Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,517,045

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những bài báo

3 bài viết về nhà thơ Bùi Văn Dung

Nhiều tác giả

  • Chủ nhật, 11:06 Ngày 22/08/2021
  • Người lính thi sĩ phía sau những nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Tuyên

    Bùi Văn Dung (giữa) và vơ chồng NS Phạm Tuyên, 1995.

    ...Ngày ấy, Sài Gòn mới giải phóng. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đến với thành phố thân yêu này. Ông hết sức xúc động khi lần đầu tiên được gặp gỡ những con người phóng khoáng, cởi mở, đặc biệt là những người chiến sĩ trẻ, quê Nam, quê Bắc đang hối hả trên đường đi làm nhiệm vụ…

    Từ nỗi xúc cảm ấy, nhạc sĩ đã ấn tượng ngay với một bài thơ còn tươi nguyên nét mực in trên báo Sài Gòn Giải Phóng:

    Anh ở trong này không có mùa đông

    Nắng vẫn đỏ, mận hồng đào cuối vụ

    Trời Sài Gòn xanh cao như quyến rũ

    Thật lạ kỳ là mùa đông phương Nam

    Nhìn ra ngoài cửa sổ, quả thật trời Sài gòn xanh cao vời vợi, thành phố mới giải phóng tràn trề ánh nắng. Cũng qua ô cửa sổ đó, nhạc sĩ trìu mến nhìn những người chiến sĩ trẻ quân phục xanh, ba lô con cóc khoác sau lưng đang hối hả đi giữa Sài Gòn với những niềm vui căng tràn trên gương mặt, ánh mắt, nụ cười, nhưng có lẽ cũng đang thương nhớ quê hương miền Bắc đã xa cách bao năm để vượt Trường Sơn đi chiến đấu...

    Muốn gửi ra em một chút nắng hồng

    Thương cái rét của thợ cày thợ cấy

    Nên vẫn muốn chia nắng đều cho ngoài ấy

    Có tình thương tha thiết ở trong này…

    Bài thơ như một sự đồng tình, đồng điệu với tâm hồn người nghệ sĩ. Ông thấy xúc cảm trào dâng, và liền trong đêm ấy, nhạc sĩ đã thao thức phổ nhạc, trở thành bài hát "Gửi nắng cho em" nổi tiếng sau này. Và tên nhạc sĩ lần đầu gắn với tên một nhà thơ trẻ: Bùi Văn Dung, dù nhạc sĩ cũng chỉ biết đó là tên tác giả của bài thơ chứ không biết gì hơn về người đã sáng tác ra nó…

     

    Bài hát được thu thanh, được phát rộng rãi nhiều lần theo yêu cầu của bạn yêu âm nhạc Đài Phát thanh. Nhạc sĩ nhận được nhiều thư khen ngợi của công chúng. Nhưng có một lá thư đặc biệt làm ông xúc động: Ấy là thư của Bùi Văn Dung, tác giả bài thơ, được gửi về từ một chiến hào biên giới Tây Nam. Nhạc sĩ không ngờ rằng, nhà thơ ấy lại là một chiến sĩ đang cầm súng. Và trong lá thư gửi về cho ông, anh chỉ dám bày tỏ một nguyện vọng nho nhỏ: Nhờ nhạc sĩ can thiệp để vào một ngày, bài hát được phát lại trên sóng đài cho anh và đồng đội nơi mặt trận cùng đón nghe…

    ...Một thời gian sau, tại nhà riêng của nhạc sĩ Phạm Tuyên giữa lòng Hà Nội, có một chiến sĩ rụt rè gõ cửa. Nhạc sĩ đã hết sức vui mừng vì đó chính là người lính, tác giả thơ trẻ Bùi Văn Dung - sau nhiều năm tháng đi chiến đấu ở phương Nam, nay được về thăm gia đình. Đêm ấy, nhạc sĩ đã giữ BùiVăn Dung ở lại, hàn huyên cùng anh bao điều về miền Nam sông nước, về nghệ thuật thi ca và về cuộc đời người lính... Khi ấy nhạc sĩ mới hay Dung nhập ngũ từ một làng quê Bắc Bộ, từ năm 1967 đã vào Nam chiến đấu, suốt những năm tháng thanh xuân gắn bó với chiến trường miền Nam, với miền sông nước Nam bộ, với mảnh đất chỉ có hai mùa mưa nắng và kể như không bao giờ biết đến mùa đông…

    Cũng chính ở đây, trong mênh mang tiếng sông nước Cửu Long, hồn thơ trong Dung nảy nở, để rồi có một buổi trưa giữa Sài Gòn chang chói, chợt nghe đài báo miền Bắc đang mùa gió lạnh, bỗng nhớ da diết người vợ hiền bao năm cách xa mà viết nên lời…

    Sớm hôm sau, trước khi chia tay, người chiến sĩ gửi gắm cho nhạc sĩ: "Sắp tới đây đơn vị em lại đi chiến đấu xa hơn anh Tuyên ạ, cũng chẳng biết sống chết thế nào… Những năm tháng qua cầm súng, em có viết được ít bài thơ, em muốn anh đọc giùm và lưu giữ giúp em...".

    Nhạc sĩ Phạm Tuyên đón nhận cuốn sổ lưu giữ những vần thơ của người lính trẻ Bùi Văn Dung còn thoảng mùi khói súng, vừa thấy thiêng liêng vừa thấy nôn nao. Ông ôm người chiến sĩ vào lòng: "Thôi em đi, chân cứng đá mềm Dung nhé…".

    Năm 1978, nhạc sĩ lại vào công tác ở miền Nam. Lòng ông hướng về những đoàn Thanh niên xung phong của TP Hồ Chí Minh đang rộn rã khơi kênh, đào mương trên những mảnh đất khô cằn. Hơn lúc nào hết, những vần thơ của Dung gửi cho ông ngày ấy lại trỗi dậy, trong đó có một bài thơ mà từ chiến hào, người chiến sĩ trẻ đã mở lòng đến với những dòng kênh:

    Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua

    Chỉ có nắng mùa hè cháy bỏng

    Mồ hôi muối lưng áo em bạc trắng

    Con kênh ta đào chưa là con kênh xanh

    Trong một đêm lửa trại với các chiến sĩ Thanh niên xung phong, nhạc sĩ đã mang bài thơ này ra đọc, và được các bạn trẻ ở đây rất yêu thích. Có nhiều người còn chép cả vào sổ tay. Đêm sau, khi nhạc sĩ phổ xong thành bài hát, ông ôm ghi-ta bập bùng hát cho anh chị em nghe, tác phẩm lại càng được nhiệt liệt hoan nghênh. Và rồi những chàng trai, cô gái "Mồ hôi muối lưng áo em bạc trắng" này chính là những tâm hồn đầu tiên chắp cánh cho bài hát bay xa.

    Và bay xa hơn, tên người nhạc sĩ và chiến sĩ thêm gắn bó…

    Tác giả Bùi Văn Dung chăm sóc cây cảnh tại nhà riêng.

    ...Thời gian trôi đi. Một mặt trận mới lại mở ra nơi những cánh rừng phía Bắc. Có một đêm nơi biên giới, trong lờ mờ ánh trăng non đầu tháng, đang hành quân cùng những đoàn quân ra trận, nhạc sĩ bỗng nghe tiếng gọi: "Anh Tuyên". Một chiến sĩ chạy tới ôm chầm lấy ông: "Em đây, Dung đây. Đơn vị em vừa cấp tốc hành quân từ phía Nam ra"… Nhạc sĩ ôm chặt hơn người chiến sĩ, xúc động vì những năm tháng xa cách: "Thế Dung đã nghe "Con kênh ta đào" chưa?". "Có anh ạ. Cảm ơn anh rất nhiều". "Thế với sự kiện này, Dung có thơ mới không?". Dung lại bỗng trở nên bẽn lẽn: "Em có viết được một bài. Anh đọc xem nhé". Người chiến sĩ trao vội bài thơ, xiết chặt tay nhạc sĩ một lần nữa, rồi hối hả chạy theo đơn vị về phía trước…

    Đấy là một bài thơ tình của người lính, thổ lộ một tình yêu thầm kín, thiết tha: "Anh yêu em suốt đời/ Bằng tình yêu không nói"… Và: "Chiến tranh dài lắm đấy/Chờ anh nhiều như vậy/Mùa xuân nào chịu yên?".

    Bởi lẽ:

    Anh sẽ còn phải đi

    Những phương trời bão nổi

    Lại một kẻ thù mới

    Hằm hè chốn biên cương…

    Nhưng tuy vậy, trái tim người lính bao giờ cũng lạc quan, hy vọng:

    Hai phương trời đầy nắng

    Chờ anh về nghe em…

    Bài thơ lại theo nhạc sĩ đi suốt chặng đường. Lòng ông biết bao xúc động. Ông như nghe rõ tiếng trái tim đập của người lính trẻ Bùi Văn Dung, của những người lính.Và bỗng trong ông, những nét nhạc bay lên. Có lãng mạn quá không nhỉ? Ông bỗng tự hỏi mình. Và rồi tự trả lời: Chúng ta đã có rất nhiều hành khúc, nhưng với người lính nói riêng, với đất nước nói chung, không chỉ là hùng ca mà còn cần cả tình ca nữa. Có phải thế không nhỉ?

    …Những lời thơ của người chiến sĩ vẫn cuốn ông đi. Thế rồi trong tiếng súng biên giới, "Tình ca của người chiến sĩ" ra đời. Nhân một lần ngồi tâm sự với những tướng lĩnh chỉ huy mặt trận, nhạc sĩ đã mạnh dạn hát. Những mái đầu bạc nghe xong đồng gật gù: "Rất tốt ông Tuyên ạ. Người chiến sĩ của chúng ta cũng rất cần những tình ca như vậy".

    Với sự đồng tình ấy, nhạc sĩ đã băng ngay về phía Bùi Văn Dung và đồng đội của anh, để hát cho họ nghe ngay giữa hai đợt súng nổ…

    Trung tá Bùi Văn Dung quê ở xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông là hội viên Hội Văn học, Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc. Bùi Văn Dung đến với thơ ca như duyên trời định. Năm 1962, ông tình nguyện nhập ngũ rồi trở thành lính pháo binh. Năm 1967, khi đang làm Chính trị viên đại đội, ông được điều động vào miền Nam rồi chiến đấu liên tục đến ngày thống nhất đất nước. Năm 1978 khi mặt trận biên giới phía Tây Nam nóng bỏng, Thượng úy Bùi Văn Dung được điều động tăng cường lên mặt trận này. Năm 1979 ông lại được điều động lên mặt trận biên giới phía Bắc… Dấu chân của ông đã từng in ở khắp các chiến trường như: Kon Tum, Tây Ninh, Quảng Trị 81 ngày đêm rực lửa (1972), Sài Gòn tháng tư 1975, biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc…

    Cùng ông xem lại một số tờ báo như: Sài Gòn Giải phóng, Nội san Tuổi trẻ (tiền thân của Báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) ra những ngày cuối năm 1975, đầu năm 1976, chúng tôi thấy có khá nhiều bài thơ của tác giả ký tên: B Văn Dung. Thơ của ông dung dị mà lại trữ tình, khoáng đạt. Bài thơ "Gửi nắng cho em" của ông chính thức xuất hiện trên tờ Sài Gòn Giải phóng vào giữa tháng 12-1975 với những lời thơ mộc mạc, da diết. Sau này, suốt một thời gian dài kiếm tìm và thư từ, nhạc sĩ Phạm Tuyên và nhà thơ Bùi Văn Dung đã gặp được nhau và trở thành chỗ thân tình, gắn bó.

    Mỗi khi có dịp về Hà Nội, nhà thơ lại thu xếp thời gian đến thăm nhạc sĩ Phạm Tuyên, đó là sự tri ân, tri kỷ, sự tiếp sức cho quá trình lao động nghệ thuật của mỗi người. Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, phải là một người gắn bó với đồng đất miền Bắc lắm mới có thể viết nên những ca từ đẹp như bài thơ "Gửi nắng cho em". Bài hát được Phạm Tuyên viết rất nhanh và được hầu hết các ca sĩ giai đoạn đó thể hiện.

    Một điều tình cờ thú vị là từ năm 1976 đến năm 1980, trong nhiều bài hát mà nhạc sĩ Phạm Tuyên viết và phổ thơ thì có đến 6 bài hát phổ thơ Bùi Văn Dung. Những bài hát về sau khiến hai người càng có mối quan hệ chặt chẽ hơn. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Bùi Văn Dung nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Sau đó, ông được mời ra làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh rồi đảm nhiệm hết hai nhiệm kỳ Bí thư Đảng ủy xã Thượng Trưng. Giờ đây, khi đã về với đời thường, tâm hồn người nghệ sĩ mới có nhiều thời gian để chắt chiu, bộc bạch cảm xúc của mình dành cho thơ, cho con cháu. -  Quý Ban

    07/10/2015

    Châu La Việt

    Nhà thơ Bùi Văn Dung

    Bùi Văn Dung (trái) và Cao Ngọc Thắng.

    Sau ngày đất nước thống nhất, Bùi Văn Dung từ thành phố mang tên Bác lại ba lô, dép lốp lên chiến trường biên giới phía Bắc. Thời lính chinh chiến ngược xuôi giữa bom rơi đạn nổ, Bùi Văn Dung không chỉ cầm súng. Ở ông còn có loại vũ khí mạnh hơn: nguồn thơ và tình thơ.

    “Em hãy làm cây thông xanh nghe em”

    (Về một nhà thơ ở Vĩnh Tường)

       Sau ngày đất nước thống nhất, Bùi Văn Dung từ thành phố mang tên Bác lại ba lô, dép lốp lên chiến trường biên giới phía Bắc. Thời lính chinh chiến ngược xuôi giữa bom rơi đạn nổ, Bùi Văn Dung không chỉ cầm súng. Ở ông còn có loại vũ khí mạnh hơn: nguồn thơ và tình thơ.

       Bùi Văn Dung viết: “Tôi lý giải chiến tranh/ Thay cho chiến thuật vũ khí” (Tiểu tựa cho… “ Nhìn ngoài đôi mắt”). Lý giải là công việc không phải nói mà làm được, không phải bất kỳ ai cũng làm được; nói chung là vậy, huống hồ lý giải chiến tranh. Chiến tranh, bên cạnh cảnh chết chóc tang thương, chia lìa đau khổ, còn là chiến lược và chiến thuật, còn là tư tưởng và nghệ thuật. Sự hy sinh đổ máu có thể chia cho các bên tham chiến, kể cả người trực tiếp cầm súng và cộng đồng ở sau; vì thế, dù thắng hay bại thì nhân dân của các bên  đều chịu những tổn thất to lớn, lâu dài về vật chất và tinh thần do hậu quả và di chứng nặng nề từ chiến tranh đem lại. Nhưng tư tưởng và nghệ thuật chiến tranh không vậy. Nó có ranh giới rõ ràng giữa bên xâm lược và bên bị xâm lược. Nó không có cùng mẫu số  về sức mạnh vũ khí và tiềm lực kinh tế. Ở các nước đế quốc, trong và sau chiến tranh xâm lược, có hay không xuất hiện nền nghệ thuật, trong đó có văn chương, đặc biệt là thi ca trực tiếp động viên, ngợi ca lính tráng của mình như ở các dân tộc phải tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước đầy gian khổ, hy sinh. Chắc chắn không có! Bởi, xâm lược để chiếm đoạt không phải là truyền thống, mà chỉ là âm mưu, dã tâm của bộ phận nắm quyền-tiền lũng đoạn, áp đặt bằng những thủ đoạn khác nhau, nên không thể là thành tố của văn hóa. Văn hóa, mà ý chí, tinh thần yêu chuộng hòa bình, độc lập tự do là cốt cách, nhân phẩm, luôn luôn thường trực trong lòng cộng đồng dân tộc, mới là nhân tố quyết định tư tưởng đúng hay sai để đi đến thắng hay bại trong chiến tranh. Vậy, độ lùi sau mỗi cuộc chiến tranh vệ quốc không được phép đánh đồng giữa thắng và bại, cũng không được quyền tước đoạt những giá trị văn hóa truyền thống và giá trị văn hóa mới nảy nở. Văn học và nghệ thuật kháng chiến chống thực dân Pháp và chiến tranh chống đế quốc Mỹ trở thành một bộ phận không thể tách rời truyền thống lịch sử và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam có bề dày hàng nghìn năm.

       Trong bài thơ “Vợ tôi”, viết năm 1998, Bùi Văn Dung không sao tránh được hồi tưởng: “Binh lửa một thời rải đều khắp đất đai/ Hồi ấy, chia tiền tuyến-hậu phương chỉ là khái niệm”. Ý thơ của ông là một thực tế hiển nhiên. Cả nước có chiến tranh thì trai tráng trực tiếp xông pha chiến trường, người già, phụ nữ, trẻ em ở nhà cũng đội bom cày cấy, học hành, cũng cầm súng hoặc phục vụ chiến sự. Truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “tuổi nhỏ làm việc nhỏ” không bao giờ ngừng bừng sáng trong tâm thức người Việt Nam. Vượt lên hồi tưởng, ông viết: “Biết mấy lần em vui vẻ tiễn đưa tôi/ Đất nước mình mấy nghìn năm đưa tiễn/ Người đẹp nhất nước mình là người hôm qua ra tiền tuyến/ Người đáng quý nhất nước mình là các bà mẹ sinh cho non sông những thế hệ anh hùng” (Viết sau chiến tranh). Thực ra, khi ông viết những dòng này (năm 1978) chiến tranh chưa dứt trên Tổ quốc đau thương. Không lâu sau đó (1979) ông có mặt ở biên giới phía Bắc và viết bài thơ “Giá em đừng yêu anh” – một bài thơ đầy tâm trạng với những câu thơ da diết: “Đừng yêu anh làm gì/ Chiến chinh dài lắm đấy/ Đợi anh nhiều như vậy/ Mùa xuân nào chịu yên”. Đó là lời chân thành xuất phát từ tấm lòng nhân hậu của người thơ-chiến sỹ trước thực tế chia ly, những mong người tình của mình nhẹ gánh khắc khoải đợi chờ, vì “Anh sẽ còn phải đi/ Những chân trời bão nổi/ Lại một kẻ thù mới/ Hầm hè nơi biên cương”. Nhưng rồi người thơ không cưỡng nổi: “Nước mắt thương đồng chí/ Nâng cuộc đời anh lên// Giờ có thể yêu em/ Rất công bằng sòng phẳng/ Hai phương trời đầy nắng/ Đợi anh về nghe em”. Bài thơ đọc lên có âm hưởng da diết dội về từ bài thơ nổi tiếng “Em ơi, đợi anh về” của nhà thơ Xô viết Si-mô-nốp: “Anh biết anh không chết/ Đâu phải lẽ tình cờ/ Chỉ có em tha thiết/ Dẫu dòng lệ cạn khô/ Em của anh biết chờ/ Không như ai, chẳng đợi” (bản dịch của Nguyễn Tất San và Nguyễn Tất Thịnh từ nguyên bản tiếng Nga). Bài thơ của Bùi Văn Dung ngay sau khi ra đời đã được nhạc sỹ Phạm Tuyên phổ nhạc trong chuyến đi công tác biên giới phía Bắc. Nhạc sỹ Phạm Tuyên tâm sự: khi dựng xong, bài hát “Giá em đừng yêu anh” không được phổ biến vì “những câu thơ da diết” gây sốc một số chính trị viên, nhưng lại được không ít ca sỹ muốn thể hiện. NSND Lê Dung xin ý kiến và được Bộ VH-TT cho phép phổ biến bài hát trong một chuyến lưu diễn tại Pháp. Ca sỹ Ngọc Tân là người đầu tiên thu thanh bài hát này cùng bài “Gửi nắng cho em” (thơ Bùi Văn Dung, nhạc Phạm Tuyên) trong một băng ca nhạc của riêng mình.

       Bằng thơ, Bùi Văn Dung lý giải chiến tranh theo cách riêng mà tương đồng với mục đích chung của văn học nghệ thuật: phản ánh chân thực, khách quan nỗi niềm sâu kín của con người để “nhìn thấy”, cảm được những giá trị đích thực của cuộc sống, của cái đẹp nhân sinh mà mỗi con người ấp ủ và biểu hiện dưới nhiều cung bậc tình cảm, ý thức khác nhau. Tâm trạng con người trong chiến tranh không hề phức tạp hơn tâm trạng con người trong cuộc sống thường nhật, cũng đều mang những thuộc tính yêu-ghét, vui-buồn, giận hờn-căm thù, cùng những thói xấu, hành vi không lành mạnh; khác chăng ở chỗ, trong cuộc đối đầu với súng đạn, với sự sống còn của dân tộc, con người cá nhân biết hy sinh lợi ích riêng tư, song không vì vậy mà thả trôi cái bản thể vốn có. Với mẹ, ông thấy mình chưa tròn bổn phận làm con: “Con xa nhà đã mấy chục năm nay/ Đỡ đần mẹ một ngày đông ngắn thế/ Mới biết mình những tháng ngày dâu bể/ Đã sánh gì với mẹ những mùa đông” và với nơi chôn nhau cắt rốn, với người vợ tảo tần: “Làng quê mình vất vả những vụ chiêm/ Được hạt thóc cũng ba chìm bảy nổi/ Xuân đến cổng, còn em thì lại vội/ Chẳng lúc nào dịu bớt nỗi lo toan” (Ngày đại hàn). Nỗi thương, nỗi nhớ của người lính ngoài chiến trận và khi trở về mái ấm bình yên khác nhau ở cung bậc của tâm trạng. Xa xôi cách trở thì ngổn ngang lo lắng, mỏi mong giữa từng trận đánh: “Thời gian như nhịp bập bênh/ Mình em một phía – nhẹ tênh lại chờ”; thì giờ đây từng ngày từng giờ dằn vặt trước sự trôi đi về cằn cỗi, già nua của những người thân yêu, và cả bản thân mình, không sao níu kéo: “Thả mây cho gió mang đi/ Định nói với cỏ câu gì – lại thôi” (Không định viết II). Định thôi không nói nhưng chẳng thể đừng: “Khi biết yêu em thì đã già rồi” (Vợ tôi), hoặc tự ru mình trước “ngưỡng cửa” Nàng Thơ: “Thôi đành vậy. Tôi tự nguyện làm hạt cỏ gà mọc ngoài lãnh địa/ Làm láng giềng của vùng đất đắng phù sa” (Đến muộn). Cũng vậy, cái tình của người lính với nhau là cảm thông, là nhận thức: “Xuân Trường Sơn đỏng đảnh nét hoang sơ/ Chỉ có lính và rừng khát vọng/ Em và hoa suốt đời tôi trân trọng/ Để vượt qua nghiệt ngã chiến tranh này” (Mùa xuân ở Trường Sơn). Nét đẹp người lính trong chiến tranh là sự trân trọng – trân trọng tình yêu, đối với con người và thiên nhiên, do đó luôn đầy tràn khát vọng. Những người nằm xuống không uổng phí, bởi bao người được tiếp tục trân trọng tình yêu thiêng liêng, biến khát vọng thành hiện thực ấm no, hạnh phúc mà chiến tranh đã từng chôn vùi, hủy hoại. “Biết tặng gì mỗi bận qua chơi/ Chiếc vỏ đạn làm bình hoa kỷ niệm/ Vào mùa mưa hoa phong lan lại hiếm/ Biết em vui nên rừng tỏa hương thầm” (Thanh niên xung phong ở biên giới). Những câu thơ dung dị, chân thật này càng tôn lên vẻ đẹp của trân trọng và khát khao bộc lộ nơi những người chằm mình ở mặt trận. Gặp lại đồng đội sau chiến tranh, tình của người lính-người thơ rối bời: “Xin đời để bạn tôi hôn/ Hai cùi tay chẳng đủ ôm người tình/ Chiếc giường đôi lứa lặng thinh/ Chiến tranh như vẫn rập rình nơi đây”, và “Tiếc mình còn đủ đôi tay/ Mà sao vẫn phải mượn vay cuộc đời” (Đêm ở nhà đồng đội). 

       Viết về chiến tranh, những câu thơ của Bùi Văn Dung xoáy vào chiều sâu tâm trạng, mặc dù cả bài thơ nhiều khi không chụm vào mạch chính. Song, ông là tác giả thơ được phổ nhạc khá nhiều: “Gửi nắng cho em”, “Con kênh ta đào”, Giá em đừng yêu anh”, Biên giới này là Tổ quốc”, “Đảng gọi rồi chúng tôi xin có mặt”, Chào Tổ quốc từ đỉnh cao chiến thắng” (nhạc Phạm Tuyên) và “Trăng nguyên” (nhạc Huy Thục). Nhạc sỹ Phạm Tuyên, người phổ nhạc liên tục sáu bài thơ của Bùi Văn Dung, không nói về mối quan hệ giữa nhạc và thơ trong lĩnh vực ca khúc, mà “chỉ nghiệm thấy rằng bài hát phải là một chỉnh thể có sự đồng điệu trong cảm xúc của cả hai tác giả thơ và nhạc… Một bài thơ hay và sâu sắc chưa chắc đã là một bài hát hay khi được phổ nhạc, nhưng một ca khúc hay thì ca từ phải là một bài thơ có hình ảnh và nội dung tình cảm phù hợp nhất”.

       Ở bài thơ “Gửi nắng cho em” dường như Bùi Văn Dung gửi gắm một cách phức hợp việc lý giải chiến tranh và lý giải cuộc đời (cũng trong bài “Tiểu tựa cho… Nhìn ngoài đôi mắt”, ông viết: Và gần hơn một tí/ Tôi lý giải cuộc đời). Bài thơ “Gửi nắng cho em” xuất hiện trên báo Sài Gòn giải phóng vào cuối năm 1975. Người chiến sỹ-thi sỹ “Muốn gửi ra em một ít nắng vàng/ Nghe đài báo rét kéo dài ngoài ấy/ Mùa đã xong, còn chiêm xuân cày cấy/ Bà con mình sẽ xoay sở ra sao?”. Thật là trằn trọc – nỗi suy tư của một người nông dân vùng trung du miền Bắc mặc áo lính (quê Bùi Văn Dung ở xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). “Khi hai miền cùng vào một vụ chiêm/ Hai vựa thóc cùng nặng tình của đất/ Cùng vào mùa một ngày vui thống nhất/ Hơn lúc nào anh hiểu thấu lòng em”. Vì hiểu thấu lòng em và “Thương cái rét của thợ cày thợ cấy/ Nên cứ muốn chia nắng đều cho ngoài ấy”. Chiến tranh là chia ly, nhưng vẫn chung cuộc đời. Con người, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở bất cứ nơi đâu, vẫn hướng về quê nhà thao thức, ngóng trông. Tình thương-yêu rất cụ thể, không hào nhoáng, không nệ vật chất. Chia đều nắng là chia đều niềm vui, chia đều chiến thắng, cũng là chia sẻ những năm tháng “chăn đơn gối chiếc” nghiêng nỗi mỏi mòn vời vợi trong hy vọng mỏng manh. Vì, không có em, không có tình em, cũng là tình của quê hương, thì sao anh vượt qua được khói lửa chiến tranh. Một nửa thắng lợi là ở nơi quê nhà nâng đỡ; cuộc đời trọn vẹn là mỗi người phải có, nhất định phải có một nửa yêu thương: “Nhìn từ phía nào đây/ Bên lên hay bên lặn/ Hai phần nửa đời mình/ Mới thành trăng đầy đặn” (Trăng nguyên). Tứ thơ ấy chuyển hóa tư duy thơ Bùi Văn Dung và đọng lại ở một câu xuất thần trong bài “Gửi nắng cho em” và có lẽ khi đặt bút viết câu thơ: “Em hãy làm cây thông xanh nghe em”, Bùi Văn Dung không ngờ rằng ông là người đầu tiên đưa vào thi ca hình tượng đẹp của người phụ nữ Việt Nam đến đỉnh cao – cây thông, ngang với vị thế đấng quân tử, điều mà các bậc nho sỹ trước đây và thi nhân đương thời chưa hề nói tới. Dù chủ đích hay không, thì hình ảnh “em-cây thông” đã hiện lên văn bản, đã “buột” khỏi tầm kiểm soát và không còn là của riêng tác giả nữa, nó có đời sống độc lập trong lòng người yêu thơ-yêu nhạc. Vị thế “em-cây thông” không vấp phải sự chối từ, bởi người phụ nữ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã được giải phóng, có quyền tham gia và tham gia đạt hiệu quả trên mọi lĩnh vực hoạt động, đặc biệt xuất sắc trong hoàn cảnh chiến tranh. Và, ngay sau chiến tranh, người phụ nữ tiếp tục thể hiện vị thế “em-cây thông”: “Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua/ Chỉ có nắng mùa hè nóng bỏng/ Mồ hôi muối lưng áo em bạc trắng/ Con kênh bây giờ chưa là con kênh xanh// Con kênh ta đào có em, có anh…” (Con kênh ta đào). Con kênh đang đào chưa có nước và chưa xanh, thì sẽ đến ngày nó đưa nước về tưới mát và đồng bãi cho mùa bội thu, mồ hôi của em (và của anh) chẳng phí hoài đã đổ. Niềm tin và yêu ấy, về “em-cây thông” cho nhà thơ niềm hy vọng: “Ta về miền quê ở đó có em/ Đô thị hóa đứng ngoài hàng rào dâm bụt/ Bát riêu cua hăng mùi rau rút/ Đó là miền vô nhiễm của đôi ta” (Vô nhiễm).

       Mỗi lần đọc lại hai tập thơ (đã xuất bản) “Gửi nắng cho em” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2002) và “Nhìn ngoài đôi mắt” (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2010) của Bùi Văn Dung, là mỗi lần tôi “nhặt” thêm được những câu thơ lý giải chiến tranh và lý giải cuộc đời sâu sắc cả ý cả tình của ông. Và, gần đây tôi “chợt” thức nhận vẻ đẹp đằm thắm của câu thơ: “Em hãy làm cây thông xanh nghe em” – một lời đề nghị, tôn vinh hơn là ước vọng của một người thơ xuất thân từ thợ cày từng mặc áo lính!

    Những ngày rét-ấm cuối năm Giáp Ngọ

    Cao Ngọc Thắng

     

    Đời thơ trong sắc hoa vườn nhà

    Bùi Văn Dung và vợ trong vườn nhà.

    Sớm đầu xuân, ngắm hoa trái vườn nhà, ông Bùi Văn Dung-tác giả lời thơ ca khúc "Gửi nắng cho em" nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Tuyên, ở xóm Chợ, xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, lại trào dâng nguồn cảm xúc bất tận. Ông thấy viên mãn khi nghĩ tới đây mình sẽ được con cháu chúc thọ 75 tuổi vào đúng ngày Tết Nguyên tiêu...

    Không hẹn nhưng ông Bùi Văn Dung đã đón tôi như đón bạn thân vào ngắm sắc hoa vườn nhà. Sau khi giới thiệu về những luống thược dược được ông trồng quanh cây mít, ông hào hứng kể: "Đầu năm 1962, mình tình nguyện nhập ngũ và trở thành bộ đội pháo binh. Phấn đấu đến khi là chính trị viên đại đội thì mình được trên điều vào chiến trường miền Nam đánh giặc tới ngày đất nước thống nhất. Bây giờ, nếu ai đọc lại Nội san Tuổi Trẻ, tiền thân Báo Tuổi Trẻ ngày nay, sẽ thấy nhiều bài thơ ký tên tác giả B Văn Dung. Khi ấy rất ít đồng đội trong đơn vị biết mình có thơ đăng báo liên tục. Còn ở quê nhà Thượng Trưng thuở đó, họ hàng nội, ngoại cũng không ngờ mình lại có khiếu làm thơ như thế. Thơ mình viết tự nhiên theo cảm xúc thật với đủ cung bậc tình cảm, khen, chê, châm biếm nhẹ nhàng. Đặc biệt, vào đúng dịp đầu xuân 1976, thật bất ngờ trên Báo Sài Gòn Giải Phóng đăng bài thơ "Gửi nắng cho em" của mình:

          Anh ở trong này chưa thấy mùa đông

          Nắng vẫn đỏ, mận hồng đào cuối vụ

          Trời Sài Gòn xanh cao như quyến rũ

          Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam

          Muốn gửi ra em một chút nắng vàng

          Thương cái rét của thợ cày, thợ cấy

          Nên cứ muốn chia nắng đều cho ngoài ấy

          Có tình thương tha thiết ở trong này…".

    Quả thật, qua tìm hiểu tôi được biết, cái không khí ấm áp, tươi vui mừng chiến thắng của quân và dân miền Nam trong ngày đầu xuân trở thành chất xúc tác diệu kỳ cho Bùi Văn Dung thăng hoa, rồi sáng tác bài thơ "Gửi nắng cho em". Tác phẩm này ra đời được đúng một năm thì vào một buổi chiều, có đồng đội cùng đơn vị bất ngờ vỗ vai nhắc: “Ơ! Bài thơ của cậu được phổ nhạc, đang phát trên loa truyền thanh kìa!”. Lắng tai nghe, Bùi Văn Dung vui mừng khôn xiết và không ngờ bài thơ này được nhạc sĩ Phạm Tuyên phổ thành ca khúc cùng tên. Nhưng tận đến mùa đông năm 1981, Bùi Văn Dung mới ra Hà Nội tìm gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên. Đây là cuộc hội ngộ đầu tiên của tác giả thơ và nhạc sau nhiều năm ca khúc “Gửi nắng cho em” được phổ biến rộng rãi. Ông Dung kể cho tôi nghe sự kiện đáng nhớ này: “Khi đón mình đến thăm nhà, nhạc sĩ Phạm Tuyên rất vui mừng vì ông cứ nghĩ bộ đội Dung phải là nhà thơ có tiếng trong TP Hồ Chí Minh. Rồi nhạc sĩ nhìn mình thở dài, nói: "Bài "Gửi nắng cho em" vừa mới bị tạm ngưng phổ biến, Dung có biết lý do gì không?". Mình đáp lời: "Em có nghe. Khổ quá, em viết thật lòng vì em thương vợ em, thương những thợ cày, thợ cấy rét mướt ở ngoài hậu phương miền Bắc mà". Nghe mình nói xong, nhạc sĩ Phạm Tuyên lẳng lặng vào lục tủ đưa ra cho mình xem một tập đơn thư dày cộp yêu cầu Đài Tiếng nói Việt Nam ngưng phát bài hát "Gửi nắng cho em" với những lý do đại loại như: “… Sài Gòn là nơi hơn 30 năm bị đế quốc Mỹ và tay sai cai trị, vừa giải phóng lại “gửi nắng” ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa là sao? “Nắng” là gì, là ánh sáng. Sao lại có chuyện ánh sáng được gửi từ nơi đã từng coi là vùng kẻ thù chiếm đóng tăm tối một thời ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa!”...

     

    Được biết, Bùi Văn Dung cũng là tác giả lời thơ ca khúc “Con kênh ta đào" nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Giai điệu bài hát lần đầu tiên do hai nghệ sĩ Ngọc Tân và Thanh Hoa thể hiện đã đem đến cho khán, thính giả không khí thi đua lao động đầy hứng khởi dựng xây đất nước sau chiến tranh. Chưa dừng lại ở đó, bài thơ "Trăng nguyên" của Bùi Văn Dung cũng có duyên với nhạc sĩ Huy Thục, tác giả của các ca khúc: "Đợi", "Trăng khuyết"... Nhạc sĩ phát hiện thấy ở thi phẩm này có nhiều tứ mang tính hoài vọng. Trăng lưỡi liềm hay trăng khuyết đều là một hiện tượng tự nhiên mà mắt người bình thường vẫn nhìn thấy trên bầu trời đêm. Nhưng với con mắt của nghệ sĩ thì có sự tinh tế riêng nên vào một đêm xuân lồng lộng không ngủ, ông Dung đã ngắm trăng mà luyến tiếc...

    Nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, ông Dung mới về quê được 3 tháng thì đúng vào sớm đầu xuân năm 1987, lãnh đạo xã Thượng Trưng đến tận nhà mời ông tham gia công tác Hội Cựu chiến binh xã. Vùng quê trung du này những năm đầu đất nước đổi mới bộn bề công việc, nhiều hợp tác xã kiểu cũ đã tan vỡ hoặc tự giải thể do lối làm ăn thụ động, thua lỗ, kém năng suất. Chính vì vậy mà ông Dung đang là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã thì được tín nhiệm bầu kiêm luôn hai nhiệm kỳ Bí thư Đảng ủy xã nhà. Còn bây giờ khi đã trao lại trọng trách cho thế hệ sau, ông về với cuộc sống thường nhật của một lão nông thực thụ, sớm hôm với ruộng đồng để mỗi khi Tết đến, xuân sang, ông lại trào dâng cảm xúc, làm thơ tặng vợ mình là bà Kim Thị Yến.

    Tô Văn Binh

    sknc.qdnd.vn/ 11/02/2019

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,517,045

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/