tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30162359
Thông tin tác giả
John Ernest Steinbeck
 

(27/2/1902 - 20/12/1968).


 


"Nhà văn được trao nhiệm vụ phô bày những lỗi lầm và thất bại xót xa của chúng ta, lôi ra ánh sáng những giấc mơ tăm tối và nguy hiểm của chúng ta, nhằm nâng cao con người!" - J. Steinbeck


 


Giải Nobel Văn học 1962. Sinh tại Salinas, California. Mất tại New York (Mỹ).


 


John Steinbeck được trao giải vì những tác phẩm văn xuôi hiện thực chủ nghĩa và thơ ca kết hợp  nhuần nhuyễn tính hài hước phê phán nhẹ nhàng với cái nhìn xã hội sắc sảo. Ông là tác giả của những tiểu thuyết lớn về cuộc Đại Suy Thoái ở Mỹ, nhưng vẫn phản ánh niềm hi vọng của những người bị áp bức vào tương lai tốt đẹp hơn và xác định vai trò của họ trong sự phát triển xã hội.


 


John Ernest Steinbeck là con trai duy nhất của một gia đình chủ xưởng bột mì có bốn con ở bang California, mẹ là giáo viên. Từ thuở ấu thơ nhà văn đã ghi khắc ấn tượng của vùng quê tươi đẹp và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Hy Lạp cổ điển, Kinh Thánh và văn học châu Âu. Sau khi học xong trung học, từ năm 1920 đến 1925 ông theo học khoa Văn học Anh và Sinh vật học Hải dương ở Đại học Standford.


 


Trong cuộc đời ông đã làm rất nhiều nghề; việc thường xuyên tiếp xúc với người lao động đã đặc biệt giúp ông tích lũy vốn tư liệu phong phú cho những sáng tác sau này. Năm 1925, J. Steinbeck đến New York, cố gắng trở thành nhà văn tự do và viết tiểu thuyết Chén vàng (1929) nhưng không thành công; sau đó ông trở lại California. Năm 1935, tiểu thuyết Khu phố Tortilla khiến tên tuổi ông được biết đến rộng rãi. Trong các tác phẩm của mình J. Steinbeck viết về những vấn đề kinh tế của người lao động ở nông thôn, đồng thời ca ngợi quê hương đất nước. Năm 1936, tác phẩm Trận đánh mạo hiểm viết về cuộc đình công của những người nhập cư làm nghề hái quả trên các đồn điền ở California, tiếp đó là tác phẩm nổi tiếng Của chuột và người (1937) khẳng định những giá trị giản dị của con người trong cuộc sống, và một loạt truyện ngắn được tập hợp trong tập Thung lũng dài (1938).


 


Năm 1939 ông cho xuất bản Chùm nho phẫn nộ (The grape of wrath), tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của ông, viết về người nông dân ở Oklahoma không được sống yên trên mảnh đất của mình mà buộc phải tới California và trở thành công nhân di cư. Cuốn tiểu thuyết được trao giải Pulitzer và trở thành best-seller, nhưng cũng gây nhiều tranh cãi - một số người lên án tác giả tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, bóp méo sự thật. Để tránh tranh cãi, J. Steinbeck tham gia một cuộc thám hiểm ở bang California và tiếp tục viết sách.


 


Trong Thế chiến II, J. Steinbeck làm ở các cơ quan thông tấn, phóng viên mặt trận. Tiểu thuyết lớn cuối cùng có thể kể là Phía Đông vườn địa đàng (1952), tác phẩm thứ sáu của ông được dựng thành phim. Năm 1962 ông được trao giải Nobel "như một bậc thầy của nền văn học hiện đại Mỹ luôn luôn bênh vực những người bị áp bức, bất hạnh, đau khổ, đem những niềm vui sống giản dị, đối lập những ham muốn đồng tiền trơ trẽn và tàn bạo". Cuốn sách cuối cùng của nhà văn: Hành trang của vua Arthur và các hiệp sĩ cao thượng bắt đầu viết từ 1957 nhưng chỉ được in vào năm 1976, sau khi ông mất vì bệnh nhồi máu cơ tim (1968).


 


Tác phẩm:


 


- Chén vàng (Cup of gold, 1929), tiểu thuyết.


 


- Đồng cỏ nhà trời (The pastures of Heaven, 1932), truyện.


 


- Gửi Chúa Trời không quen biết (To a God unknown, 1933), tiểu thuyết.


 


- Khu phố Tortilla (Tortilla flat, 1935), tiểu thuyết.


 


- Trận đánh mạo hiểm (In dubious battle, 1936), tiểu thuyết.


 


- Của chuột và người (Of mice and men, 1937), tiểu thuyết.


 


- Thung lũng dài (The long valley, 1938), tập truyện.


 


- Chùm nho phẫn nộ (The grape of wrath, 1939), tiểu thuyết.


 


- Biển Cortez. Báo cáo về chuyến đi và các nghiên cứu đã tiến hành (Sea of Cortez: a leisurely journal of travel and research, 1941), khảo cứu.


 


- Bom rơi xuống đất (Bombs away, 1942), khảo cứu.


 


- Trăng lặn (The moon is down, 1942), tiểu thuyết.


 


- Viên ngọc trai (The pearl, 1947), tiểu thuyết.


 


- Ô tô buýt nhầm đường (The wayward bus, 1947), tiểu thuyết.


 


- Nhật kí Nga (Russian journal, 1948), phóng sự.


 


- Nóng sáng (Burning bright, 1950), kịch.


 


- Kira Zapata (1952), kịch.


 


- Phía Đông vườn địa đàng (East of Eden, 1952), tiểu thuyết.


 


- Chó hung Pony (The red Pony, 1953), truyện vừa.


 


- Ngày thứ Năm ngọt ngào (Sweet Thursday, 1954), tiểu thuyết.


 


- Thời trị vì ngắn ngủi của Pippin IV (The short reign of Pippin IV, 1957), truyện châm biếm.


 


- Đã từng có một cuộc chiến tranh (Once there was a war, 1958), tiểu thuyết.


 


- Mùa đông lo âu (The winter of our discontent, 1961), tiểu thuyết.


 


- Du lịch cùng Charley đi tìm nước Mỹ (Travels with Charley: in search of America, 1962), nhật kí.


 


- Nước Mỹ và người Mỹ (America and Americans, 1966), tiểu thuyết.


 


- Hành trạng của vua Arthur và các hiệp sĩ quý tộc (Acts of king Arthur and his noble knights, 1957, in 1976), tiểu thuyết.


 


 


 


Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:


 


- Của chuột và người (Of mice and men, 1937), tiểu thuyết. Hoàng Ngọc Khôi - Nguyễn Phúc Bửu Tập dịch, tập san Văn, Sài Gòn, 1967.


 


- Viên ngọc trai, Bảo Sơn dịch, Thứ tư tuần san số đặc biệt tháng 5 - 1967.


 


- Viên ngọc trai (tiểu thuyết), Đoàn Phan Chín dịch, NXB Thanh Niên, 1989.


 


- Tình người, Võ Sơn Thanh dịch, NXB Tuổi Phượng, 1972.


 


- Chuyến xe định mệnh (nguyên tác: The wayward bus, tiểu thuyết), Võ Sơn Thanh dịch, NXB Đồng Nai, 1973.


 


- Phía Đông vườn địa đàng, Đinh Hoàng Sa dịch, NXB Thoại Ngọc Hầu (Gia Định), 1974.


 


- Phía Đông vườn địa đàng, Đinh Văn Quý dịch, NXB Văn hóa - Thông tin, 2003.


 


- Chùm nho uất hận (nguyên tác: The grape of wrath, tiểu thuyết), Võ Lang dịch, NXB Gió Bốn Phương, 1972.


 


- Chùm nho phẫn nộ, Phạm Thủy Ba dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1994, tái bản 2000.


 


- Chén vàng, Vĩnh Khôi dịch, NXB Đà Nẵng, 1991.


 


- Rời nẻo đường quen, Phạm Viêm Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 1999.


 


- Tuyển truyện John Steinbeck, Lê Huy Bắc biên soạn, NXB Văn Học, 2001.


 


- Đồng cỏ nhà trời (tiểu thuyết), Hoàng Phong dịch, NXB Hội Nhà Văn, 2002.


 


- Người dẫn đạo, Phạm Viêm Phương dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1997.


 


- Con rắn (truyện ngắn), Lê Huy Bắc dịch, in trong Người môi giới ái tình, NXB Thanh Niên, 2000; Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000.


 


- Bộ đai, Lê Huy Bắc dịch; Chạy trốn, Đào Thu Hằng dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000.


 


- Những ngày tranh đấu, Tuyết Sinh tuyển dịch và giới thiệu, NXB Trẻ, 1974.


 


 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
17.08.2013
Của chuột và người (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6  7  8  9