tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30234030
Thông tin tác giả
Constant Virgil Gheorghiu
 

(1916-1992)


Sinh ngày 15-9-1916, tại tại Valea Albă, một làng trong cộng đồng Războieni, quận Neamţ, xứ Romania. Cha ông là một linh mục Chính thống giáo. Mất ngày 22-6-1992, tại Paris.


Constant Virgil Gheorghiu nghiên cứu triết học và thần học ở Gucarest và Heidelberg trước khi trở thành ký giả, rồi khâm sứ tại Bộ Ngoại giao Rumani.


Chống đối chế độ cộng sản, ông sang Pháp ở vào 1948. Cuốn tiểu thuyết đã làm thế giới tự do biết danh ông là "Giờ Thứ Hai Mươi Lăm "; ông lại càng nổi danh hơn nhờ một cuốn khác viết về cuộc tái chiếm đóng xứ Bessarabie. Ông sang Mỹ sống một thời gian, sau đó trở lại Pháp. Ông đã dùng ngòi bút để chống đối mãnh liệt cái thời đại phi nhân của chúng ta hiện nay trong hầu hết các tác phẩm của ông (La Seconde chance, La Cravache, Les Mendiants de miracles ...). Ngày 23- 5 - 1963 V. Gheorghiu được tấn phong linh mục Giáo hội chính thống.


 


Ngòi bút của Virgil Gheorghiu quả thật là chua chát và mỉa mai; bởi vì tác giả chống tất cả những chủ trương phi nhân. Các nhân vật của V. Gheorghiu sau những đày ải lần lượt chết đi dưới những vị kỷ khắc nghiệt được ngụy trang rất khéo léo bằng những chủ nghĩa hoa mỹ. Nhưng tất cả phải chết đi để cho ý thức nhân bản trong mỗi con người, mỗi xã hội được sống. Làm sao mà không chua chát và mỉa mai cho được khi mà hơn 20 năm sau, cuộc thế chiến hãi hùng, con người vẫn đang còn bơ vơ, lạc lõng, lo sợ trước những tranh chấp chủ nghĩa, trước những đe dọa đang đẩy họ vào những đường cùng không lối thoát. Và phải chăng V. Gheorghiu cũng đag viết về sự bế tắc của con người đau đớn trên xứ sở Việt Nam thân yêu.


 


Năm 1948, sang cư trú tại Pháp. Năm 1949, xuất bản tiểu thuyết: Giớ thứ hai mươi lăm, nổi danh lừng lẫy ở Phương Tây. 1952, xuất bản tiểu thuyết thứ hai: Cơ may thứ hai, cũng được hoan nghênh. Đúng lúc này, người ta phát hiện ra bài phóng sự Đôi bờ sông Dniestr bừng cháy ông viết cách đó 12 năm, ca ngợi người lính Nazi đã giúp quân Rumani chiếm lại vùng lãnh thổ Bessarabie, (từ lâu bị sáp nhập vào Ukraina và Moldavia), và phỉ báng người Do Thái. Ông bị dư luận công kích dữ dội. Ngày 23-5-1963, ông chịu chức linh mục, và năm 1971, chịu chức Giáo chủ Nhà thờ chính thống Rumani tại Paris. Ông mất tại Paris ngày 22-6-1993.


Tác phẩm chính: Giờ thứ hai mươi lăm, tiểu thuyết, xuất bản tại Paris, 1949; Cơ may thứ hai (La Seconde Chance), tiểu thuyết, Nxb Plon, Paris,1952. Những kẻ ăn mày phép lạ. tiểu thuyết; Hồi ký: Chứng nhân của Giờ thứ hai mươi lăm, 1986…


*



Constantin Virgil Gheorghiu (Romanian pronunciation: [konstanˈtin virˈd͡ʒil ɟe̯orˈɟi.u]; September 15, 1916 in Războieni, Romania – June 22, 1992 in Paris, France) was a Romanian writer, best known for his 1949 novel, The 25th Hour, Editura Omegapres Bucharest (1991) & Editions du Rocher Paris.


Virgil Gheorghiu was born in Valea Albă, a village in Războieni Commune, Neamţ County, in Romania. His father was an Orthodox priest in Petricani. A top student, he attended high school in Chişinău from 1928 to June 1936, after which he studied philosophy and theology at the University of Bucharest and at the Heidelberg University.


Between 1942 and 1943, during the regime of General Ion Antonescu, he served in the Ministry of Foreign Affairs of Romania as an embassy secretary. He went into exile when Soviet troops entered Romania in 1944. Arrested at the end of World War II by American troops, he eventually settled in France in 1948. A year later, he published the novel Ora 25 (in French: La vingt-cinquième heure; in English: The Twenty-Fifth Hour), written during his captivity.


Gheorghiu was ordained a priest of the Romanian Orthodox Church in Paris on May 23, 1963. In 1966, Patriarch Justinian awarded him the cross of the Romanian Patriarchate for his liturgical and literary activities.[citation needed]


He is buried in the Passy Cemetery, in Paris.


 


The 25th Hour


Gheorghiu's best-known book depicts the plight of a naive Romanian young farmhand, Johann Moritz, under German, Soviet and American occupation of Central Europe. Johann is sent to a labor camp by a police captain who covets his wife, Suzanna. At first, he is tagged as "Jacob Moritz", a Jew. Then, he and fellow Jewish prisoners escape to Hungary, where he is interned as a citizen of an enemy country. The Hungarian government sends its foreign residents as Hungarian "voluntary workers to Nazi Germany". Later, "Moritz Ianos" is "rescued" by a Nazi officer who determines he is a perfect Aryan specimen, and forces him into service in the Waffen SS as a model for German propaganda. Imprisoned after the war, he is severely beaten by his Russian captors, then put on trial by Allied forces because of his work for the Nazis. Meanwhile, Traian, son of the priest Koruga who employed Moritz in their Romanian village, is a famous novelist and minor diplomat whose first internment comes when he is picked up as an enemy alien by the Yugoslavs. Once imprisoned, the two heroes begin an odyssey of torture and despair. Traian Koruga is deeply unsettled because what he sees as the machinism and inhumanity of the "Western technical society", where individuals are treated as members of a category. He was writing a book within a book, "The 25th Hour", about Johann Moritz and the ordeal awaiting mankind. In the end, Traian suicides in an American-Polish concentration camp, while Johann is forced by the Americans to choose between either enlisting in the army, just as World War III is about to start, or to be interned in a camp (as well as his family) as a citizen from an enemy country.


 


The book was published in French translation in 1949 and was not published in Romania until 1991 (first time published in Romania by Editura Omegapres, Bucharest, 1991).


In 1967, Carlo Ponti produced a film based on Gheorghiu's book. The movie was directed by Henri Verneuil, with Anthony Quinn as Johann, Virna Lisi as Suzanna, and Serge Reggiani as Traian.


 


Books


Ora 25, 1949. The twenty-fifth hour (translated from the Romanian by Rita Eldon), Alfred A Knopf, NY, 1950


La seconde chance, 1952


L'homme qui voyagea seul, 1954


Le peuple des immortels, 1955


Les sacrifiés du Danube, 1957


Saint Jean bouche d'or, 1957


Les mendiants de miracles, 1958


La cravache, 1960


Perahim, 1961


La maison de Petrodava (translated from the Romanian by Livia Lamoure), Éditions Plon, 1961


La vie de Mahomet (translated from the Romanian by Livia Lamoure), Éditions Plon, 1963. Éditions du Rocher, 1999, ISBN 2-268-03275-2


Les immortels d'Agapia, 1964. Éditions Gallimard, 1998 ISBN 2-07-040287-8. The immortals of the mountain (translated from the French by Milton Stansbury), Regnery Publishing, Chicago, 1969


La jeunesse du docteur Luther (translated from the Romanian by Livia Lamoure), Éditions Plon, 1965


De la vingt-cinquième heure à l'heure éternelle, Éditions Plon, 1965. Éditions du Rocher, 1990, ISBN 2-268-01038-4


Le meurtre de Kyralessa, 1966. The Death of Kyralessa (translated from the French by Marika Mihalyi), Regnery Publishing, Chicago, 1968, ISBN 0-8371-7991-2


La tunique de peau, Éditions Plon, 1967


La condottiera, Rombaldi, Collection Le Club de la Femme, 1969


Pourquoi m'a-t-on appelé Virgil?, Éditions Plon, 1968


La vie du patriarche Athénagoras, Éditions Plon, 1969


L'espionne, Éditions Plon, 1973. Éditions du Rocher, 1990, ISBN 2-268-00985-8


Dieu ne reçoit que le dimanche, Éditions Plon, 1975


Les inconnus de Heidelberg, Éditions Plon, 1977, ISBN 2-259-00195-5


Le grand exterminateur, Éditions Plon, 1978, ISBN 2-259-00323-0


Les amazones du Danube, Éditions Plon, 1978, ISBN 2-259-00402-4


Dieu a Paris, Éditions Plon, 1980, ISBN 2-259-00613-2


Mémoires: Le témoin de la vingt-cinquième heure, Éditions Plon, 1986, ISBN 2-259-01435-6


Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
21.11.2019
Cơ may thứ hai (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14