tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30145485
Thông tin tác giả
Joseph Rudyard Kipling
 


(30 tháng 12, 1865 – 18 tháng 1, 1936)


Nhà văn, nhà thơ Anh, đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 “vì sự quan sát, trí tưởng tượng sống động, độ chín muồi của tư tưởng và tài năng xuất sắc của người kể chuyện”. Rudyard Kipling là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Nhà phê bình Henry James viết: “Đối với cá nhân tôi, Kipling là người hoàn hảo nhất trong số các thiên tài, một trí tuệ khác thường mà tôi từng biết”. Nhận giải Nobel Văn học ở tuổi 42, ông trở thành nhà văn tiếng Anh đầu tiên đoạt giải và là người trẻ tuổi nhất đoạt giải này cho đến thời điểm hiện tại.


Rudyard Kipling sinh tại Mumbai, Ấn Độ. Cha là một chuyên gia Anh về lịch sử nghệ thuật Ấn Độ, giám đốc trường nghệ thuật Mumbai, mẹ là con một gia đình danh giá ở London, cả ông nội và ông ngoại đều là linh mục. Lên sáu tuổi, cậu bé Kipling được gửi sang Anh cho một gia đình theo đạo Calvin chăm sóc. Trong thời gian ở Anh, Kipling đã học tại các trường United Service College, Westward Ho, Bideford. Năm 1882 ông trở về Ấn Độ, viết một số truyện ngắn và làm trợ lý Tổng biên tập cho tờ báo Civil and Military Gazette ở Lahore.


Chàng thanh niên đã khiến xã hội sở tại kinh ngạc bởi những ý kiến sắc sảo trước các vấn đề xã hội và kiến thức về đất nước Ấn Độ. Những chuyến đi hàng năm tới thành phố Shimla trong vùng Hymalaya là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời nhiều tác phẩm của nhà văn. Năm 1892 ông sang Mỹ và kết hôn với em gái chủ xuất bản người Mỹ Wolcott Balestier, người viết chung cùng Kipling cuốn tiểu thuyết Naulahka (1892). Năm 1896 họ trở về Anh. Theo lời khuyên của bác sĩ, mùa đông nhà văn sang Nam Phi. Trong Chiến tranh Boer (1899-1902) ông làm phóng viên mặt trận.


Trên đỉnh cao vinh quang và tiền bạc, Ruđyar Kipling tránh công chúng, bỏ qua những phê bình thù nghịch, từ chối nhiều danh hiệu. Năm 1901 ông xuất bản tiểu thuyết Kim như một lời chào giã từ gửi đến đất nước Ấn Độ. Năm 1902 ông lui về sống tại một làng quê hẻo lánh ở Sussex (Anh) cho đến cuối đời.


Năm 1907 Kipling được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học. Ông được trao giải Nobel Văn học khi đã có trong tay 20 tập sách (trong đó có 4 tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ, nhiều tập kí, bài báo...). Kipling đến Stockholm nhưng không đọc diễn văn nhận giải.


Ngoài giải Nobel, Kipling được nhận bằng danh dự và phần thưởng của nhiều trường đại học danh tiếng như Đại học Oxford, Đại học Cambridge, Đại học Edinburgh, Đại học Paris, Đại học Athena, Đại học Toronto..., giải Huy chương Vàng Văn học Hoàng gia Anh. Kipling mất tại London.


Thơ, văn của Kipling phản ánh cuộc sống người lính và nghĩa vụ của họ đối với Đế quốc Anh. Rudyard Kipling nổi tiếng với khả năng quan sát, trí tưởng tượng rực rỡ, độ chín muồi tư tưởng và tài năng thuật truyện xuất sắc. Những tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông có The Jungle Book (Sách rừng) - thấm sâu tư tưởng về sự sống khởi nguyên có tầng bậc giá trị rõ ràng và hết sức đơn giản mà nền văn minh không chạm đến được; và Kim - được coi là cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh hay nhất về Ấn Độ và là một trong những tiểu thuyết Anh hay nhất nói chung. Nhân vật chính do dự giữa những giá trị văn hóa Đông – Tây và cuối cùng đã chọn phương Tây nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn nhớ phương Đông.


Kipling còn được coi là một nhà thơ xuất chúng. Những bài thơ nổi tiếng nhất của Kipling như: Ballad of East and West (Bài thơ Đông-Tây), Tommy, If (Nếu) đã được dịch ra tiếng Việt và in trong quyển Những nhà giải thơ Nobel, Hà Nội, 2006.


Kipling mất tại London. Thi thể của ông được hỏa táng và an táng tại Góc Thi sĩ (Poets' Corner) của Tu viện Westminster danh tiếng.


Về bài thơ NẾU của Kipling


Nếu (tiếng Anh If) – là bài thơ nổi tiếng nhất của Rudyard Kipling sáng tác năm 1895 và in năm 1910 trong cuốn Phần thưởng và tiên (Rewards and Fairies), gồm truyện và thơ. Bài thơ này nằm trong truyện Chiến hữu giày vuông (Brother Square-Toes). Bài thơ được coi là một sự thể hiện đặc biệt thành công về chủ nghĩa khắc kỷ, chủ nghĩa chấp nhận nghịch cảnh của thời đại Victoria (Victorian stoicism). Theo kết quả thăm dò dư luận của đài BBC năm 1995, bài thơ này được coi là bài thơ tiếng Anh hay nhất mọi thời đại.


Trong tự truyện Something of Myself in sau khi nhà thơ mất, năm 1937, Kipling kể rằng bài thơ này lấy cảm xúc từ ngài Leander Starr Jameson, là người đã phát động chiến dịch Jameson Raid chống lại người Boer. Chiến dịch này bị thất bại và cuối cùng dẫn đến chiến tranh Boer, tuy nhiên báo chí Anh gọi Jameson là anh hùng, người đã thể hiện lòng dũng cảm trong những giờ phút hiểm nghèo và gọi thất bại của Jameson là một chiến thắng của nước Anh.


Bài thơ này được nhiều người dịch ra tiếng Việt dù mức độ thành công rất khác nhau. Hiện tại được biết có các bản dịch thơ của Nguyễn Viết Thắng, Nguyễn Phúc Giác Hải và bản dịch nghĩa bằng văn vần của Hồ Văn Hiền in trong cuốn Các nhà thơ giải Nobel, Hà Nội, 2006.


Phản ứng đối với bài thơ:


* Kipling kể rằng bài thơ này được nhiều nơi in thành tờ như những bức tranh để treo trong phòng làm việc, trong phòng ngủ hoặc những nơi trang trọng và họ coi bài thơ này như những lời răn dạy.


* Nhà thơ T. S. Eliot (giải Nobel Văn học năm 1948) gọi bài thơ này của Kipling là một “bài thơ vĩ đại” trong một số tiểu luận phê bình của ông.


*Nhà văn Anh Richard Aldington, trong tiểu thuyết nổi tiếng Death of a Hero (Cái chết của một anh hùng, 1929) viết về một "thế hệ mất mát" trong Thế chiến thứ nhất, đã trích dẫn Kipling để ca ngợi tính cứng rắn của người lính ngoài mặt trận, ca ngợi những ai biết chém giết mà không hề run sợ, và chỉ khi đó "... con trai, con là một Con Người!"


*Nhà đạo diễn người Anh Lindsay Anderson cũng đã dùng tên bài thơ để đặt tên cho một bộ phim nổi tiếng If, giải thưởng Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes, chứng minh rằng sự giáo dục theo những chuẩn mực của Kipling đôi khi cho kết quả ngược lại...


Đấy chỉ là một số ví dụ tiêu biểu nhất trong văn chương và điện ảnh thế giới cho thấy bài thơ mới đọc qua có vẻ tất cả đều rõ ràng, thực ra vẫn ẩn giấu bên trong những ý nghĩa sâu xa mà một vài bản dịch chưa thể nào lột tả hết được…


Dù sao, dù người đời có trích dẫn theo nhiều vẻ khác nhau càng cho thấy một điều là bài thơ này có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội phương Tây và đã trở thành bất tử. Cuối cùng xin dành một đôi dòng về đối tượng của bài thơ này – con trai của Kipling chết năm 1915 ở mặt trận nước Pháp. Cú sốc này Kipling đã không thể hồi phục cho đến hết đời.


Dịch sang các ngôn ngữ thế giới:


“Nếu" – được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Bài thơ này được Aung San Suu Kyi dịch ra tiếng Myanma, đất nước có thành phố Mandalay – cũng là một kiệt tác của Kipling. Aung San Suu Kyi là lãnh tụ phe đối lập ở Myanmar, người được trao giải Nobel hòa bình năm 1991. Nhà văn Nam Tư Ivo Andrić, người được giải Nobel Văn học năm 1961 đã dịch bài thơ này ra tiếng Croatia.


Dưới đây là những bản dịch bài thơ IF- sang một số ngôn ngữ:


* Në munç, tiếng Anbani, bản dịch của Fan S. Noli


* A Kae Ywaet, tiếng Myanma, bản dịch của Aung San Suu Kyi.


* Ako… tiếng Croatia, bản dịch của Ivo Andrić.


* Když, tiếng Séc, bản dịch của Otokar Fischer


* Indien, tiếng Hà Lan, bản dịch của J.M. de Vries de Waal.


* Als, tiếng Hà Lan, bản dịch của Karel Jonckheere.


* Tu seras un homme, mon fils, tiếng Pháp, bản dịch của André Maurois năm 1918.


* Si..., tiếng Pháp, bản dịch của Jules Castier năm 1949.


* Ha, tiếng Hungari, bản dịch của ơGábor Devecseri và Kosztolányi Dezső.


* Se, tiếng Ý, bản dịch của Dario Fonti.


* Si..., tiếng Latin, chưa rõ tên người dịch.


* Ja, tiếng Latvia, chưa rõ tên người dịch.


* Vitanao ve?, tiếng Malagasy, bản dịch của Rajaona Andriamananjara.


* Hvis, tiếng Na Uy, bản dịch của André Bjerke


* Se, tiếng Bồ Đào Nha, bản dịch của Guilherme de Almeida.


* Dacă, tiếng Rumani, bản dịch của Dan Duţescu


* Заповедь, tiếng Nga, bản dịch của M. Lozinsky.


* Keď , tiếng Slovak, bản dịch của Ľubomír Feldek.


* Eğer, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, bản dịch của Bülent Ecevit.


 


Tác phẩm:


* Những bài ca ở bộ (Departmental Ditties, 1886), thơ


* Truyện kể núi đồi (Plain Tales from the Hills, 1887)


* Ba người lính (Soldiers Three, 1888), tập truyện ngắn


* Bài thơ Đông - Tây (The Ballad of East and West, 1889), thơ


* Ánh sáng đã tắt (The Light that Failed, 1890), tiểu thuyết


* The Naulahka - A story of West and East (1892), tiểu thuyết


* Những khúc ballad về trại lính (Barrack-Room Ballads, 1892), thơ


* Vô số điều bịa đặt (Many Inventions, 1893), tập truyện ngắn


* Sách Rừng xanh (The Jungle Book, 1894), tập truyện


* Sách rừng thứ hai (The Second Jungle Book, 1895), tập truyện


* Bảy biển (The Seven Seas, 1896), thơ


* Những người đi biển quả cảm (Captains Courageous, 1897)


* Công việc của ngày (The Day's Work, 1898), tập truyện ngắn


* Gánh nặng người da trắng (The White Man's Burden, 1899), thơ


* Kim (1901), tiểu thuyết


* Năm dân tộc (The Five Nations, 1903), thơ


* Những lối đường và các khám phá (Traffics and Discoveries, 1904), tập truyện ngắn


* Quả bóng từ đồi Pook (Puck of Pook's Hill, 1906), tập truyện ngắn


* Hành động và phản ứng (Actions and Reactions, 1909), tập truyện ngắn


* Phần thưởng và các nàng tiên (Rewards and Fairies, 1910), tập truyện ngắn


* Nếu (If), 1910), thơ


* Chi và thu (Debits and Credits, 1926), tập truyện ngắn


* Những giới hạn và gia hạn (Limits and Renewals, 1932), tập truyện ngắn.


Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
19.08.2019
Thơ mộ chí của chiến tranh (Epitaphs of the War) (thơ)
19.08.2019
Bài ca về các thành phố (The Song of the Cities) (thơ)
19.08.2019
Bản tình ca của nàng Har Dyal/ Lời thỉnh cầu/ Mandalay/ Lời cầu nguyện của người yêu/ Hoa hồng xanh (thơ)
19.08.2019
Bụi/ Bài thơ Đông - Tây/ Nếu/ Mẹ của con/ Bài ca gửi ngài Mithras (thơ)