tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24723283
Sách mới
Những vàm sông đêm


Là tập thơ mới nhất của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh - sau 11 năm chưa in sách-, NXB Hội Nhà văn, tháng 7-2018.


…Giọng thơ của chị là giọng Nam Bộ, giọng của một vùng đất có nhiều nhà văn, nhiều tác phẩm mang lại cái lạ, cái riêng cho văn học Việt Nam. Những bài thơ: Miệt vườn, Đo sông, Cần Đước, Trời đói chim, Những vàm sông đêm… đã duy danh cho một vùng đất, một nét riêng khó mà trộn lẫn vào các vùng quê khác: “má chôn cuống nhau em vào tiếng cuốc/ chiều miệt vườn gió lạc trong cây/ đêm bị thương bởi tiếng đờn cò/ chú Tư vuốt/ ánh trăng thành tiếng nấc…” (Miệt vườn). những âm thanh bình dị ở miệt vườn như rung lên trong từng câu chữ của thơ chị, ấm áp và thân thương biết bao. Ai đã từng sống ở Nam Bộ sẽ ấm lòng bởi những vần thơ của chị, dù có sống ở thị thành, chị vẫn nhận ra nét chân quê trong mình thật khó lẫn: “em là miệt vườn/ anh bỏ quên/ ngoài cửa sổ”. Hình tượng nhân hóa trong bài thơ “Những vàm sông đêm” gợi thật nhiều liên tưởng: “Những vàm sông sồn sồn/ không mảnh trăng làm y phục/ đêm/ là người tình bất lực/ nằm ê chề/ bên những vàm sông/ Không bờ đê để níu kéo/ không mái dầm để thở than/ Không con cá bống để lí lắc/ không còn ai ngoài vàm”. Vắng vẻ và quạnh hiu, bởi “Anh về phố lấy vợ/ vàm song ế/ em theo chồng bỏ quê/ vàm nằm không”. Có gì đó như tiếc nuối đến rã rời: “Gió thở dài/ đêm ngáp ngáp/ những vàm sông ôm buồn tênh/ mà ngủ/ những người đàn bà xứ Nam Kỳ/ chết đi rồi/ hóa những vàm sông đêm”. Tên bài thơ, cũng là tên của tập thơ là sự nuối tiếc của nhà thơ về một vùng đất – nơi “má chôn cuống nhau”, sự phôi pha bởi thời gian và đời người, dường như đọng lại trong thi nhân một nỗi buồn thương tiếc nuối, rối bất giác nghĩ đến thân phận người đàn bà xứ Nam Kỳ cũng như vàm sông đêm kia, bị lãng quên trong cô đơn.


Kết cấu đối lập trong bài thơ “Trời đói chim” đọc lên thật thú vị: “Có sự im lặng làm ù tai/ Có những tiếng ồn chữa bệnh điếc/ Có khi nào cây đói chim mà chết/ Có khi nào trời đói chim mà bỏ đi?” Nếu con người tận diệt với loài chim, thì thảm họa thật vô cùng: “từ đó/ trời đói chim/ đôi tai người đàn bà đói tiếng hót/ cây bò cạp nước ủ rũ vì không được ăn sáng”


Chị đã xưng danh quê hương mình thật giản dị: “má gốc gió ba gốc dừa xứ nắng/ em gốc Nam Kỳ/ Cần Đước… đước à/ có tiếng cười lạt lẽo/ nhưng tiếng khóc không lạt lẽo/ khóc mặn/ một hôm/ những cây đước bước lên thành người Cần Đước/ em – người đàn bà miền Nam gốc đước” (Cần Đước), đọc bài thơ này tôi hình dung chị - người phụ nữ mạnh mẽ kiên cường, người phụ nữ sâu sắc ân tình, người phụ nữ sống hết mình cùng thơ ca và cuộc sống.


Với chị, mỗi lần đi là một lần chiêm nghiệm và suy tư ở những địa danh chị từng đặt chân đến, từ Nha Trang, Bà Nà, Hội An, Đà Lạt… ở mỗi bài thơ viết về những nơi chị đi qua đều có gì đó như là khát khao tự do của người phụ nữ, nhưng khi tự do rồi thì chợt nhận ra gia đình mới chính là nơi người phụ nữ gắn bó và cảm nhận hạnh phúc an yên: “bỏ lại chồng con/ lên đây ngồi viết/ mát mẻ lạ lung…/ không viết nổi/ cảnh đẹp mê hồn…/ không viết nổi/ bạn bè tám chuyện cười quá…/ không viết nổi/ rảnh rang vô cùng…/ không viết nổi” (Lên Đà Lạt sáng tác).


Nguyễn Thị Ánh Huỳnh – nhà thơ Nam Bộ với giọng thơ riêng, với cấu tứ thơ mới mẻ và sáng tạo, hình tượng thơ giản dị, giọng thơ đậm chất miền kênh rạch Nam Bộ; với hành trình sáng tạo thơ ca chị đã tạo cho mình một dấu ấn riêng, và thật là mới lạ, độc đáo, có lực hấp dẫn với độc giả khi được cầm trên tay mình tập thơ “Những vàm sông đêm”.


Huế ngày 16/6/2018


Hoàng Thị Thu Thủy


Honvietquochoc


Trở lại - Đầu trang