đường, đợi đến ngày tiêu kiếp, sẽ thả một cái bè bảo phiệt mà cứu vớt lấy nàng. Đó cũng là một dịp may mắn của người tu hành, giữ được trước sau một lời trọn vẹn.


Giác Duyên nghe xong mừng thầm, liền đáp rằng:


- Vâng, kẻ đệ tử xin vâng lời chỉ giáo, song chẳng hay bao giờ mới được gặp nhau?


- Đạo cô không phải lo xa, tự nhiên có một ngày Thúy Kiều sẽ tìm đến!


Giác Duyên nghe xong, liền tạ sư Tam Hợp rồi từ biệt ra đi. Lân la đến bên sông Tiền Đường, làm một tòa nhà gọi là am “Vân Thủy”. Xong lại mua một chiếc thuyền, đan một tấm lưới, và thuê hai người ngư phủ đêm ngày cắm thuyền chực bến, thả chài giăng sông.


Tối hôm ấy, Thúy Kiều gieo mình xuống giữa dòng ngân, bỗng lại gieo ngay vào giữa tấm lưới. Hai người ngư phủ thấy nặng tay lưới, vội vàng kéo lên thuyền. Con thuyền bị sóng đưa đi đến vài dặm. Giác Duyên ở mũi thuyền gỡ lấy người ra, nhìn xem thì ra là Thúy Kiều. Trên mui lướt thướt áo là, dẫu dầm hơi nước chưa lòa bóng gương. Liền thay quần áo rồi để cho nằm yên, Thúy Kiều nằm trong thuyền đương lúc mơ mơ màng màng, bỗng thấy Lưu Đạm Tiên ở đâu lại ngồi bên, gọi mà bảo rằng:


- Kiều thư ơi! Thiếp nay đã hết lòng chờ, mất công mười mấy năm thừa ở đây! Ngờ đâu Kiều thư phận mỏng đức dầy, bán mình chuộc tội, lòng hiếu đã hay, dẹp loạn an dân, lòng trung lại tỏ. Cái nghiệt trướng nay đã tiêu trừ, duyên xưa sẽ được tròn trặn, phúc sau sẽ dồi dào. Hội đoạn trường nay đã rút tên ra, thơ đoạn trường nay lại đem trao trả. Kiều thư thực đã làm cho thiếp mong đỏ cả hai con mắt vậy!


Lưu Đạm Tiên nói đến đó, liền đưa trả lại tập thơ đoạn trường. Thúy Kiều liền cầm lấy, đang sắp hỏi, lại bỗng thấy bên tai có tiếng người gọi rằng:


- Trạc Tuyền! Trạc Tuyền! Đã tỉnh chưa?


Nàng giật mình mở mắt, nhìn quanh nhìn quẩn, trong thuyền nào thấy Đạm Tiên đâu! Chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề bên cạnh. Thúy Kiều nghĩ lấy làm kinh ngạc, hỏi Giác Duyên rằng:


- Ô kìa! Lạ chưa! Thiếp đã gieo mình xuống giữa tràng giang, sao nay lại gặp đạo huynh ở đây? Không biết thiếp ở dưới thủy phủ, hay ở trên trần gian vậy?


Giác Duyên thấy đã nói được, mừng rỡ bội phần, vội vàng gọi Thúy Kiều mà bảo rằng:


- Nam mô cứu khổ cứu nạn A Di Đà Phật! Hiền muội ơi! Hiền muội vừa gieo mình xuống sông, thời bần đạo đã cứu vớt được ngay lên thuyền, thực là may vậy.


Thúy Kiều nghe Giác Duyên nói đến đó, liền ngồi dậy mà hỏi rằng:


- Quái lại chưa! Đêm khuya người vắng, sông nước mênh mông, sao sư huynh lại biết trước mà đến cứu?


- A Di Đà Phật! Hiền muội trước có nhờ bần đạo hỏi việc chung thân, thời Tam Hợp đạo cô người có dạy rằng: “Nợ trước đã trả xong, duyên sau lại được nối!”. Người bảo bần đạo đến sông này, kết chài cắm thuyền mà đợi hiền muội.


- Phúc đức sao! Sư huynh thật là có ơn tái sinh ra thiếp! Nhưng mà sư huynh ơi! Thiếp còn ngại có một điều, con thuyền nhỏ hẹp này, thời ở sao cho tiện? Vả lại quan đốc phủ mà biết đến, thời biết tránh đâu?


- Không ngại! Hiền muội cứ an tâm, bần đạo đã có một cái am tranh ở kia, cho hiền muội tạm trú chân ở đó, còn ai mà biết được.


Giác Duyên nói xong, liền sai chèo thuyền về am. Từ đó Thúy Kiều ở cùng Giác Duyên, gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.


Lời bình của Thánh Thán


Từ Hải không chết vì hàng, mà chết vì hàng mà không biết phòng bị. Từ đã không biết phòng bị, mà nàng Kiều cũng không biết khuyên Từ phải mặc giáp để phòng bị là cớ làm sao? Há phải Từ không nghĩ tới điều ấy đâu, chẳng qua cũng bởi ý Trời. Số là cuộc lầm than của vùng đông nam kia đến bấy giờ là hết; cái vận mệnh của giặc Từ kia đến bấy giờ là hết; cái cảnh hoan lạc của cô Kiều kia cũng đến bấy giờ là hết, cho nên xui khiến ra như thế để kết liễu cả cuộc binh đao của quân Từ Hải đó!


Nếu bàn về nhân sự thì nàng khuyên Từ bỏ tà về chính, phỏng nàng có phụ chi Từ; mà bày mưu giết kẻ ra hàng, khiến cho triều đình mang tiếng thất tín, thì thật là tại kẻ cầm quyền bấy giờ đã phụ lòng nàng vậy.


Từ Hải là giặc, thế thì “binh bát yếm trá”, dẫu giết cũng phải chịu; cô Kiều bị hãm ở tay quân giặc, nay biết khuyên giặc về hàng thì nàng không phải là giặc, tức là một người có công. Dẫu con gái không được dự phong thưởng thì cũng nên bảo toàn cho nàng được về đến quê nhà mà cốt nhục đoàn viên, há chẳng phải là nhân chính đường hoàng ru! Cớ sao lại ép nàng cho một tên thổ tù, thì thật là cưỡng bách nàng phải nát ngọc tan vàng vậy. Việc ấy so với việc giết Từ Hải, lại còn thảm khốc hơn nữa. Về sau, kẻ cầm quyền gian giảo ấy cũng không được toàn vẹn, thế thì ai bảo là chẳng có Trời!


XX


Một đàn giải kết mới thông linh!


Những nghĩ hồn trăng lại hiện hình;


Mừng rỡ xiết bao cười, nói, khóc!


Bâng khuâng nào biết nợ, duyên, tình?


Hoa chưa phai thắm hương còn ngát,


Người lại thêm xuân giá vẫn thanh;


Chuốc chén thề xưa so phím cũ,


Ngẫm ai, riêng những ngượng cho mình.


Bây giờ mới nói chuyện Kim Trọng từ khi từ biệt Thúy Kiều theo thân phụ đến đất Liêu Dương, lo việc hộ tang và tính tiền buôn bán, vừa bốn tháng mới về. Khi đến nhà lại sắm sửa thẳng đến vườn Lãm Thúy, dò la tin tức Thúy Kiều. Bấy giờ Thúy Kiều cũng vừa đi được bốn tháng, nhà cửa đã rời đi nơi khác.


Kim Trọng nhìn xem phong cảnh, nay đã khác xưa, trong núi giả, đầu tường hoa, tuyệt nhiên không thấy tăm hơi chi cả. Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời, đối cái quang cảnh ấy, chàng Kim chán ngán biết là chừng nào! Đứng ngẩn ngơ hồi lâu nhìn quanh tứ phía, lặng ngắt như tờ, bỗng thấy bên kia có một nóc nhà của người hàng xóm, liền lân la đến hỏi chuyện.


Hỏi đến ông Vương viên ngoại thời ông mắc tụng đình. Hỏi đến nàng Vương Thúy Kiều thì nàng đã bán mình chuộc tội cho cha. Hỏi đến bạn đồng học của mình là chàng Vương Quan thì chàng đã sa sút khó khăn. Hỏi đến nhà thì đã rời đi xa rồi.


Kim Trọng hỏi xong, người liền thất sắc đi thẳng tới nhà họ Vương.


Vừa bước chân đến cổng, đã thấy những quang cảnh tiều tụy, nhà tranh, vách đất tả tơi, lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa. Khi vào đến nhà, bèn lên tiếng hỏi rằng:


- Chẳng hay Vương huynh có nhà hay vắng?


Vương Quan nghe tiếng, vội vàng chạy ra, trông thấy Kim Trọng, liền hỏi rằng:


- Ô kìa! Kim huynh mới tới đấy à? Xin mời vào chơi trong này!


Kim Trọng bước vào, hai bên thi lễ, xong rồi cũng ngồi. Vương Quan ngảnh vào nhà trong, nói to lên rằng:


- Ai ở trong ấy? Có Kim huynh ở Liêu Dương mới về lại chơi, mau mau đun hộ tôi ấm nước!


Người trong nhà nghe dứt tiếng, đều cùng ngơ ngác trông nhau, rồi òa lên khóc.


Kim Trọng thấy sự nhốn nháo ngạc nhiên đứng dậy xem, bỗng thấy hai ông bà Vương viên ngoại tất tả chạy ra, vừa khóc vừa bảo rằng:


- Kim công tử ơi! Công tử đã biết nông nỗi này cho chưa? Ai oán thay! Kiều nhi phận mỏng như tờ, một lời đã lỗi tóc tơ với chàng! Gặp cơn gia biến, nó đã bán mình chuộc tội cho cha. Lúc nó phải bước chân ra, cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần. Dặn rằng: khi gặp chàng, thời mượn em là Thúy Vân thay lời ước cũ.


Vương viên ngoại nói đến đó lại khuyên bảo Kim Trọng rằng:


- Thôi, kiếp này duyên đã phụ duyên, dạ đài đành sẽ báo đền lai sinh.


Khuyên xong lại khóc:


- Kiều như con hỡi! Phận sao mà bạc lắm vậy! Chàng Kim về đó, con thì đi đâu, hỡi con?


Kim Trọng bấy giờ, im đi không tiện nói ra nghẹn lời, bụng nghĩ vẩn vơ rằng: “Quái lạ thay! Mình thực lần này mới là lần đầu đến yết kiến nhạc gia! Thế mà mình nghe những câu chuyện nói đó, thời lại tựa như mình đã làm lễ nghênh hôn từ bao giờ kia rồi!”.


Nghĩ xong, động mối thương tâm, cảm lòng chẳng đậu, cũng vật mình lăn khóc, rồi bỗng mê đi. Thành thử trong nhà họ Vương bấy giờ, ông bà Vương viên ngoại trước đã đau đớn ruột gan, khổ não quá chừng, nay thêm Kim Trọng lại vì tình biệt ly, tình cảnh rất thảm thiết.


Ông bà Vương viên ngoại thấy vậy cũng sợ lụy đến mình, vội vàng ngậm tủi nuốt sầu, khuyên dỗ chàng rằng:


- Thôi Kim công tử! Công tử đừng vật vã làm chi, mà tinh thần hao tổn. Phận em nó đã đành như vậy rồi!


Kim Trọng nghe nói, cũng phải nể lòng, ngồi dậy gạt nước mắt mà rằng:


- Cảm thương thay! Chưa chăn gối, cũng vợ chồng, lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang! Hiền thê tôi nay đã lưu lạc quê người, tôi quyết đi Lâm Thanh tìm về cho được. Nếu biết rõ ở đâu, thời dẫu bao nhiêu của mấy ngày đàng tôi cũng không quản ngại. Còn như việc của đệ nhị tiểu thư đây, thời tôi dẫu kính mến tấm lòng cao nghĩa, nhưng tôi không dám vâng lời.


Hà phu nhân nghe nói, lại lấy những thơ từ đồ vật giở ra, nào kim hoàn, nào đàn, nào hương, đưa cho Kim Trọng. Kim Trọng cầm lấy xem mấy bài thơ, hễ đọc lên một tiếng, lại nức nở khóc. Càng trông thấy, càng thảm thương, gan càng tức tối, ruột càng xót xa.


Xem xong từ biệt ra về. Ngày hôm sau, Kim Trọng nói với cha mẹ cho dọn riêng một cái nhà, sửa riêng một vườn hoa, mời ông bà Vương viên ngoại và gia quyến cùng sang đó. Thần hôn chăm chút dưỡng sinh thay tấm lòng nàng ngày xưa, ở được như chàng Kim, thực cũng hiếm vậy.


Kim Trọng sau lại nói với Vương viên ngoại viết cho mấy chữ, rồi sai gia đinh đi Lâm Thanh dò la tin tức. Tên gia đinh đem thư đi hơn một tháng, lúc trở về nói với Kim Trọng rằng:


- Bẩm cậu! Con vâng lời cậu đến Lâm Thanh do thám khắp nơi, tịnh không có tên ai là Mã Giám Sinh cả.


Kim Trọng nghe nói, lại càng sầu thảm, người những ngẩn ngơ, ruột tằm khô héo. Ông bà thân sinh ra chàng Kim, sợ con quá thương phát bệnh, liền chọn ngày, làm lễ cưới Thúy Vân về. Tuy trai tài gái sắc xuân đang vừa thì, nhưng chàng nhớ đến Thúy Kiều bao giờ, thời lại sốt ruột bấy giờ, không sao khuây khỏa được. Khi ăn ở, lúc ra vào, càng âu duyên mới càng dào tình xưa.


Có khi vắng vẻ thư phòng, Kim Trọng cùng Thúy Vân đem đọc bài thơ, đốt phong hương, gẩy khúc đàn của Thúy Kiều để lại ngày trước, thời nghe ra như hờ hững tiếng tơ, trầm bay nhạt khói. Lúc đọc xong, gẩy đàn xong, thời lại nhường như bên nóc trên thềm, tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng. Kim Trọng cũng đã tự biết là tinh anh của Kiều ngưng kết ở câu thơ, tiếng đàn và khói hương kia; và lại có khi bởi lòng tạc đá, ghi vàng, tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây. Nhưng từ đó lại càng như dại, như ngây, như bào lòng son, như nung gan sắt.


Ngày qua tháng lại, năm ấy triều đình lại mở khoa thi, Kim Trọng, Vương Quan cả hai cùng trúng chế khoa, được bổ đi Phán cung. Vương Quan nhớ đến ân nghĩa xa gần, sang nhà Chung lão tạ ân. Chung Công Sai cũng sẵn lòng yêu, lại gả con gái là Chung Tố Nương cho.


Cuối năm ấy, Kim Trọng, Vương Quan lại cùng đi thi hương, khoa danh gặp hội tràng văn; hai chàng cùng chiếm bảng xuân một ngày. Lúc vinh quy lại cùng nhau thẳng đến Lâm Thanh. Ở đó ít lâu, dò la Thúy Kiều, cũng tuyệt nhiên không thấy tăm hơi chi hết. Hai người rất lấy làm ngao ngán. Những là phiền muộn đêm ngày, xuân thu biết đã đổi thay mấy lần!


Cách ba khoa thi hương, đến năm ấy lại có khoa thi đình, Kim Trọng lại thi đỗ Tiến sĩ. Cửa trời rộng mở đường mây, hoa đào ngõ hạnh, hương bay dặm phần. Được ít lâu, thân phụ từ trần, ở nhà thụ chế, sau khi đại tường, lại bổ đi Lâm Tri.


Khi Kim Trọng đến phó nhậm Lâm Tri, thời cầm đường ngày tháng thanh nhàn, sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao. Cái hạnh phúc kể sao cho xiết, nhưng vẫn tưởng nghĩ cố nhân.


Có một hôm, Thúy Vân ngồi nói với Kim Trọng rằng:


- Quái lạ thay! Đã lâu nay, hôm qua thiếp mới lại mộng thấy Kiều thư! Có lẽ trong cơ thanh khí tương tầm, ở đây hoặc có giai âm chăng là?


- Ừ cũng có lẽ mà thực thế! Nếu phu nhân không nói thời ta không nghĩ ra. Lâm Thanh với Lâm Tri khác nhau có một chữ. Thôi sáng mai ra công đường, ta sẽ hỏi nha dịch.


- Vâng, phu quân nói rất phải.


Sáng hôm sau Kim Trọng ra sảnh đường, đòi các viên nha dịch đến mà hỏi rằng:


- Các ngươi ở đây, về hồi 12, 13 năm về trước, có nghe đến chuyện Mã Giám Sinh đi Bắc Kinh mua hầu thiếp là Vương Thúy Kiều thế nào không?


Bọn nha dịch nghe hỏi, ngơ ngác nhìn nhau, vì không ai biết chuyện ấy. Sau có một người bẩm rằng:


- Kính bẩm lão gia! Chuyện đó đã lâu năm, chúng tôi là kẻ hậu sinh, thực không am hiểu. Lão gia đòi Đô Lai Đắc lại hỏi, có khi hắn biết chuyện ấy!


- Ai là Đô Lai Đắc?


- Dạ, bẩm lão gia. Đô Lai Đắc là thông lại khi trước làm ở đây, nay từ dịch về nhà.


Kim Trọng liền cho lính đi đòi lập tức. Đô Lai Đắc được lệnh quan đòi, không biết sự chi, cũng lọm khọm chống gậy theo đến. Tiến vào công sảnh, quì xuống kêu rằng:


- Kính bẩm lão gia! Đô Lai Đắc tôi xin bái yết.


- Đô Lai Đắc! Ta cho đứng dậy. Ta muốn hỏi nhà ngươi một việc ở hạt này, về 13 năm trước. Chuyện Mã Giám Sinh lấy thiếp ở Bắc Kinh là Vương Thúy Kiều, nhà ngươi có nghe đến chăng?


- Dạ bẩm lão gia! Việc này đã ngoại mười niên, tôi biết rõ lắm. Mã Giám Sinh tên là Mã Qui, làm bạn cùng Qui Bà tên là Tú Mã, hai bên góp vốn buôn bán phấn hương. Mười ba năm trước, Mã Qui đi Bắc Kinh mua được một người con gái tên là Thúy Kiều, kể về phần tài sắc không ai bì kịp, vì nàng có nghề đàn hát lại đủ nghề văn thơ. Đem về, bắt tiếp khách, nàng không chịu, liều mình tự vẫn. Sau Mã Qui thuê Sở Khanh làm kế đà đao, rồi bắt về trói đánh khảo tra. Thúy Kiều cực chẳng đã, phải ở thanh lâu ba năm.


Sau nàng kết duyên với Thúc Sinh, không may lại phải tay vợ cả phũ phàng, bắt về Vô Tích. Bực mình nàng phải trốn đi, sau không biết thế nào lại kết duyên với một đại vương, trong tay muôn vạn tinh binh, kéo về đóng chật một thành Lâm Tri. Mới độ hai năm trước đây, đền ân báo nghĩa, thực rất ghê gớm; nào thiêu Tú Mã, đánh Hoạn Thư, nào xẻ Mã Qui, mổ Sở Khanh, nào giết hai tên Ưng, Khuyển và hai thím cháu họ Bạc, lại tha tội cho nhà họ Thúc, đền ơn cho nhà họ Thúc, đền ơn cho Lão bà và Đạo cô. Kể ra Thúy Kiều bây giờ đã nên có nghĩa có nhân, trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen… Kính bẩm lão gia! Kẻ tiểu lại này chỉ biết đến đó thì thôi.


- Chẳng hay vị đại vương ấy tên họ là chi?


- Dạ, kẻ tiểu lại không rõ điều ấy, xin hỏi thêm Thúc Sinh sẽ tường.


- Thúc Sinh nhà ở đâu?


- Dạ, ở phố Trù Đoạn, nhà cũng gần đây.


Kim Trọng viết thiếp, mời chàng Thúc Sinh, Thúc Sinh thấy có danh thiếp, cũng theo lính đến hầu. Vào bái kiến, Kim Trọng mời vào hậu đường, thi lễ xong, cho ngồi, rồi hỏi rằng:


- Quý huynh ơi! Có giấu gì, Vương Thúy Kiều là biểu muội của bản chức. Nhân gặp cảnh nhà tai biến, bị kẻ dối lừa thành người lưu lạc, những cảnh huống đó, bản chức đã hỏi được rõ. Duy còn họ tên một vị đại vương nào đó là chồng của nàng, thời không ai biết. Nghe quý huynh am hiểu việc đó, nên mời lại hỏi cho tường.


- Dạ, kính bẩm lão gia! Kẻ môn sinh này, trước cũng có chính thê bị giam ở đó, nhân có hỏi bọn quân lính, thời chúng nói: đại vương tên Hải họ Từ, hiệu là Minh Sơn, người ở Việt Đông, đánh quen trăm trận, sức dư muôn người! Gặp lệnh biểu muội thời ở Châu Thai, thật là quốc sắc, thiên tài phải duyên! Từ Hải bỏ vàng chuộc nàng về ở đất Hàm, ở đó ít lâu rồi đi khởi binh làm nên nghiệp kinh thiên động địa. Nghe có quan đốc phủ đi dẹp loạn, dụ hàng nhưng Từ Hải không hàng. Rồi về sau làm sao, chúng tôi không được rõ.


Kim Trọng nghe xong, tiễn Thúc Sinh về, vào nhà trong đem chuyện nói cùng nhạc thân và Thúy Vân. Ai nghe cũng đau lòng thương phận lưu lạc, giọt lệ chứa chan, mà cũng than rằng:


- Xót thay! Chiếc lá bơ vơ, kiếp trần rũ đến bao giờ cho hết nợ!


Kim Trọng từ khi nghe tường ngành ngọn về Kiều, lòng riêng luống những thẫn thờ, không thể nào khuây khỏa cho được. Lắm lúc đã toan treo ấn từ quan, mà dấn mình trong đám can qua, mong tìm cho thấy mặt. Sau lại nghĩ: ba quân nghiêm ngặt, một coi loạn ly, chửa dễ mà xông pha cho được. Nghĩ đến đó lại càng tuôn rơi châu lệ, bối rối ruột tằm, ra ngơ vào ngẩn, biếng ngủ quên ăn.


Ở huyện vừa được ba năm. Một hôm, bỗng thấy chiếu trời, khâm ban sắc chỉ: Kim Trọng thời được cải nhậm Nam Bình, thuộc tỉnh Phúc Kiến, mà Vương Quan thời đỗ giáp bảng, cũng được tuyển bổ làm tri phủ Châu Dương…


Hai người được tin, mừng rỡ bội phần. Kim Trọng lại bàn với Vương Quan rằng:


- Kỳ cải nhậm nay còn rộng rãi, ở sông Tiền Đường kia lại xảy nghe có chuyện binh đao thế giặc đã tan. Chi bằng ta hãy đi Tích Giang, tiện đường ta cùng dò thăm tin tức.


Bàn xong, vào bẩm mệnh. Hai ông bà Vương viên ngoại nghe nói mừng lòng, liền sai sắp sửa ngựa xe, hai nhà cùng thuận một đường đi phó nhậm. Qua sông Tích Giang thẳng tới Châu Hàng, thuê một cái nhà, rồi cùng ở đó dò la tin tức Thúy Kiều.


Một hôm Kim Trọng được tin rằng: Từ Minh Sơn đã tử trận, còn Thúy Kiều thì quan bắt ép lấy tên thổ tù, nên đã gieo ngọc trầm châu ở sông Tiền Đường rồi.


Kim Trọng đau đớn vô cùng, òa lên khóc. Cả nhà biết chuyện, cũng đều khóc mà rằng: - Thương ôi! Không hợp mà tan, một nhà vinh hiển riêng oan một nàng!


Khóc xong sắm sanh lễ vật, đến sông Tiền Đường, lập đàn giải oan, rót ba tuần rượu, rồi đem đọc bài văn chiêu hồn của Tống Ngọc khi xưa.


VĂN CHIÊU HỒN


Hồn hỡi hồn! Phương Đông chẳng ở được lâu: chói lọi vừng hồng, nóng mày rát mặt; mông mênh con nước; đắm ngọc chìm châu. Nghìn dặm bể Đông, hồn khôn qua vượt! Một vùng nắng hạ, hồn dễ tránh đâu? Về thôi hồn hỡi! Trận gió đông khôn thổi cơn sầu!


Hồn hỡi hồn! Phương Nam đứng ở làm chi: hổ lửa tìm tòi, bắt người như nhái; vạc dầu đun nấu, hai người như ri. Khói thảm chập chờn, hồn khôn dễ lánh. Lửa phiền nghi ngút, hồn phải tìm đi. Về thôi hồn hỡi! Gió nam khôn giải mối sầu bi!


Hồn hỡi hồn! Trời Tây khô héo mầu hoa cỏ: gió vàng trút lá, kiến những tìm hang; mưa bạc rọi cành, ong đà vỡ tổ. Đầu non trơ trọi, hồn biết ẩn đâu? Mặt đất khô khan, hồn khôn yên chỗ. Về thôi về thôi! Một phương thê thảm muôn phần khổ.


Hồn hỡi hồn! Cõi Bắc lạnh lùng khôn ở được! Trăng trơ phách quế, bể tuyết dập vùi; gió thổi hồn mai non băng rét mướt. Cơn mưa cắt lá, hoa cỏ ngậm ngùi. Dao hàn cắt da, chim muông ngơ ngác!


Về thôi! Về thôi! Trời lạnh lẽo, nhạn bay nháo nhác!


Hồn hỡi hồn nay! Một nỗi đắng cay: bốn phương xiêu bạt. Biết bao thảm đắp sầu xây! Nào những bèo trôi sóng dạt. Ma vương chẳng nể, hại hồn không gươm; quỷ sứ chẳng từ, coi hồn như rác.


Hồn hỡi hồn nay! Trịnh, Vệ, Tê, Tần, hồn đứng lẩn quất; Đông, Nam, Đoài, Bắc, hồn chớ lân la.


Hồn hỡi có hay? Quế lan sum họp; hồn nay có biết?


Thân thích gần xa. Nến thắp đèn dong, một vùng trời đất; đàn cao hương ngát, vài chén quan hà. Lễ bạc đặt bày, xin hồn chứng giám; lời vàng khuyên nhủ, hồn hãy nghe ta. Hồn đâu hồn về, đất tổ quê cha!”.


Đọc xong ai nấy đều khóc, giữa lúc đinh tai nhức óc, dậy núi vang sông, bỗng thấy có một nhà sư ở đâu đi qua, ngửng đầu trông lên bài vị, thấy mấy chữ húy Vương Thúy Kiều, giật mình kinh ngạc, bụng nghĩ thầm rằng:


- Lạ chưa! Người còn sống sao lại làm ma khóc người?


Nghĩ xong, liền hỏi rằng:


- A Di Đà Phật! Các ngài ở đây với Vương Thúy Kiều, là họ hàng gần xa thế nào? Sao lại khóc hão thương huyền làm vậy?


Ai nấy ngơ ngác nhìn nhau, rồi hỏi chuyện nhà sư rằng:


- Bạch sư phụ! Chúng tôi với Vương Thúy Kiều là người trong một nhà, chẳng hay người dạy như thế là có ý gì?


Vương viên ngoại lại nói rằng:


- Con gái của tôi đã chìm châu đắm ngọc, nhà sư dạy như thế nghe thật lạ lùng!


Nhà sư thấy hỏi, lại tủm tỉm cười mà rằng:


- A Di Đà Phật! Bản đạo nói thực đấy! Các ngươi chỉ biết nàng gieo ngọc trầm châu đó thôi, nào đã biết đâu, sau lại có người cứu vớt được! Nay các người chiêu hồn người sống, chẳng cũng uổng công lắm ư?


Mọi người nghe nói, lại càng hồ nghi, nửa mừng nửa ngờ, không biết thực hư thế nào, lại hỏi rằng:


- Bạch sư phụ! Người nói thực hay bỡn?


- A Di Đà Phật! Bần đạo là kẻ tu hành có đâu dám buông lời bỡn cợt.


Kim Trọng lại hỏi rằng:


- Bạch sư phụ! Nếu quả như lời người đã dạy, thời Thúy Kiều nay ở đâu? Xin người bảo cho làm phúc.


- Nàng ở trong thảo am kia, gần đây không xa đâu!


Ai nấy bất ngờ mừng rỡ khôn xiết kể, vội vàng vái chào nhà sư rồi nói rằng:


- Bạch sư phụ! Xin người chỉ dẫn, đội ơn vô cùng!


- A Di Đà Phật! Các người cứ theo bần đạo, sẽ thấy mặt nàng. Nhưng mà các người ơi! Chẳng những các người đây mong thấy mặt nàng, mà chính nàng ở nơi cửa Phật, cũng nhớ nhà không lúc nào khuây đó. Nay được giáp mặt, thời vui bằng tái sinh đấy các người ạ!


Mọi người nghe nói, mừng cuống mừng quít, chẳng tưởng đến xe, đến ngựa, vội vàng đi bộ theo nhà sư. Bẻ lau tìm lối, vạch cỏ nhận đường, quanh co theo giải giang tân, khỏi rừng lau, đã tới một nơi am thanh cảnh vắng. Bước vào đứng chật một sân, trông trước trông sau chẳng thấy chi hết. Nhà sư lên thềm ngảnh vào phía trong gọi mấy tiếng rằng:


- Trạc Tuyền! Trạc Tuyền đạo cô ơi! Gia quyến đã đến đó, mau mau ra nghênh tiếp.


Thúy Kiều nghe chửa dứt lời, đã vội vàng chạy cuống ra, thấy cha, thấy mẹ, thấy em, thấy chàng, khiến cho nàng tấc dạ bàng hoàng, rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!


Mừng mừng tủi tủi, biết bao nhiêu tình, nàng chạy ngay tới gieo mình vào lòng Hà phu nhân, rồi khóc nức nở mà rằng:


- Thân phụ ơi! Thân mẫu ơi! Con gái lớn của cha mẹ đây! Đã đành sông nước cát lầm, kiếp này ai lại còn cầm gặp đây?


Hai ông bà Vương viên ngoại cũng ôm lấy Thúy Kiều mà bảo rằng:


- Con ơi! Con vì cha mà chịu biết bao nhiêu sự cay đắng! Kiều nhi con ơi! Từ con lưu lạc quê người; bèo trôi, sóng vỗ, chốc mười lăm năm. Cha mẹ đây lại cũng không ngờ con còn sống sót đến ngày nay.


Vương Quan, Thúy Vân cũng chạy lại, hỏi trước han sau, anh em chị em vừa mừng vừa tủi.


Kim Trọng đứng đó, chạy lại không tiện, nói ra ngại lời, đành chỉ đứng yên một chỗ, mừng thầm cho ai!


Thúy Kiều đứng dậy khấu đầu lễ cha mẹ, tạ Kim Trọng, bái kiến hai em và em dâu là Chung Thị.


Thi lễ xong, cùng ngồi, Thúy Kiều kể đến những đoạn khổ tình thương, thời ai nấy cũng căm gan tức ruột; nói đến những đoạn đền ân báo oán, thời ai nấy cũng thỏa dạ cam lòng.


Vương viên ngoại nghe chửa hết chuyện, liền gạt đi mà hỏi lại Thúy Kiều rằng:


- Kiều nhi con hỡi! Thôi, những cảnh ngộ của con, cha đã hiểu cả rồi. Song cha chỉ cần hỏi con khi gieo mình xuống sông Tiền Đường, thời ai là người vớt con?


- Thưa cha! Con nay mà còn được trông thấy mặt cha mẹ ở đây, là nhờ có Giác Duyên sư huynh đóng thuyền kết lưới, chầu chực bên sông để cứu vớt con vậy.


- Phúc đức sao! A Di Đà Phật! Cái công ơn tái sinh ấy cha con ta phải ghi lòng tạc dạ.


Vương viên ngoại nói xong, thẳng đến trước mặt Giác Duyên khấu đầu lạy tạ. Hà phu nhân, Kim Trọng, Vương Quan, Thúy Vân, và Chung Thị cũng đều đến lạy tạ cảm ơn người từ bi cứu nạn. Giác Duyên cũng ân cần đáp lễ mọi người.


(còn tiếp)


Nguồn: Kim Vân Kiều Truyện. Tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân. Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung dịch. Hiệu đính: Nhà văn hóa Vũ Đình Long. Lời bình của Kim Thánh Thán do Nguyễn Đỗ Mục dịch. NXB Văn học, in lần thứ 5, quý Tư, 2012.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 19.02.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 19.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 13.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
Dòng đời - Nguyễn Trung 06.02.2020
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 06.02.2020
Cõi mê - Triệu Xuân 30.01.2020
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 30.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
xem thêm »