tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30209956
Thông tin tác giả
Wislawa Szymborska
 

(1923 / 09-02-2012)


Nobel văn học 1996.


Wislawa Szymborska (tên đầy đủ: Maria Wisława Anna Szymborska, 2 tháng 7 năm 1923 – 1 tháng 2 năm 2012) – nữ nhà thơ Ba Lan đoạt giải Nobel Văn học năm 1996 “cho thơ với độ chính xác tối đa mô tả các hiện tượng lịch sử và sinh học trong bối cảnh thực tế của con người”. Nét đặc trưng trong sáng tạo của Szymborska là những vấn đề về triết học và đạo đức, thi pháp xưng tội và tính phản xạ, mối quan hệ giữa sự vĩnh cửu và tạm thời, tồn tại và không tồn tại, sự bố trí hợp lý của từng bài thơ. Danh tiếng của bà dựa trên một khối lượng công việc tương đối nhỏ, dưới 350 bài thơ. Khi được hỏi tại sao bà đã xuất bản ít thế, bà trả lời: “Tôi có một thùng rác ở trong nhà”.


Wislawa Szymborska sinh ngày 2-7-1923 tại Bnin (nay là Kurnik, gần Poznan). Năm 1929 gia đình chuyển đến Krakow. Học xong bậc tiểu học năm 1935 và học xong trung học ở trường bí mật năm 1941, khi Ba Lan còn bị Đức chiếm đóng. Một thời gian ngắn Szymborska làm công nhân đường sắt. Từ năm 1945-1947 học văn học Ba Lan và xã hội học tại Đại học Jagielloński; năm 1945 khởi đầu sự nghiệp sáng tác vào với bài thơ đăng báo Tôi tìm lời, năm 1952 in tập thơ đầu tiên Vì lẽ này chúng ta đang sống và được kết nạp vào Hội Nhà văn Ba Lan. 


Phong cách thơ W. Szymborska thời kỳ này mang tính hiện thực truyền thống, viết về chiến tranh, quân đội, Tổ quốc. Năm 1957, Szymborska xuất bản tập thơ thứ ba Lời kêu gọi đối với người tuyết được dư luận quan tâm (trong nguyên tác sử dụng từ “Yeti”, thổ ngữ Himalai có nghĩa là “người tuyết”, ám chỉ thủ lĩnh của “xứ tuyết” láng giềng). Thời kỳ này bà thường viết lối thơ tự do, đặc trưng cho các nhà thơ Tây Âu đương đại, nhưng thơ Szymborska không trừu tượng mà cụ thể và dễ hiểu. 


Trong những năm 1953-1981, bà là biên tập viên thơ và là người viết xã luận trên tuần báo Đời sống văn học, các tiểu luận của bà về sau được tập hợp xuất bản dưới dạng sách tái bản nhiều lần. Từ 1952-1996, bà đã xuất bản 16 tập thơ. Ngoài ra, bà còn dịch thơ Pháp, Nga ra tiếng Ba Lan. 


Wislawa Szymborska đã được nhiều giải thưởng văn học cao quý. Năm 1954 bà được tặng giải thưởng của thành phố Krakow; năm 1963 đoạt giải Văn học của Bộ trưởng Văn hóa Nghệ thuật Ba Lan; giải thưởng Goethe của Đức (1991) và giải thưởng Herder của áo (1995). Bà được trao bằng Tiến sĩ Văn chương Đại học Poznan (1995) và giải thưởng Hội Văn bút Ba Lan (1996).  


Wislawa Szymborska từ giã cõi đời trong một giấc ngủ ở nhà mình, có bạn bè và người thân bên cạnh. 


Tác phẩm:


* Vĩ lẽ này chúng ta đang sống (Dlatego zyjemy, 1952), thơ


*Những câu hỏi cho mình (Pytania zadawane sobie, 1954), thơ


*Lời kêu gọi đối với người tuyết (Wolanie do yeti, 1957), thơ


* Muối (Sols, 1962), thơ


*Sili (1965), thơ


*Tuyển thơ (Poezje wybrane, 1967), thơ


*Một trăm trò hề (Sto pociech, 1967), thơ


* Thơ (Poezje, 1970), thơ


*Trường hợp bất kì (Wszelki wypadek, 1972), thơ


* Tarsius và những bài thơ khác (Tarsjusz i inne wiersze, 1976), thơ


*Số lớn (Wielka liczba, 1976), thơ


*Những người trên cầu (Ludzie na moscie, 1985), thơ


*Buổi chiều của tác giả (Wieczúr autorski, 1992), thơ


 


*Kết thúc và mở đầu (Koniec i poczatek, 1993), thơ


 


Thơ của Szymborska được dịch sang 40 thứ tiếng, trong đó có tiếng Đức, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Bulgari, Việt Nam, v.v.

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
18.08.2019
Những đứa con thời đại/ Ảnh chụp ngày 11 tháng Chín (thơ)
18.08.2019
Tình hạnh phúc/ Cám ơn/ Những người trên cầu (thơ)
18.08.2019
Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên/ Ai đó yêu thơ/ Ba lời kỳ lạ (thơ)
18.08.2019
Nhà ga/ Trường hợp bất kỳ/ Bốn giờ sáng (thơ)
30.03.2012
Không có gì hai lần (thơ)