tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30161974
Thông tin tác giả
Chu An
 

CHU AN
(? - 1370)


Nhà giáo dục và nhà thơ đời Trần. Tự là Lĩnh Triệt, người thôn Văn, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay thuộc ngoại thành Hà Nội.


Ông đậu Thái học sinh (Tiến sĩ) nhưng không ra làm quan, mở trường dạy học tại quê nhà, nhằm truyền bá đạo Nho và bài xích dị đoan, hủ tục. Trường dần dần thu hút rất đông học trò, đào tạo nên nhiều danh sĩ nổi tiếng như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, do đó uy tín của ông ngày càng lớn. Đời Trần Minh tông (1314-29) ông được mời đến Thăng Long giữ chức Tư nghiệp Trường Quốc tử giám và dạy thêm Hoàng tử. Thời gian này, ông biên soạn bộ Tứ thư thuyết ước (Nói gọn về Tứ thư) gồm mười quyển, thuyết minh tóm tắt bốn tác phẩm lớn của Nho giáo để tiện sử dụng vào việc dạy học. Đến đời Trần Dụ Tông (1341-69) chính trị đổ nát, ông viết Thất trảm sớ (Sớ xin chém bảy người) dâng lên vua xin chém bảy tên nịnh thần. Không được chấp thuận, ông bèn xin từ chức về ở ẩn ở núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, nay thuộc tỉnh Hải Dương, lấy biệt hiệu Tiều Ẩn, sáng tác thơ ca ca ngợi vẻ đẹp và sức sống của thiên nhiên, bày tỏ khí tiết thanh cao cũng như tình cảm gắn bó với tạo vật. Năm 1370, sau một cơn khủng hoảng chính trị trong triều đình nhà Trần, Trần Nghệ Tông lên ngôi. Chu An ra kinh đô bệ kiến vua mới, nhưng không nhận chức tước gì, rồi trở về núi cũ. Sau khi mất, được nhà vua truy tặng tước Văn Trinh công và ban tên thụy là Khang Tiết, lại được thờ ở Văn Miếu. Sĩ phu các đời sau đều xem ông như một người thầy tiền bối đáng kính trọng.


Hầu hết tác phẩm của Chu An đều không còn nữa. Hai tập thơ lớn chủ yếu tập hợp thi ca giai đoạn ở ẩn là Tiều Ẩn thi tập (Tập thơ Tiều Ẩn, chữ Hán) và Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ của Tiều Ẩn, chữ Nôm) cũng đã mất. Hiện còn 11 bài thơ chữ Hán được lưu lại trong Toàn Việt thi lục và Phượng Sơn từ chí lược (Lược ghi về đền thờ Phượng Sơn). Nhìn chung, với tư cách một nhà Nho, ở Chu An nổi bật phong cách cứng cỏi, thẳng thắn, tiết tháo của một người sống vào buổi thoái trào của một triều đại; và với tư cách một thi sĩ, ở Chu An vừa có cái buồn man mác của một con người hoài cổ và bất lực, cũng vừa có cái nhẹ nhàng thanh thản của một người sớm tìm đường ở ẩn, gác ngoài tai mọi chuyện ở đời. Thơ ông “rất trong sáng u nhàn” (theo Phan Huy Chú), dùng nhiều hình ảnh sáng tạo, nhất là trong thơ tả cảnh.

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
09.10.2008
Thơ Chu An (thơ)