Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập35,894,810

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tư liệu sáng tác

3 bài viết về Văn chương Lê Xuyên - Chú Tư Cầu

Nhiều tác giả

  • Thứ hai, 11:16 Ngày 28/12/2020
  • Nhà văn Lê Xuyên, người muôn năm cũ

    Lê Xuyên: Nhà văn hay nhà báo? Có người đã đặt câu hỏi như trên và quả thật rất phân vân khi định hình một chân dung văn chương như nhà văn viết với văn phong “rặt ròng” Nam Bộ hay một nhà báo thuộc loại “đàn anh” trong giới truyền thông báo chí miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ông còn là một tác giả nổi tiếng với biệt hiệu “Chú Tư Cầu”, tên một tác phẩm của ông đã thành danh. Từ “Chú Tư Cầu” đến “Ðêm không cùng”, từ “Vợ Thầy Hương” đến “Vùng bão lửa”, từ “Kinh Cầu Muống” đến “Nguyệt Ðồng Xoài”, những tiểu thuyết của ông viết về những cuộc đời của các nhân vật của một thời thế hỗn loạn, của những người dân tuy cục mịch ít học nhưng tâm tính đơn sơ. Có khi họ là những mẫu người cao thượng không ngờ nhưng cũng có lúc là những người sống gần bản năng nhất. Ðặc biệt, ông đã sử dụng phương cách dùng đối thoại để chuyên chở ý tình của nhân vật và qua đó gián tiếp tả tình tả cảnh một cách đặc biệt tạo hấp dẫn cho người đọc.

    Viết “feuilleton” cho báo hàng ngày thời đó không phải dễ dàng mà còn là một nghệ thuật. Trường thiên tiểu thuyết của ông dường như tranh đua một cách gián tiếp với truyện kiếm hiệp Kim Dung lúc đó đang ở tuyệt đỉnh chú ý của mọi người, ở đâu cũng nói chuyện Cô gái Ðồ Long, Anh Hùng Xạ Ðiêu thì những trường thiên tiểu thuyết như “Chú Tư Cầu” như “Ðêm không cùng” phải có một hấp lực rất lớn. Số lượng độc giả hàng ngày của các nhật báo là mức đo sự lôi cuốn của tờ báo mà những truyện nằm ở trang trong là một biểu hiện. Tiểu thuyết của Lê Xuyên có những đời sống chân chất ruộng đồng, những suy nghĩ giản dị của người bình dân, những ngôn ngữ của đời bình thường nhưng vào trong đối thoại truyện lại thành những lôi cuốn mở ra những cảm giác sẵn có cho những cuộc tình nóng bỏng đầy ắp dục tình. Ðối thoại của Lê Xuyên cứ nửa kín nửa hở, cứ vừa đố vừa giảng một cách “tửng tửng” nhưng tự nhiên gợi đến những cảm xúc của thịt da, của những giây phút nóng hổi của cuộc sống. Nhưng chẳng phải là ngôn ngữ của trụy lạc khiêu dâm. Mà còn có một điều gì ẩn khuất của con người, của nét nhân bản phảng phất.

    Nhớ đến nhà văn Lê Xuyên, thì tự nhiên người đọc nhớ ngay đến tiểu thuyết Chú Tư Cầu nhưng thực ra vẫn còn những tiểu thuyết dài viết từng ngày đăng ở trang trong các nhật báo cũng lôi cuốn độc giả không kém như Nguyệt Đồng Xoài, Rặng trâm bầu, Vợ Thầy Hương, Kinh Cầu Muống… với một bút pháp mới để tạo một văn thể thích hợp để lôi cuốn độc giả theo dõi diễn biến cốt truyện hàng ngày với phong cách vừa đố vừa giảng.

    Một ông vua viết tiểu thuyết feuilleton là nhà văn Mai Thảo đã viết về mục đích muốn tới và dụng tâm cuối cùng:

    “Tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp. Người người viết truyện trữ tình đăng trên nhật báo bây giờ thảy đều mơ tưởng trở thành một Kim Dung kiếm hiệp. Một mở đầu đã dầy dặc những tình tiết bốc cháy từ những mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang chân trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Đang những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một xáo trộn, đóng khung trong một cảnh trí này, ném bổng xáo trộn ấy vào một cảnh trí hoàn toàn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn xảo thuật hâm nóng cảm giác làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoán ấy đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thực hiện phim ảnh. Nói chung đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quan ta.

    Từ ngòi bút Lê Xuyên và tiểu thuyết Lê Xuyên vì cũng viết ra trước hết cho báo hàng ngày, chúng ta cũng thấy thấp thoáng sự nhập nội vào văn thể những kỹ thuật ấy. Nhưng Lê Xuyên không chỉ giới hạn khả năng trước tác của mình vào sử dụng kỹ thuật tiểu xảo. Và tiểu thuyết Lê Xuyên thật đông người đọc, tất phải chứa đựng một sắc thái độc đáo nào? Câu trả lời là có. Đó là không khí, cảnh trí, những khuôn mặt điển hình, những cuộc đời đặc biệt, những danh từ địa phương, cùng lối miêu tả sự việc bằng đối thoại cực kỳ linh động chỉ thấy ở tiểu thuyết Lê Xuyên”.

    Nhà văn Lê Xuyên mất ngày 2 tháng 3 năm 2004, đến nay là mười bốn năm. Thời gian qua đi, nhưng vóc dáng của ông vẫn không phai trong lòng những người yêu văn chương ở trong nước và hải ngoại. Mặc dù, hệ thống truyền thông báo chí trong nước không đề cập đến ông và lạnh lùng coi như không có nhà văn nhà báo Lê Xuyên; nhưng trong dư luận những người cầm bút còn ở lại vẫn vương vấn một tình cảm vừa yêu thương vừa kính phục về một kẻ sĩ Việt Nam. Còn ở hải ngoại, ngay khi ông vừa mất đã có những buổi tưởng niệm và mỗi năm đến ngày giỗ của ông đều có những bài viết đầy trân trọng và tình cảm nhớ về một người đã khuất. Riêng cá nhân tôi, khi tuổi vừa lớn lên, học ở Trung học, đã có thời say mê truyện kiếm hiệp Kim Dung cũng y như say mê “Chú Tư Cầu”, như “Ðêm không cùng”. Những nhân vật của ông mở ra cho tôi hiểu biết thêm những cuộc sống phong phú của đồng quê, của những người bình dân Nam Bộ. Là một người nguyên gốc miền Bắc di cư vào Nam, tôi đã thích thú xiết bao với những ngôn từ của Chú Tư Cầu đặc thù địa phương như “nói thẳng bạch tuột”, “rắc rối không biết đâu mà rờ”, “mấy con nập nợn”, “làm cho xất bất xang bang”, “anh làm cái kiểu đó thì mụ nội em cũng lìa”, “ca mùi tận mạng”, “giận lẫy sẩy cùi”,… Những ngôn từ ấy, nghe không quen tai nhưng hấp dẫn làm sao!

    Như vậy, chân dung văn học nào biểu hiện được chính xác tác giả Lê Xuyên? Nhà văn hay nhà báo? Nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã nói trong buổi lễ tưởng niệm đầu tiên sau khi tác giả Chú Tư Cầu ra đi về nghề văn và nghiệp báo đã song hành rất tốt đẹp. Theo ông, trong số tất cả những nhà văn viết truyện dài từng kỳ đăng trên nhật báo hàng ngày thì tác giả Lê Xuyên là người viết hấp dẫn, khéo léo dẫn dắt cốt truyện đến lúc tận cùng kết cuộc với kỹ thuật mới lạ đầy bất ngờ và cũng không kém phần gợi cảm.

    Trước năm 1975, khi trả lời câu hỏi phỏng vấn của nhà văn Viên Linh, nhà văn Lê Xuyên cho biết việc ông bước vào nghề báo cũng như viết truyện dài hàng ngày “bất quá chỉ là một vấn đề số mạng” và trường thiên tiểu thuyết Chú Tư Cầu chỉ là một sự góp nhặt những chuyện tình được kể trong khi bị sống ở trong vòng tù giam.

    “Ðành rằng hồi còn nhỏ, hồi còn đi học tôi cũng thích làm văn, làm thơ nhưng quả tình tôi không ngờ có ngày mình lọt được vô nghề này. Truyện dài đầu tay của tôi là Chú Tư Cầu đăng trên nhựt báo Sài Gòn Mai. Ðang thất nghiệp, tôi được anh Vương Hữu Ðức (lúc bấy giờ là Tổng Thư Ký nhựt báo Sài Gòn Mai) gọi tới để làm phụ với anh và cũng chính anh Ðức đã bảo tôi viết cho tờ báo SGM một truyện dài “đồng quê Miền Nam”. Có lẽ vì tin tưởng phần nào ở tôi, và chắc do khiếu đánh hơi nhà nghề nên anh Ðức chỉ “hạ lịnh” vỏn vẹn cho tôi như thế. Và tôi bắt đầu viết Chú Tư Cầu.

    Cũng may là hồi còn kẹt trong tù, tôi được mấy anh em ở miệt quê kể cho nghe rất nhiều câu chuyện sống với đầy đủ tình tiết (mà Chú Tư Cầu là một) và trước khi bị kẹt có một thời gian tôi về ẩn náu tại miền Tây, nên chụp vô chuyện Chú Tư Cầu là tôi viết phăng tới liền, chớ nếu không thì “tang gia bối rối” biết bao nhiêu.

    Giả sử lúc bấy giờ anh Ðức bảo tôi viết truyện gián điệp hay truyện ma gì đó tôi cũng viết như thường. Như vậy, chẳng do “phần số” chẳng do “thiên định” là gì?”

    Nhà văn Mai Thảo trong bài tựa tiểu thuyết Chú Tư Cầu khi tái bản ở hải ngoại đã viết:

    “Ðó là không khí, cảnh trí, những khuôn mặt điển hình, những cuộc đời đặc biệt, những danh từ địa phương, cùng lối miêu tả sự việc bằng đối thoại cực kỳ linh động chỉ thấy ở tiểu thuyết của Lê Xuyên.

    Không khí, bầu trời của văn truyện Lê Xuyên là một không khí rất nước Việt Miền Nam, một bầu trời rất miền Nam thôn dã. Ðang nắng lửa chói chang, chợt đã mưa rào đột ngột. Phút trước trời còn ngọc thạch, phút sau đã sầm tối mây đen. Kinh rạch chằng chịt, ngòi rạch lang thang. Trong ẩm ướt nhiệt đới, lúa mạ tốt tươi trùm lan thành nườm nượp mùa màng. Trời, đất, cỏ, hoa nồng cháy một hiện tượng giao tình thường trực. Không khí có sấm chớp trên kia và đời sống dưới này là rạo rực hình hài, là thần kinh bốc lửa. Như Cửu Long nước đầy, thiên nhiên và địa hình miền Nam đã là những phát hiện tự nhiên chan hòa sức sống. Bằng những liên hệ biện chứng với ngoại giới, người và đời sống của người, bởi vậy cũng đồng dáng với thiên nhiên và đồng tình với địa hình. Người đọc đã hiểu tại sao là nhân vật và những diễn biến tiểu thuyết Lê Xuyên thật hiếm ít những dấu tích và những đặc thù của văn minh phường phố. Tư Cầu có thể một bữa kia ra tỉnh. Ði coi hát bóng, vào nghe nhạc phòng trà. Nhưng nguồn gốc, lẽ phải, hạnh phúc và cái làm nên thế quân bình cho đời sống Tư Cầu và những người đàn bà trở thành đối tượng cho bản năng Tư Cầu bốc cháy là ở giữa cái lồng lộng phơi phới đó của trời là màn, chiếu là đất, cỏ cây bằng hữu và trăng sao tình nhân. Thôn dã miền Nam trong tiểu thuyết Lê Xuyên không rối rắm những phong tục lâu đời, chồng chất những tập quán cố định. Như ta thấy ở Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, hay ở những tiểu thuyết thôn quê, tiểu thuyết phong tục tiền chiến của Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài. Ðó là một thôn dã mộc mạc hơn còn đằm thắm cái đằm thắm ngu ngơ của sơ khai và tiền sử tính. Nước chảy không ngăn dòng, Cỏ mọc trùm bãi bờ. Ðó là một trạng thái tự do của con người, mặc dầu là một tự do thấp và vô thức. Nhân vật tiểu thuyết của Lê Xuyên không chạy theo sức xô đẩy của tâm hồn, bởi vì không nâng đời sống tới những rung động tâm hồn, mà ném mình vào những òa vỡ tự nhiên của dục tính.

    Nhiều người cho rằng, truyện Lê Xuyên hay nhất ở những phần đối thoại. Ðối thoại có chuyên chở sự việc, có phân tích tâm lý, nghĩa là có thuật có tả ở trong. Nhận xét trên đúng, và cũng dễ hiểu. Ngôn ngữ tiểu thuyết Lê Xuyên là thứ nói chuyện không biến hình bằng những điều chỉnh bút pháp cho chuốt lọc hay văn hoa bay bướm hơn, cho nên cái khó nhất của nghệ thuật viết truyện là đối thoại thì Lê Xuyên lại thành công tốt đẹp nhất ở đó.”

    Tiểu thuyết Chú Tư Cầu khá dài, bố cục gồm 5 phần và đoạn kết. Nhân vật chính là Chú Tư Cầu và bốn người tình trong bối cảnh của những vùng địa phương của địa lý khác nhau. Nhưng dù ở bất cứ nơi đâu cái vóc dáng nông dân vẫn không trộn lẫn với người bản xứ. Cuộc đời trôi giạt từ hết cuộc tình này sang cuộc tình khác mà anh chàng chăn vịt của vùng sông nước xưa kia đã trải qua bao nhiêu biến cố của thời thế. Tư Cầu không tán tỉnh đàn bà, anh đối xử với bất cứ ai cũng bằng cái tình cảm chân thật hơi chút ngây thơ và chính điều đó đã làm thành nét hấp dẫn phụ nữ. Những người đàn bà yêu Tư Cầu đều là những người nữ có cá tính mạnh và có nét đẹp lãng mạn riêng có mùi vị của đồng quê của những đóa hoa đồng nội.

    Người tình đầu tiên cô gái hàng xóm ngày xưa ở Rạch Chiếc, người yêu Tư Cầu, trốn gia đình theo người tình lên Sài Gòn để tránh cuộc hôn nhân do gia đình sắp đặt nhưng lại bỏ rơi anh chàng khờ khạo để theo một người tình Hoa kiều giàu có hơn. Phấn yêu Tư Cầu của mối tình trẻ thơ nhưng đầy tưởng tượng của xác thịt. Những đoạn đối thoại nóng bỏng, như cách xưng hô “mày và tao” biến thành “anh và em” cùng với thiên nhiên trời trăng mây nước đã thành một khúc tình ca đầy chất lãng mạn nhưng đầy ắp cảm xúc da thịt nam nữ.

    Trên con đường đi lên Sài Gòn, Phấn gặp anh chàng khách trú tên Lâm Sanh và bị thuyết phục để bỏ Tư Cầu với lý do một người thật thà đôn hậu như Tư Cầu khó lòng sống được ở một nơi đầy cạm bẫy như thành phố Sài Gòn. Phấn đánh lừa Tư Cầu mua vé tàu đò cho Tư Cầu trở lại Trà Ôn trong khi Phấn và Lâm Sanh lên Sài Gòn sống với nhau.

    Nhưng định mệnh xui khiến khiến Tư Cầu lại đi lạc lên Nam Vang và sống bạt mạng với đám côn đồ giang hồ và được cô Ba Xá Lỵ một nữ chúa dao búa xứ Chùa Tháp yêu thương. Hai người say mê nhau, một mối tình pha lẫn giữa xác thịt và tình cảm, giữa đạo lý của giới giang hồ và tính nhân bản của con người chất phác. Một thời gian khi đã dành dụm được một số tiền Tư Cầu nhớ nhà nên rủ Ba Xá Lỵ về sống ở Rạch Chiếc nhưng cô này từ chối vì nghĩ rằng người như cô đã quen giang hồ rồi sẽ không họp với đời sống quê mùa rẫy bái của gia đình Tư Cầu.

    Về quê, Tư Cầu biết chuyện Phấn đã bỏ đi theo chồng Khách Trú và có một đứa con với mình. Sau đó anh lấy vợ một cô gái hai dòng máu Miên Việt tên Thơm và tiếp theo là một đời sống vợ chồng đầy ắp dục tính của bản năng trai gái. Lúc ban đầu thì cũng có hơi trục trặc nhưng về sau là những pha làm tình sống động tuy chỉ qua ngôn ngữ chay nhưng tạo được sự tưởng tượng nóng bỏng qua lối diễn tả. Nhưng rồi dân Miên nổi loạn thổ dậy hãm hiếp Thơm đến chết. Tư Cầu trả thù rồi gia nhập quân kháng chiến chống Pháp ở địa phương nhưng bị bắt và cầm tù tại Sài Gòn. Tình cờ gặp Ba Xá Lỵ là người vợ hờ của viên Trung Úy Pháp coi tù và tình cờ nữa gặp lại Phấn với đứa con của mình. Hai người đàn bà cùng nhau giúp Tư Cầu vượt ngục. Sau khi gia nhập quân kháng chiến, Tư Cầu phục kích giết được viên Trung Úy Pháp nhưng không cứu được Ba Xá Lỵ vì đã bị tên chính trị viên giết rồi.

    Và người đàn bà thứ tư là Thắm, một mối tình mà anh ta nghĩ có nhiều sự êm đềm nhất. Trong khi Thơm đang mang bầu thì Tư Cầu phục kích và đã tha mạng cho một viên “quan một” vì lý do anh quan một này cũng có vợ sắp đến ngày sinh nở. Kết cuộc khi vừa thả người tù binh xong thì Tư Cầu trúng đạn đại bác và hy sinh.

    Truyện dài Chú Tư Cầu được đăng hàng ngày trên nhật báo Sài Gòn Mai suốt mấy năm và trở thành một tiểu thuyết được cả giới bình dân lẫn trí thức ưa thích. Với văn phong độc đáo mà cá tính của người dân Nam Bộ được tỏ lộ rõ nét, dù ở không gian nào, ở Rạch Chiếc xa xăm hay Sài Gòn, Nam Vang náo nhiệt thì vẫn là những phương trời mà con người đôn hậu Tư Cầu, đã sống chân thành theo một đạo đức mà theo tác giả Lê Xuyên là lẽ phải trên đời…

    Tại sao nhà văn Nguyễn Mộng Giác lại phát biểu Lê Xuyên đi song hành một cách tốt đẹp giữa nghề báo và nghiệp văn. Nhà báo Vũ Ánh coi Lê Xuyên là một vị thầy đáng kính nhất của ông trong nghề làm báo. Ông là một ký giả tận tụy, hết lòng chỉ dạy đàn em với cả khả năng của mình. Ông đã từng làm Tổng Thư ký một số nhật báo ở Sài Gòn như Dân Ý, Thời Thế, Thần Phong, Ðại Dân Tộc… trong suốt những tháng ngày đầy biến động của chính trường Việt Nam và chiến tranh bùng nổ lớn.

    Nhà báo Vũ Ánh viết: ”Ngày Mồng Một tháng Giêng năm 1966, tôi bước vào làng báo viết trong khi vẫn tiếp tục làm công việc của một phóng viên báo nói (truyền thanh). Cả hai thứ tôi đều mê cả. Người đưa tôi vào làng báo viết là nhà văn Lê Xuyên tức “Chú Tư Cầu”. Chính ở ông tôi đã học được phương pháp hệ thống hóa kiến thức thời sự và xã hội cần thiết cho nghề báo viết nhất là cách thực hiện trang trong của một tờ nhật báo. Cho đến khi vào làm Tổng Thư ký cho tờ Dân ý ông đã đưa tôi làm việc với ông với tư cách một phóng viên làm tin địa phương…

    …Cái hấp dẫn nhất nơi Lê Xuyên là nhân cách, sự hòa nhã nhưng hết sức cương quyết của ông. Tôi đi tù về năm 1988 gặp lại ông và chứng kiến nhiều người bạn cũ đang cộng tác với báo chí chế độ mới đến rủ ông viết lại, nhưng ông đã từ chối và tiếp tục thu tấm thân còm cõi với chiếc mũ “phở” sau quầy thuốc lá và bữa nào cũng đói cả…”.

    Nhà văn Hồ Nam cũng viết về nhà báo Lê Xuyên: “Lê Xuyên (Lê Bình Tăng) vào đời đi làm chính trị phiêu bạt giang hồ từ đất Nam Kỳ Lục Tỉnh ra tận ngoài Bắc chống Tây để giải phóng dân tộc, bị Tây bắt bỏ tù. Nhờ ở tù mà ra tù cưới được một cô vợ Bắc Kỳ vào loại sắc nước hương trời. Ra tù Lê Xuyên cưới vợ xong bèn trở về miền Nam làm báo cùng Bảy Bốp Phạm Thái (tác giả truyện Năm Người Thanh Niên từng được giải thưởng văn chương của Tự Lực Văn Ðoàn). Vào nghề báo ban đầu ông chưa ký bút hiệu Lê Xuyên mà ký bút hiệu Lê Nguyên, cũng chưa viết tiểu thuyết mà viết bình luận chính trị. Giữa thập niên 1950 bình luận gia Lê Nguyên khá nổi nhưng vì tổ chức chính trị của ông chống đối quyết liệt chế độ gia đình trị của Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm nên tờ báo của tổ chức của Lê Nguyên bị đóng cửa. Bảy Bốp Phạm Thái nhanh chân chạy được sang Nam Vang sống lưu vong. Lê Nguyên bị mật vụ của chế độ Ngô Ðình Diệm bắt và nhốt trong Khám Chí Hòa nhiều năm.

    Lê Nguyên nằm Chí Hòa năm năm, lăn lóc chung đụng với đủ hạng người từ thượng vàng đến hạ cám. Lê Nguyên chỉ nghe chuyện tiếu lâm và không nói năng gì. Năm 1961, sau cuộc binh biến, bác sĩ Trần Kim Tuyến chỉ huy mật vụ của chế độ muốn có những tờ báo của chế độ nên cho người liên lạc với nhà văn Nhị Lang đang lưu vong về làm chủ bút tờ báo Sài Gòn Mai. Nhị Lang trả lời rằng chỉ làm chủ bút Sài Gòn Mai với điều kiện phải vô Chí Hòa đem Lê Bình Tăng về làm thư ký tòa soạn. Bác sĩ Tuyến đồng ý với Nhị Lang nhưng đòi Nhị Lang phải hứa rằng ra tù Lê Bình Tăng làm báo không được viết bình luận thời sự nữa vì Tổng Thống không ưa văn bình luận của Lê Bình Tăng…”.

    Và từ năm 1961 đến ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa 30 tháng Tư năm 1975, qua bao nhiêu là biến động và trải qua nhiều thời kỳ làm Tổng Thư ký các nhật báo có nhiều độc giả của Thủ đô Sài Gòn, chân dung nhà báo Lê Xuyên lại càng trở thành một khuôn mặt đáng kể của làng truyền thông Việt Nam. Với lòng tận tụy yêu nghề, như nghiệp báo chí là một bổn phận thiêng liêng, những đóng góp của ông là thành quả không phải của riêng một mình cá nhân Lê Xuyên mà còn là của chung làng báo Việt Nam. Bên cạnh những khuôn mặt ham tiền vô lương tâm cũng còn có những kẻ sĩ bất khuất.

    Sau năm 1975, vì là nhà văn vừa là nhà báo lại là một lãnh tụ của một đảng phái quốc gia (ông thuộc Ðại Việt Quốc Dân Ðảng của đảng trưởng Trương Tử Anh) nên ngay sau tháng 5 /1975 bị Cộng sản nhốt vào đề lao Gia Ðịnh. Theo những người cùng bị giam chung thì mặc dù được những tên “tù cha” thường là dân dao búa kính trọng dành riêng những đặc ân trong tù nhưng Lê Xuyên là người tù ít nói nhất và thường quay mặt vào tường lặng thinh suy tư. Ra tù, Lê Xuyên cũng ngồi bán thuốc lá lẻ nhìn đời ở lề đường Ngô Quyền, sống thiếu hụt và thường xuyên đói ăn thèm uống. Nhưng ông vẫn mặc kệ thiên hạ bon chen. Nhiều người đến gạ in lại sách hoặc viết để kiếm thêm tiền nhưng ông từ chối. Ông nói nhà văn Lê Xuyên đã chết rồi sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.

    Nhà văn Văn Quang đã viết về những ngày cuối đời của tác giả Chú Tư Cầu. Bây giờ đọc lại như một cách thế tưởng niệm.

    “Hơn mười năm sau khi tôi ở trại cải tạo ra, Thanh Thương Hồng dẫn tôi đến thăm Lê Xuyên. Anh ngồi bán thuốc lá lẻ ở một góc phố. Chiếc quầy thuốc bé tẹo nhưng cũng đủ che hết tấm thân gầy gò của anh. Chúng tôi nhìn nhau và cùng cảm thông rất sâu sắc cái thân phận mình lúc này. Anh chớp mau mắt nói như để an ủi hơn mười hai năm tù của tôi.

    - Trông ông vẫn cứ phong độ như ngày nào

    Tôi thẳng thừng thương bạn:

    - Trông chán bỏ mẹ. Đ… khỏe được chứ…

    Hai bàn tay bạn tôi run lên, lật bật đút chiếc chìa khĩa vào ngăn tủ kính để mấy gói ba số năm bán lẻ (hồi đó ba số năm quý lắm)

    - Hút thuốc lá không?

    - Không, tớ hút thuốc lào quen rồi, về đây hút thứ nặng hơn mới đủ đô.

    Thanh Thương Hồng rủ sang bên con hẻm phía trước ăn sáng. Đó là con hẻm lối đi vào một ngôi chùa hay ngôi đình gì đó. Không có hủ tíu, Lê Xuyên phải chạy đi gọi ở một nơi nào quen bán chịu cho anh ở gần đó. Lê Xuyên trở lại với con người thật của anh. Vẫn hiền lành, cười tủm và chân quê. Phải nhìn thấy cái cười tủm của anh mới biết tại sao anh viết về những cuộc tình của những đôi trai gái đồng ruộng miền Nam hay đến như thế, láu cá đến như thế. Tôi nhủ thầm. Thằng cha này tẩm ngẩm tầm ngầm mà ghê lắm đấy. Nó không nói mà chỉ viết nên nó viết được nhiều hơn mình. Chỉ có nó mới viết được những “dòng chảy ngầm” của trai gái thôn quê miền Nam thật đến thế và hấp dẫn đến thế. Lê Xuyên khác với một số những cây bút hoàn toàn Nam Bộ như Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam ở chính cái “thật” của anh, tiểu thuyết của anh không màu mè, không lý luận, không khoác bộ áo nghiên cứu sưu tầm về phong tục tập quán dưới hình thức này hay dáng vẻ khác. Từng động tác, từng thái độ, từng lối ứng xử trong nhân vật của anh cứ như những con người thật lồ lộ đang ở trước mặt chúng ta vậy. Trước mặt tôi, ông già Lê Xuyên vẫn còn cái hóm hỉnh riêng nhưng bây giờ thì như anh nói: ”Đếch viết nữa…” Tôi hỏi viết không được hay không thích. Câu trả lời của anh gọn lỏn: ”Bỏ đi Tám…”. Tôi không thể hiểu nổi ba chữ ”bỏ đi Tám” mà anh dùng. Có một nỗi chua chát nào đó trong cái tâm sự thật của anh. Đến cái thẻ chứng minh nhân dân anh cũng không muốn làm nên anh ở nhà anh mà không có tên trong sổ hộ khẩu, cứ như ở lậu, công dân lậu. Thái độ ấy có đồng nghĩa với sự “bỏ đi Tám” của anh không? Chỉ có anh mới hiểu và bây giờ anh mang theo anh về thế giới bên kia…

    Buổi chiều ngày 5 tháng 3, đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa trời nắng chang chang, chúng tôi đưa người quá cố đến nghĩa trang Bình Hưng Hòa. Có rất nhiều người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh. Đám tang nhà văn Lê Xuyên không ồn ào như đám tang của những nhà nghệ sĩ mà ở đây người ta cho rằng đó là những “nhà nghệ sĩ lớn”. Nhưng những con người thầm lặng ấy đưa tiễn anh với tất cả tấm lòng mình. Họ không nói gì không có kèn saxo như trong đám tang Trịnh Công Sơn không có những giọt nước mắt dài ngắn thở than của những danh ca nghệ sĩ không có những bài điếu văn “lâm ly bi đát” nhưng đám tang Lê Xuyên đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương tám hướng lãng đãng bay về phủ kín chân trời Sài Gòn.”

    Nguyễn Mạnh Trinh

    Nguồn: tongphuochiep.com/index.php/bao-chi/tac-gi-tac-ph-m/25360-nha-van-le-xuyen-ngu-i-muon-nam-cu-nguy-n-m-nh-trinh

     

    Kho báu trong tác phẩm của Lê Xuyên

    Hồ Ông

    Từ quê nhà, Nhà văn Văn Quang đã sớm gửi bản tin ngắn cho tôi báo tin một người anh em cũ, Nhà văn Lê Xuyên vừa qua đời. Kèm theo là 4 tấm hình gồm: một tấm chân dung Lê Xuyên vào thời kỳ còn dọc ngang trong làng viết Sài-gòn, một tấm chụp di thể được đặt trên giường với nải chuối trên bụng, hai tấm khác chụp chị Lê Xuyên cùng người con gái út, và tấm sau cùng là quang cảnh chuẩn bị tang lễ.

    Chưa bao giờ những tấm hình lại giữ được nhiều chi tiết về một đời người như vậy. Có lẽ tại vì khoảng cách thời gian với bao nhiêu biến đổi vô thường đã tô đậm thêm những nét hình bất di bất dịch được lưu giữ qua ống kính, hoặc còn tồn tại trong trí nhớ. Tôi mày mò phóng lớn tấm chân dung thời trung niên của Lê Xuyên trên màn hình máy vi tính. Từ đôi mắt của anh, bao nhiêu mảng rời của một thời đã qua của làng báo quen thuộc năm xưa lại trỗi dậy xôn xao…

    Tôi nhớ vào khoảng năm 1970, lúc đó với sức trẻ và lòng yêu nghề cuồng nhiệt, tôi đã viết cùng lúc cho 4 tờ báo gồm: Nhật báo Tự Do (Chủ nhiệm Phạm Việt Tuyền, Tổng thư ký Nguyễn Trọng), Nhật báo Thời Thế (Chủ nhiệm Hồ Anh, Tổng thư ký Lê Xuyên), Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong (Chủ nhiệm Hồ Anh, Tổng thư ký Tử Vi Lang) và Tuần báo trào phúng Con Ong (Chủ nhiệm “Chí sĩ” Minh Vồ, Chủ bút Thương Sinh, tức Duyên Anh). Tuy có thể la cà đàn đúm với anh em ở bất cứ toà soạn nào mà mình cộng tác bài vở thường xuyên, nhưng tôi vẫn thích đóng đô ở toà soạn báo Con Ong hơn vì toà soạn tờ báo này là chỗ duy nhất có thể đến đó nói và nghe… chuyện tục được!

    Tuy cùng cộng tác chung ở Nhật báo Thời Thế, nhưng tôi chưa có duyên tiếp xúc với Nhà văn Lê Xuyên, Tổng thư ký của báo này. Nguyên do vì tôi thường đến sớm đưa bài cho người thư ký của toà báo Văn nghệ Tiền Phong, và luôn tiện nhờ chuyển cho Nhật báo Thời Thế, rồi rút ngay về bên toà soạn Con Ong hưởng ứng những cuộc đấu hót hết từ toà soạn đến mấy cái quán xá nằm trên đường Võ Tánh.

    Chính vì thế đối với nhà văn Lê Xuyên, mặc dù tôi rất ái mộ lời văn “đối thoại dấm dẳng” pha chất sex nhẹ nhàng kiểu “cởi cái nút áo người yêu cả tuần lễ chưa xong”, rất Lê Xuyên, rất Nam Bộ với những ngôn ngữ địa phương thuần tuý, không hề bị pha trộn với ngôn ngữ của thời đại… nhưng tôi vẫn chưa một lần được đối diện để xem “Chú Tư Cầu” ngoài đời chịu chơi đến mức nào. Cứ căn cứ vào các nhân vật “Chú Tư Cầu”, “Rặng Trâm Bầu”, tôi tưởng nhà văn Lê Xuyên phải là một ông Nam Bộ bậm trợn lắm mới viết rành lối văn “dấm dẳng ướt át” đến độ độc giả nào đã theo dõi feuilleton của anh trên Nhật báo là không thể nào bỏ qua được tờ báo xuất bản vào ngày hôm sau. Có lần tôi thắc mắc hỏi “Chí sĩ” Minh Vồ, thì anh cười toáng lên, nói: “Cậu lầm rồi, Lê Xuyên nó còn hiền lành hơn thầy tu, nhát hơn con gái nhà lành nữa đấy. Nghe nói tục là nó biến ngay, đố dám!”.

    Cùng làm việc lâu với Minh Vồ, tôi biết tay “Chí sĩ” này chỉ giỏi phùng mang trợn mắt nói tục sùi cả bọt mép cho anh em vui, chứ không hề nói dóc những chuyện không có chủ đích để gây cười một cách vô tội vạ. Tuy thế tôi vẫn không tin và lòng thầm nghĩ thế nào cũng phải gặp Lê Xuyên ở Nhật báo Thời Thế một lần cho biết. Nhưng tôi không phải đợi lâu. Chỉ ít ngày sau, trong một buổi tôi và Minh Vồ cùng Dê Húc Càn, Hùng Phong rủ nhau ra ăn sáng tại quán hủ tíu ở “mũi tàu” Võ Tánh – Lê Văn Duyệt gần tượng Phù Đổng Thiên Vương. Đang đấu hót rôm rả trong lúc chờ đợi đồ ăn, bất chợt Minh Vồ đứng vụt dậy chạy ra ngoài kêu lớn: “Lê Xuyên! Lê Xuyên! Vào đây ăn sáng với tụi tao đã!”. Nghe thế tôi cũng mừng rỡ vì tình cờ lại được gặp người mình vẫn thường ái mộ. Tôi nhìn ra ngoài thấy Minh Vồ đang tíu tít nắm chiếc guidon xe Vespa giữ ghịt lại như sợ Lê Xuyên bận rộn sẽ không chịu vào quán.

    Lê Xuyên, năm đó trạc khoảng trên 40 tuổi, người hơi nhỏ con, ăn mặc tươm tất. Anh vừa kịp kéo ghế ngồi xuống và Minh Vồ thay vì giới thiệu, đã chỉ tôi bô bô hỏi Lê Xuyên: “Mày chắc biết thằng Hồ Ông, nó viết báo Thời Thế bên mày nó ký bút hiệu Gã Kéo Màn đó?”. Lê Xuyên nhìn tôi và đưa tay bắt tay tôi, nhẹ lắc đầu: “Nghe tên thì quen nhưng hôm nay mới gặp. Gã Kéo Màn còn trẻ quá há!”. Tôi chưa kịp nói gì, Minh Vồ đã quát chủ quán cho thêm một tô hủ tíu, rồi quay qua nói với Lê Xuyên: “Tao bắt gặp quả tang mày hôm thứ bảy”. Lê Xuyên thực thà hỏi: “Quả tang chuyện chi?” – “Mày còn giả bộ hỏi nữa”. Nghe Minh Vồ nói thế, Lê Xuyên càng ngạc nhiên: “Mà chuyện chi chớ?”. Minh Vồ cười một tràng lớn rồi oang oang nói: “Hôm thứ Bảy tao lái xe ngang trường Hai Bà Trưng, tao thấy mày chạy xe Vespa yên sau chở một em thơm như múi mít, thơm hơn em Phấn trong Chú Tư Cầu của mày, nó ôm eo ếch mày, duỗi cặp giò trường túc trắng muốt. Tao còn nhớ nó mặc mini-jupe ngắn lòi cả cái quần sì-líp màu hồng, lông nách nó thì bay phất phới, phất phới!”. Giọng Minh Vồ bình thường vốn đã lớn, nhưng có lẽ nhằm chủ đích chọc Lê Xuyên, nên anh càng cố nói oang oang cho cả quán cùng nghe, khiến ai cũng quay nhìn về phía bàn chúng tôi.

    Lúc đó Lê Xuyên mặt đỏ gay, đứng dậy không kịp chào ai, bước vụt ra xe Vespa phóng một mạch. Minh Vồ đắc ý cười hô hố, quay nói với tôi: “Đó, cậu thấy tôi nói có sai đâu! Lê Xuyên viết văn thì dữ dằn như thế, nhưng ngoài đời hắn còn hiền hơn cả mấy ông thầy tu nữa!”.

    Đấy là lần đầu tiên tôi gặp tác giả “Chú Tư Cầu”, Lê Xuyên. Sau đó ít lâu, khi gặp lại anh ở quán Tần Phương Khanh, kế toà báo Muỗi Sài-gòn của Thanh Chiêu Nhữ Văn Uý (sau là Dân Biểu, Chủ tịch Uỷ ban Thông Tin, Hạ Nghị Viện), Lê Xuyên hình như vẫn còn bối rối và mắc cỡ về câu chuyện dựng đứng của Minh Vồ, đã cười cười nói với tôi: “Minh Vồ thiệt là bậm trợn, nói năng bậy bạ không ai bằng. Tôi sợ hắn luôn!”.

    Tính cách của Lê Xuyên là như thế. Anh không giống các nhân vật nam trong tiểu thuyết của mình ở khía cạnh quan hệ trai gái, nhưng tự cốt tuỷ lại rất phù hợp với tính cách chân chất, mộc mạc và hiền lành của những người dân quê Nam Bộ.

    Khi còn làm ở báo Dân Việt, tôi nhận được thư của Thủy Tinh, một cây viết trẻ độc đáo đã có những bài viết đã thu hút được nhiều cảm tình của mọi tầng lớp độc giả qua tờ Dân Việt trước đây và Văn Nghệ Tuần Báo sau này. Trong thư, Thủy Tinh kể chuyện trong chuyến về Việt Nam thăm gia đình, anh có gặp “ông già bán thuốc lá” thật tội nghiệp ở ngã tư đường Bà Hạt – Ngô Quyền. Qua mấy người bạn, Thủy Tinh mới biết ông già tội nghiệp đó là Nhà văn Lê Xuyên lừng lẫy một thời. Qua câu chuyện, Thủy Tinh có hỏi nhà văn Lê Xuyên: “Cháu thấy một số tờ báo ở hải ngoại có đăng lại tác phẩm của Bác, họ có gửi trả nhuận bút cho Bác không?”. Lê Xuyên cười tủm tỉm hiền lành: “Anh em họ vẫn nhớ đến tôi, nên mới đem truyện cũ của tôi ra đăng, như vậy là quý lắm rồi, mình còn đòi hỏi chi nữa!”.

    Thế đấy, dù già yếu bệnh tật mà vì hoàn cảnh sống phải lê thân ra đường, nhưng Lê Xuyên vẫn thoải mái, rộng lượng với các đồng nghiệp cũ và mới. Anh không vội nghĩ anh em đã lợi dụng tên tuổi và tác phẩm ăn khách của mình, mà chỉ nghĩ đến cái tình.

    Cũng qua Thủy Tinh, tôi được biết địa chỉ của anh và anh em Dân Việt lúc đó, có thêm sự đóng góp của anh P.L.P và N.G bên Nhật báo Chiêu Dương đã gửi về biếu anh một chút tiền nhỏ để chi xài. Sau này, qua lời kêu gọi của anh Văn Quang, anh em Văn Nghệ cũng gửi về anh chút quà. Từ đó, bẵng đi hơn một năm và rồi bỗng nghe tin anh đã qua đời…

    Trong một lần nói chuyện thân mật với cây bút trẻ Thủy Tinh, mới 37 tuổi, kỹ sư điện toán ở Adelaide, Thuỷ Tinh cho biết anh rất khoái thứ ngôn ngữ đặc thù của người dân quê Nam Bộ qua các tác phẩm tiêu biểu của Lê Xuyên như Chú Tư Cầu, Rặng Trâm Bầu, Vợ Thầy Hương. Thủy Tinh nói rằng anh đọc sách của Vương Hồng Sển nói về cái thú chơi đồ cổ, anh cũng khoái lắm, nhưng không đủ khả năng tiền bạc để chơi thứ của nhà giàu đó. Nhưng theo anh có một thứ “đồ cổ” vô cùng quý giá không thể để mai một đi và ai cũng có thể “chơi” được – đó chính là thứ ngôn ngữ của người dân quê Nam Bộ như những hạt ngọc quý lấp lánh trong các tiểu thuyết đồng quê của Nhà văn Lê Xuyên. Người ta có thể đọc bất cứ trang nào, cuốn tiểu thuyết nào của tác giả này cũng vẫn dễ dàng bắt gặp. Chẳng hạn như một đoạn đối thoại nhỏ sau đây giữa Tư Cầu và cô Phấn trong tiểu thuyết Chú Tư Cầu:

    - Coi, anh có làm phiền thằng chả cái gì đâu? Có em chạy tới chạy lui lo cho anh nầy nọ, chớ thằng chả cứ ở miết trong tiệm và có chịu nhúc nhích cục cựa gì đâu! Vậy mà thằng chả còn cằn nhằn em nhức xương nhức cốt nữa!

    Tư Cầu lắc đầu:

    - Thì làm phiền chú Ba là ở chỗ đấy em ơi! Đã đành rằng hai đứa mình là… tình xưa nghĩa cũ. Nhưng bây giờ, bề nào chú cũng là chồng của em… Anh nói có phải vậy hông?

    - Thì phải… nhưng ai biểu hồi đó…

    - Biểu khỉ gì! Cũng có em… tham dự vô chớ bộ một mình ên chú mà… mà xảy ra chuyện đó sao? Kể ra chú Ba cũng hiền lắm chớ đứng vào địa vị anh mà lại có con vợ bạt mạng như em, thì nhứt định anh vặn họng bẻ hầu nó liền chớ đâu có để luồng tuông vậy được!

    - Xí, anh hổng biết mốc gì hết mà cũng nói! Thằng chả mà hiền! Em vì thương anh nên em mới bất kể như vậy, chớ bộ anh nói dễ chịu đựng với thằng chả lắm hả? Có điều là thằng chả khôn cải trời cho nên không dám làm gì tới vì sợ em liều bỏ đi luôn, và nhứt là sợ tùm lum lên, rủi ro anh có bề gì thì cũng kẹt luôn thằng chả vô trỏng nữa.

    Văn Lê Xuyên không chải chuốt, nhưng vẫn ẩn hiện chất bóng mướt như mái tóc chải dầu dừa pha hương sả của cô thôn nữ đồng quê. Không khai thác độc thoại, nội tâm, triết lý, nhưng vẫn thể hiện được chiều sâu của tâm hồn nhân vật. Không tả tình tả cảnh dài dòng, nhưng vẫn nêu bật được thời gian và không gian sống của nhân vật truyện qua những câu đối thoại sống động. Dù người đọc có thể đọc thiên kinh vạn quyển nhưng với chỉ một đoạn văn ngắn ngủi, chưa chắc đã đủ sức để gọi lại đúng tên tác giả. Với Lê Xuyên thì khác, chỉ một đoạn văn ngắn ngủi như nêu trên, người ta có thể dễ dàng gọi đúng tên Lê Xuyên mà không sợ lầm lẫn với ai.

    Nếu nói theo cách của Thủy Tinh, thì mỗi tác phẩm của Lê Xuyên là một kho chứa “đồ cổ” quý giá với những ai còn nặng tình với quê hương. Lê Xuyên đã trở về với cát bụi, nhưng chắc “Chú Tư Cầu” vẫn mãi rực rỡ với “kho đồ cổ ngôn ngữ” như báu vật một thời đã qua cần lưu giữ vì trong đó còn chứa cả tình quê.

    Hồ Ông

    Nguồn: dactrung.net/Bai-bv-988-Kho_Bau_Trong_Tac_Pham_Cua_Le_Xuyen.aspx

     

    Chú Tư Cầu của Lê Xuyên, một kho tàng ngôn ngữ Nam Bộ

    Troyes ngày, 19 tháng 08 năm 2007

    Bạn hiền thân mến,

    Trong một bức thư, bạn có bảo tôi rằng bạn đang thèm nghe một ngôn ngữ miệt vườn trên dải đất Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta mà phải là một giọng rặt ròng thổ ngữ từ miền Bình Định vào tận miền Nam trước năm 1975, tức là vào thời kỳ khởi đầu cơn gió bụi trên dải đất Đông Dương.

    Hôm nay, tôi có dịp tâm sự với bạn đây.

    Khi viết xong quyển bút khảo Quê Nam Một Cõi thì tôi cũng vừa nhận được một ấn bản của quyển Chú Tư Cầu của Lê Xuyên do chị Dư Thị Diễm Buồn từ Sacramento gửi tặng. Quyển sách do nhà xuất bản Tiếng Vang tái bản, in trên giấy quý màu vàng tái của hoa kim liên. Tôi sẽ không nhận xét chi ly tỉ mỉ quyển này trong cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi của chúng ta đâu. Tôi phải để dành nó cho một cuốn bút khảo khác vào một vào dịp khác, cũng vẫn viết về văn chương của các cây bút gốc Nam Kỳ.

    Tôi nhớ mang máng vào năm 1964, 1965 gì đó, các làn sóng dư luận xôn xao về các cuốn tiểu thuyết của các nhà văn Chu Tử, Văn Quang, Thanh Nam, Tuấn Huy và những cuốn võ hiệp tiểu thuyết của Kim Dung chưa lắng dịu hẳn. Thì đùng một cái, những truyện dài đăng từng kỳ của Lê Xuyên đăng trên các nhật báo nổi tiếng ở Thủ Đô Sài Gòn bắt đầu gây một tiếng vang dữ dội. Cho nên trong cuộc viếng thăm nhà văn Võ Phiến, tôi được nghe họ Võ bảo:

    - Viết đối thoại rặt tiếng Nam Kỳ có ai bằng Lê Xuyên đâu.

    Ông Lê Châu, chủ bút kiêm chủ nhiệm tạp san Bách Khoa đã tấm tắc với Thụy Vũ và tôi trong dip tôi theo chị tôi đến tòa soạn Bách Khoa lấy tiền nhuận bút:

    - Lê Xuyên viết đối thoại quyến rũ nhất. Eo ơi, hễ đọc tác phẩm của  ông ấy là như gặp lời ăn tiếng nói mọi tầng lớp người Nam Kỳ.

    Quyển tiểu thuyết của Lê Xuyên mà tôi đọc trước nhất là Vợ Thầy Hương, sau đó mới tới quyển Chú Tư Cầu, và sau hết là quyển Rặng Trâm Bầu. Không khí trong 3 quyển đó căng thẳng, khí hậu ngột ngạt. Nếu không nhờ lối viết đối thoại tinh tế tuyệt vời thì các tác phẩm của anh tuy đạt được phẩm chất nghệ thuật cao nhưng chỉ quyến rũ độc giả một cách chừng mực mà thôi.

    Vào năm 1966, tôi tháp tùng chị Thụy Vũ tôi và ký giả Lê Phương Chi đi xi-nê tại rạp Rex để xem phim gì mà tôi quên tựa mất rồi. Hôm đó Lê Xuyên đi chung với cặp Nhã Ca & Trần Dạ Từ. Từ khi quyển Mèo Đêm  của chị tôi trình làng thì cặp Từ Nhã và chị tôi là chỗ đồng nghiệp quen thân. Lê Xuyên có vóc dáng nho phong, khuôn mặt dịu dàng của một nhà mô phạm, nụ cười hiền lành, nhưng ánh mắt thật linh hoạt. Anh ăn mặc quá đơn giản: quần màu vỏ trái ô-liu đậm, áo sơ mi cụt tay trắng, đôi giày màu sô-cô-la, cườm tay trái đeo đồng hồ. Con người mát lành ngọt dịu như vậy mà văn chương lại cuồng phong bạo vũ đầy dao súng, máu me, ác mộng và tinh khí. Luôn tiện chị Nhã giới thiệu cho chị em tôi biết nhà văn Lê Xuyên. Để tỏ ra thân mật, chị tôi gọi anh bằng chú Tư Cầu. Còn anh gọi chị tôi bằng Mèo Đêm. Nếu gặp những bà nữ sĩ ưa cố chấp như chị Đỗ Phương Khanh (vợ Nhật Tiến) hay chị Thanh Phương thì họ sẽ bắt lỗi anh dám liệt họ vào hạng gái bán snack-bar cho lính Mỹ. Trong Mèo Đêm, Thuỵ Vũ có hai truyện ngắn viết về các cô gái buôn hương bán phấn hoặc gái gọi (call girls) trá hình các cô chiêu đãi viên trong các snack-bar ở Sài Gòn. Và chị ban cho họ cái hỗn danh ”mèo đêm”, tức là những kẻ săn tình vào lúc đêm về. Hôm đó, chị tôi vẫn cười nói vui vẻ với Le Xuyên:

    - Chú Tư, hẹn hôm khác mình gặp nhau, nói chuyện nhiều hơn. Phim sắp chiếu rồi. May quá, hôm nay tình cờ Thụy Vũ mới gặp một chú Tư Cầu bằng xương bằng thịt.

    Anh Lê Xuyên vui vẻ:

    - Hôm khác nghen cô Mèo Đêm.

    Khi xem phim xong, tôi bảo Lê Phương Chi:

    - Ông Lê Xuyên có vẻ hiền lành mà viết văn dữ dằn. Đây là thứ nước trà màu vàng lợt mà là thứ trà quạu… Uống nó vào là chúng ta sẽ mất ngủ vì nó sẽ trở thành trà Thái Đức làm ẩm khách thức đái suốt đêm.

    Trong cuốn 3 của bộ Văn Học Miền Nam, Võ Phiến nhận xét tổng quát về văn chương như sau:

    Trong thời kỳ 1954-1975, các nhà văn gốc Nam khi nói đến chiến tranh trên đất nước thường chỉ nói về cuộc chiến chống Pháp mà tránh cuộc chiến chống cộng. Viết truyện như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, viết ký như Vũ Bình, đều thế. Đến lượt Lê Xuyên, ông cũng thế. Mặt khác, các vị gốc Bắc thì chuyên về cuộc sống và con người đô thị, còn các vị gốc Nam thường viết về nông dân nông thôn. Lê Xuyên cũng thế.

    Chuyện ấy dễ hiểu. Người Nam chưa biết qua chế độ cộng sản thì không mặn nồng với việc chống cộng; người Bắc di cư, bao nhiêu văn nhân, nghệ sĩ trí thức vào Nam đều sống ở đô thị nên chỉ biết viết  về đô thị.

    Như vậy cốt truyện Lê Xuyên, thường xảy ra trong kháng chiến trước Genève, thường diễn ra ở miền quê, nhân vật thường là những nam nữ nông dân chất phác, ít học.

    Lê Xuyên đặt các chuyện trong khung cảnh kháng chiến không phải là để nói về kháng chiến. Không có vậy đâu. Ông không hợp với các vấn đề chính trị. Trong khung cảnh thời đánh nhau với Pháp ông nói chuyện nam nữ yêu nhau thôi. Trong chuyện yêu nhau ông không chú trọng tới lòng thầm kín giấu giếm trong các ngóc ngách của quả tim, như các ông Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng khi viết Tố Tâm, Hồn bướm mơ tiên. Lê Xuyên, ông ấy chủ về phía tình yêu xác thịt theo cung cách hồn nhiên nhất (nhân vật nông dân mà).

    Về chuyện xác thịt, ông không chủ trương những phô bày bạo tợn như D.H. Lawrence, Henry Miller… Lê Xuyên không làm mích lòng sở Kiểm duyệt. Ông chú trọng nhất là ở những màn biểu diễn bằng mồm. Đừng nên lẫn lộn ông Lê với chuyện giữa Clinton và Monica Lewinsky; cái yêu đương bằng mồm của ông Lê tức là những trang đối thoại dài dằng dặc xung quanh mục tiêu chính của ái tình. Khi nam nữ đã dàn binh bố trận xong thì tác giả lánh mặt. Trong những Chú Tư Cầu, Vợ thầy Hương, Rặng trâm bầu, v.v., sự tình rộn ràng ríu rít, đầy lời như thế.

    Vậy Lê Xuyên viết truyện có chiến tranh mà không phải truyện chiến tranh, có nông dân lầm than mà không phải truyện xã hội, có ái tình mà không phải truyện tình cảm. Chẳng qua là chuyện ”gay cấn” để độc giả đọc chơi lúc buồn tình, đọc cho nóng máy trong chốc lát rồi bỏ qua thôi chứ gì.

    (Chương Lê Xuyên, các trang 843, 844)        

    *

    Như bạn biết: theo truyền thống, các cây bút Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta, Lê Xuyên dù không có khuynh hướng tải đạo, nhưng anh thường cho các nhân vật chánh của anh ăn ở theo đạo nghĩa, phô bày tấm lòng nhân hậu, bao dung một cách hồn nhiên, không cố gắng. Trên đất Nam Vang, Tư Cầu chống cự với kẻ mạnh độc dữ để binh vực kẻ yếu hiền lành. Chàng bao dung kẻ thù toan hãm hại chàng  làm cho kẻ thù hồi tâm kính mến chàng. Tư Cầu vốn dốt nát, chỉ biết đọc quọt quẹt năm ba chữ quốc ngữ, nào có biết nhân, nghĩa, lễ, trí tín hay tam cang ngũ thường do ông Khổng Tử bày ra đâu. Anh không đọc kinh Phật bao giờ, nhưng anh không làm ác, không lấy oán trả oán. Vợ anh bị bọn Miên cưỡng hiếp và hạ sát, nhưng khi thấy cô gái Miên bị Ba Kiên, anh trai của chàng toan bề cưỡng dâm chàng phản kháng ngay, không muốn anh mình gây ác nghiệp. Cho nên Ba Kiên phải buông tha cô thiếu nữ Miên. Trong thời kỳ Nhật đảo chánh, có hai tên lính Tây bị chìm tàu tắp vào Rạch Chiếc,  Ba Kiên toan đi báo cho nhà chức trách, nhưng Tư Cầu hợp cùng nhóm người nhân từ đòi phóng thích lính Tây. Khi được Cô Ba Xá Lỵ giúp chàng vượt ngục, chàng nằng nặc cô giúp luôn chú Tám, người bạn tù đã cùng đồng cam cộng khổ với chàng {viết dư chữ “cùng” – TX}.

    Tư Cầu theo toán du kích kháng chiến chống Tây là cảm thấy mình phải làm theo thiên lương soi sáng mình một cách hồn nhiên, không nghĩ xa, không nghĩ gần, cũng không được ai huấn luyện lòng ái quốc thương dân. Do đó, chàng gần ông Thích Ca Cồ Đàm cùng ông LãoTử và ông Trang Tử hơn ông Khổng Tử. Chàng lạc loài với các ông chuộng trí thức Tây Phương cùng dân khoa bảng. Chàng cũng không thể là thần tượng huy hoàng cho các cô ôm lý tưởng môn đăng hộ đối và có thói ưa chuộng phi cao đẳng bất thành phu phụ. Chàng là người tình lý tưởng của các cô gái táo tợn, liều lĩnh, nhưng có thiên lương trong sáng, biết nắm bắt được cái giá trị chân thật của con người, không cần tính toán chi ly, không cần so sánh dài dòng. Hồ Biểu Chánh khi viết văn theo kiểu văn dĩ tải đạo còn dựa theo khuôn nếp, nguyên tắc, lời khuyên răn dạy bảo của các bậc thánh hiền. Lê Xuyên không theo ông hiền triết nào, không nương tựa rêu rao theo khuynh hướng đạo nghĩa nào. Anh viết khơi khơi mà vẫn làm cho độc giả xúc động, yêu mến lớp dân quê hiền lành, lòng ngay dạ thẳng, không có chút ý nghĩ quanh co đo đắn trước những công việc phải làm.

    Lê Xuyên không viết văn dài dòng: không cần tả cảnh, tả người, tả vật, tả tâm tâm trạng, tức là không tả những cái mà giới bình dân cho là lòng vòng không hợp với khiếu thưởng ngoạn của lớp độc giả với lòng dạ rỗng rang, suông thẳng như ống nứa ống tre. Anh thích kể chuyện, ưa cho các nhân vật của mình chuyện trò vòng vo Tam quốc, cằn nhằn dai dẳng, cà khịa rỉ rả, cãi lẫy tưng bừng, có khi chửi bới huyên náo. Anh không cần viết văn đâu. Anh cũng thích kể chuyện lắm đâu. Anh chỉ thích cho các nhân vật của mình có nhiều dịp đối thoại tuồn tuột, ngon ơ. Lời nói của các nhân vật biểu lộ cá tính của các đương sự luôn cả chân dung của họ cùng bối cảnh chung quanh họ hiện mập mờ vài nét tạo hình khái quát, nhưng cũng đủ chạm khắc vào ấn tượng độc giả sành điệu. Trong Chú Tư Cầu, Lê Xuyên dùng ngôn ngữ Nam Kỳ Lục Tỉnh vào thuở tiền chiến, không pha ngôn ngữ của thời Đệ nhất Cộng Hòa hay vào thời Đệ nhị Cộng Hòa. Thí dụ: rắc rối không biết đâu mà rờ (tức là không thể đoán trúng được), làm cho xất bất xang bang (tức làm cho khổ sở điêu đứng), đụng đâu xâu đó (tức là hễ gặp dịp là nắm lấy ngay không cần biết tốt xấu, lợi hại), mấy con nập nợn (tức là mấy cô thiếu nữ dâm đãng lẳng lơ), anh làm cái điệu đó thì mụ nội em cũng lìa (tức là làm cho em điêu đứng, gặp cảnh gia đình ly tán) … Anh không pha thêm những tiếng lóng (les patois) mà người Bắc di cư và người Nam bản xứ pha trộn nhau như: sức mấy, bỏ qua đi Tám, lấy le, thằng cà chớn, oan ôi ông Địa, lạng quạng, mút mùa lệ thủy, đi ăn chè ở Nhà Bè (tức là lén lút đi ngoại tình, cụm từ này lấy sự tích nhạc sĩ Phạm Duy cùng nữ ca sĩ Khánh Ngọc đi Nhà Bè để ngoại tình; nhưng khi bi lính kiểm tục và thừa phát lại bắt đuợc, cả hai khai rằng họ đi Nhà Bè để ăn chè)…

    *

    Ngôn ngữ miền Nam chánh gốc, thuần túy hay ngôn ngữ phối hợp của người Bắc di cư và của người Nam bổn xứ đều quyến rũ như nhau: sống động và gợi cảm gấp đôi ngôn ngữ kiều diễm cao sang trong các tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn vì chúng dễ đi sâu vào tâm hồn dân tộc ở mọi cấp bậc và mọi thành phần trong xã hội. Hồ Biểu Chánh viết văn mà không hề lộn ngôn ngữ Bắc Kỳ. Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam cũng vậy. Nhưng hai anh Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam chỉ thành công về phương diện kỹ thuật viết văn, ở sự diễn tả tình tiết, nhưng ngôn ngữ và cách đối thoại trong văn chương họ không có linh hồn sống động, không có sức hấp dẫn bằng ngôn ngữ trong văn chương và cách đối thoại của Lê Xuyên. Họ Lê chịu khó lắng tai nghe ngôn ngữ trong dân gian, nhất là nơi sinh hoạt của lớp bình dân, lớp người ở cấp bậc thấp nhất trong giới hạ lưu của xã hội. Cái thành công của anh nhất định là phải có. Trong giới điện ảnh của nước Pháp, người viết đối thoại tài hoa lỗi lạc nhất là Michel Audiard. Ông này chịu khó đi tìm ngôn ngữ trong dân gian nên mới chiếm một địa vị cao chót vót trong ngành viết đối thoại như thế.

          Ở Miền Nam Việt Nam của chúng ta, trước năm 1975, những cây viết gốc Nam Kỳ như Ngọc Linh, Sĩ Trung không viết thuần túy văn chương Nam Kỳ. Những đoạn đối thoại dài ngoằng của họ càng làm độc giả bực mình, cho nên tên tuổi họ chỉ đứng bên lề văn học sử. Duy người Bắc như Thanh Tâm Tuyền trong truyện dài Cát Lầy, Viên Linh trong truyện dài Mã Lộ đều viết đối thoại bằng ngôn ngữ Nam Kỳ, đều thành công khả quan.  Nhà văn Võ Phiến gán cho các nhân vật người Nam trong truyện dài Đàn Ông và trong truyện dài Một Mình cái ngôn ngữ Nam Kỳ cực kỳ quyến rũ. Giờ đây, ở hải ngoại, dù là cha Quảng Ngãi (nhà chí sĩ Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy), mẹ Quảng Nam (nữ sĩ Tùng Long), nhưng được sinh trưởng ở Sài Gòn nên nhà văn Nguyễn Đức Lập viết giọng điệu Nam Kỳ cực kỳ duyên dáng bỏ xa các cây bút gốc Nam Kỳ khác. Tuy nhiên, tất cả những nhà văn này làm sao tìm lại cái ngôn ngữ Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh như Lê Xuyên với các ngôn ngữ mà giới phu phen ở đô thị, giới nông dân ở thôn quê, giới thương hồ trên sông nước phù sa thường dùng như: nằm chàng hảng chê hê, chữ nghĩa quọt quẹt, nói tiếng Tây ba xí ba tú, làm chuyện gì cũng ba trật bốn vuột, ai ai cũng hít hà chắc lưỡi khen hay, ăn ở bầy hầy như chồn hôi chó vật…   

    Thôi thì, nhưng kẻ sanh sau đẻ muộn như chúng ta, đã trưởng thành vào 5 năm cuối của thập niên 50, chúng ta có thể chắt mót, lượm lặt ngôn ngữ Nam Kỳ của chúng ta vào thời biển lặng sông trong xa xưa được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Có còn hơn không, phải không bạn?

    Cổ Nguyệt Đường, hè năm Đinh Hợi (2007), Tiết thịnh hạ

    Hồ Trường An

    Trích Quê Nam một cõi

    Nguồn: luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm%2024-4-12.htm

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập35,894,810

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/