Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,517,006

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

2 bài viết về Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ của Nguyễn Thị Minh Thái

Nguyễn Thị Minh Thái

  • Chủ nhật, 07:51 Ngày 08/08/2021
  • Xuân Quỳnh, một giọng thơ tình ám ảnh

    33 năm ngày Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh đi xa, tôi gửi bài viết này như một nén tâm nhang tưởng nhớ...

    Tôi hoàn toàn không biết tí gì về Xuân Quỳnh, cho đến một hôm, hồi còn bé, lục lọi trong đống giấy tờ của bố, tìm cái gì đó để đọc chơi, tôi bỗng thấy mấy tờ giấy pelure trắng mỏng, đã ngả vàng, trên đó chép tay những khổ thơ bằng mực xanh, để tặng bố tôi, trong dịp bố tôi cùng Đoàn Ca nhạc Đài TNVN ra biểu diễn ở Vĩnh Linh, trên vĩ tuyến 17, cạnh con sông giới tuyến Bến Hải (một thời đã quá xa xăm) với tên ký là Xuân Quỳnh. Những bài thơ được viết bằng lối chữ tháu, dáng chữ to cồ cộ và nét chữ ngả nghiêng, xiêu lạc như cỏ dại. Tôi đọc và còn nhớ mồn một nhan đề của cả ba bài thơ đó: Lòng mẹ, Hoa râm bụt và Mưa xuân.

    Đấy là những bài thơ mộc mạc, giản dị, phảng phất một nỗi buồn thân phận và thật đẫm tình, dù cả ba đều không phải là thơ tình. Rồi không hiểu vì sao, bỗng nhập vào trong tôi một khung cảnh thôn dã, dân gian êm đềm, thân quen của một miền quê đồng bằng Bắc Bộ, một tấm lòng tha thiết bồn chồn và một cái gì đó, đầy thương cảm riêng của giọng thơ Xuân Quỳnh đã bắt đầu khe khẽ đập dưới những làn giấy pelure mỏng cũ ấy, với những chữ và những chữ... như cỏ dại của Xuân Quỳnh, trong đó có nỗi nhớ cha, thương mẹ cháy lòng. Cha bị giặc bắt giữa đường làng, giữa hai bờ hoa râm bụt đỏ chói như màu máu và không trở về. Màu hoa ấy vĩnh viễn nung đỏ hồn thơ của Xuân Quỳnh. Và mẹ, người mẹ sớm khuất núi mà Xuân Quỳnh chỉ biết thật thà lấy lại những câu thơ đầy dân gian đưa vào giữa thơ của mình để tả nỗi lòng thương mẹ - Người như ở xa lắm, cách trùng trùng những con sóng đồng chiêm ngập lụt, dẫu có thương mẹ cách chi, cũng không thể biết gửi ai về cho mẹ “bát canh cần”. Và từ trong sâu xa nữa, niềm thương cảm dành lại cho chính bản thân mình, thương thân, Thân gái như hạt mưa sa. Hạt vào gác tía. Hạt ra vũng lầy(1). Chẳng phải ngẫu nhiên mà ngay từ độ ấy, những câu thơ dân gian đầy màu sắc folklore – một màu Việt cổ thuần tuý - đã ám nhiễm vào tâm trạng thơ Quỳnh và trở thành một ám ảnh dai dẳng suốt đời sống và đời thơ của Xuân Quỳnh. Vả chả biết số phận đưa đẩy “khăn gói gió mưa” thế nào mà Xuân Quỳnh trở thành mẫu một người đàn bà tài hoa nhưng không hề may mắn trong đời riêng - lận đận “hai lần đò”, cuối cùng chết bất ngờ trong một tai nạn giao thông, một tai nạn cực kỳ phi lý để kết thúc một cách hợp lý accident khác về tâm hồn. Thời gian đó, Quỳnh buồn, lâm bệnh nặng, đau tim và tưởng không qua khỏi. Nhưng thật ra, với riêng Xuân Quỳnh, cái chết ấy đã thật là một giải thoát. Nó mang Quỳnh đi mãi mãi khỏi chốn trần ai - cũng có lúc đã là tươi đẹp, nhưng từ lâu đã trở nên 1quá nhọc nhằn khổ ải với Quỳnh - và chỉ còn để lại một vệt sao băng chói sáng trên nền thơ ca Việt Nam hiện đại...

    *

    Tôi thực sự chạm mặt Quỳnh khi Quỳnh đã là một thiếu phụ ở tuổi ngoài ba mươi. Chúng tôi chênh nhau ít nhất là một thế hệ. Tôi - như một người mới nhớm chân vào con đường đời xa tít tắp. Tôi - cũng như cả thế hệ tôi hồi bấy giờ, tuổi đôi mươi mười tám, với tất cả háo hức của lần đầu đặt chân vào rạp-hát-đời “chờ sân khấu đợi màn lên” (1). Quỳnh khi ấy ra vai - một vai kịch khốc liệt, đang nghỉ ở chặng giữa, để rồi sẽ bước vào hồi mới 1với cao trào dâng tột đỉnh. Kết thúc vở kịch của Quỳnh không có hậu, một kết thúc ÁC, tự nó hàm chứa mẫu thuẫn giữa cái phi lý và hữu lý - bởi đó là cái chết do tai nạn bất thường, nào ai có thể tiên liệu trước được tai bay vạ gió. Có lẽ chẳng có cách nào khác hơn là chết - đó là FIN - kết cuộc không tránh khỏi của vai kịch mà dường như một tác giả nào đó của tấn-trò-đời-thế-gian đã viết riêng quy định cho Xuân Quỳnh với chủ đề: săn đuổi, lùng bắt và kiếm cho được con mồi HẠNH PHÚC. Và đó tuyệt đối không phải là một cuộc săn cô đơn “một mình một ngựa” - tôi chỉ muốn dùng nghĩa bóng của cụm từ này - mà Quỳnh buộc phải tự mình trắc nghiệm trên đường đời của riêng mình, không giống bất cứ ai khác.

    Có lẽ mãi về sau, ở một chặng nghỉ nào đó, khi đã kiệt sức vì chạy đuổi, Quỳnh đã bắt đầu vỡ lẽ đó là một cuộc săn vô vọng, bởi tất cả sự tương đối của khái niệm hạnh phúc - còn tương đối hơn cả chính khái niệm ấy được Einstein dùng lần đầu trong lý thuyết của ông. Quỳnh đã không chịu thừa nhận nó ngay từ khởi sự. Quỳnh chống trả. Là người đam mê, cực đoan và hết lòng, Quỳnh chỉ thấy ở hạnh phúc một đòi hỏi tuyệt đối, các bi kịch cuộc đời riêng của Xuân Quỳnh bắt đầu chính từ đó. Quỳnh đã không thể tương đối được khi định vị cái gọi là Hạnh phúc.

    *

    Khuôn mặt của Xuân Quỳnh vào những ngày ấy, khoảng đầu thập kỷ 70 - cũng là cái đoạn trần ai nhất của Quỳnh - như vẫn còn hiển hiện trước mắt tôi. Một khuôn mặt bầu bầu như trái ô-liu, làn da bánh mật khoẻ mạnh, mái tóc đen nhánh như màu mun xoã quanh gương mặt. Nổi bật lên trong khuôn mặt ấy là đôi mắt, một đôi mắt quá to và quá đen, sâu thẳm, long lanh một ánh nhìn sắc sảo, vừa chăm chắm vừa phiền muộn và đâu đó hình như có những giọt nước mắt ngấp nghé chỉ muốn trào qua bờ mi. Đặc biệt nhất, là giọng nói, bao giờ giọng nói của Quỳnh cũng run rẩy nghẹn ngào như có tiếng khóc ở bên trong...

    Bằng vào hai thông số đặc biệt ấy của chân dung, người ta không thể đoán định một số phận tốt hơn cho Xuân Quỳnh, ngoài việc biết chắc rằng Quỳnh sẽ khổ và suốt đời sẽ phải tự mình vác lấy cây thánh giá của mình trên lưng. Quỳnh có cái gì hao hao giống cô Quỳ - nhân vật chính trong thiên truyện ngắn rất hay của cố nhà văn Nguyễn Minh Châu “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” - đẹp, tự tin, sắc sảo, tài hoa nhưng đa đoan và truân chuyên...

    Lúc đó, Quỳnh đang chênh vênh giữa hai hồi kịch. Màn kịch dạo đầu không mấy tốt đẹp - gia đình đổ vỡ và cuộc chia tay không tránh khỏi. Biết thả neo lần nữa vào đâu, ở sông biển nào, khi cuộc đời thì cứ rộng rinh “nào ai biết được bến bờ của nó”(1)...1

    Lại một lần nữa, Quỳnh nhỡ nhàng và lầm lạc về nước giếng lòng người(2). Ờ, mà hình như người đàn bà càng thông minh sắc sảo thì càng dễ lầm lẫn hay sao?

    Nhưng cũng chính vào cái lúc mưa gió bất thường ấy của một thời gian khó, đã kết trái những chùm thơ tình hay nhất của nữ sĩ Xuân Quỳnh, hiến cho nền thi ca Việt Nam hiện đại (không phải thời nào cũng sẵn có nhiều lắm những bài thơ tình thiệt hay).

    Màu chủ đạo trong tâm trạng Quỳnh khi đó là đơn côi và chênh vênh giữa một mùa đẹp nhất và ngắn nhất trong nhịp đi hàng năm của giời đất bốn mùa. Thu đã chớm se trong hanh hao và lạnh dịu, hoa cúc đã đổ vàng “như nỗi nhớ dây dưa” (3), lá sen đã xanh như ngọc, hoa sen đã hồng lên trong các gương hồ, cốm đã lên hương nếp non cạnh hoa trái, chuối tiêu chín ửng màu trứng cuốc, trời đã xanh màu viễn xứ, thắm thiết bay những làn mây trắng và trong vườn thơ của Quỳnh, đến cỏ... cũng bồi hồi “lật theo chiều mây” về phương gió thổi... Mùa thu năm ấy quá đẹp và lộng lẫy đến tương phản với tâm trạng của Quỳnh. Một tâm trạng đơn chiếc, phân vân không định như giữa hai màu áo Quỳnh ưng mặc những ngày ấy: màu đen hoặc màu hoàng yến. Quỳnh mặc cả hai, màu đen cho những lúc buồn phiền, màu hoàng yến cho những ngày tâm hồn hình như có lúc trở lại yên tĩnh và loé lên một tia nắng ấm của hy vọng nào đó. Nhưng yên tĩnh chẳng đậu được lâu. Có lẽ lòng Quỳnh cũng nghiêng ngả chênh chao như câu thơ chơi vơi nọ của Quỳnh: Em từ nhà đi đến ngã tư, / Gặp đèn đỏ trước hàng đinh thứ nhất, / Chờ sang đường đèn xanh vừa bật, / Em lại quay về, thành phố mùa đông...

    Thi thoảng, người ta có thể gặp Quỳnh đạp xe một mình lang thang trên lối phố thường quen của Hà Nội, trên vai bay lất phất một mảnh khăn voan màu nắng nhẹ và màu áo len vàng sáng cả buổi chiều. Nhưng đó chỉ là một vệt nắng nhỏ nhoi hiu hắt trên nền tranh sẫm tối. Rất nhiều ngày Quỳnh mặc màu đen, đôi mắt to mênh mang nghĩ ngợi. Quỳnh như chỉ còn một mình với chính bản thân mình và lui vào một cuộc độc thoại đơn chiếc. Quỳnh có trò chuyện với ai thì cũng với một bộ mặt đi vắng tận đâu đâu. Nói đấy, kể chuyện đấy, bông đùa đấy, nhưng lòng lại để tận nơi xa lắc nào, chỉ một mình Quỳnh biết. Tất cả niềm vui, nỗi buồn như mắc cả ở đó. Đôi mắt đẹp thất lạc, lúc nào cũng như rưng lệ và giọng nói cứ như bên trong có tiếng khóc của Quỳnh, và cả sự đơn côi vô phương của Quỳnh lúc ấy và bao giờ cũng vậy, mặc lòng, đã tố cáo cái đặc điểm chói chang nhất trong tính cách của Quỳnh là bao giờ cũng yêu người vượt qua cả bản thân mình, yêu như chưa từng yêu bao giờ, như giông như gió, như đắm như chìm, đến mức trong thơ Quỳnh tự thú: “Lòng em nhớ đến anh, cả trong mơ còn thức”.

    ... Đời Quỳnh, rốt cuộc, như nhiều người đàn bà tài hoa khác, cũng không ra khỏi thân phận mình. Vai kịch của Quỳnh từ đầu đến cuối đã được chỉ định bởi số kiếp. Dân gian quả có lý khi phát biểu cái lẽ thông suốt của sự vật bằng cách ngôn cô đọng “chạy trời không khỏi nắng”. Và cách đây mấy trăm năm, đại thi hào họ Nguyễn đã từng than tiếc cho cô Kiều dù “tài sắc mười phân vẹn mười” cũng không sao chạy thoát được “lưới trời lồng lộng”...

    *

    Nhưng về phương diện khác, phương diện một nữ sĩ, Quỳnh là một người cầm bút hạnh phúc. Tất cả niềm vui, nỗi khổ, những lênh đênh bảy nổi ba chìm của Quỳnh đã được THƠ trang trải hết. Thơ là khuôn mặt ngời ngợi sáng trong của tâm hồn Quỳnh, có bao nhiêu ánh sáng cũng đã được phản chiếu qua thơ và ngay cả khi Quỳnh như một chiếc lá đã lìa cành thì thơ vẫn tiếp tục sự tồn tại của Quỳnh trên cõi đời này. Chỉ mỗi thơ - chứ không phải người - đã thuỷ chung như nhất với Quỳnh, là nơi yên nghỉ êm đềm cho tâm hồn mệt mỏi của Quỳnh.

    Thơ, với Quỳnh, đích thực là một hạnh phúc. Quỳnh bắt đầu đời làm thơ của mình dung dị hồn nhiên như một con sông vận hành ra biển với những con sóng nhỏ nồng nàn, khao khát vị mặn trùng khơi. Hình tượng con sóng thơ ấy của Quỳnh ngay từ khi xuất hiện đã mang trong mình nó những đặc tính song đôi tương phản - dự báo một tính cách thơ chói gắt, đầy suy tư trăn trở sau này của nữ sĩ Xuân Quỳnh - "dữ dội và dịu êm -  ồn ào và lặng lẽ - sóng không hiểu nổi mình - sông tìm ra tận bể - ôi con sóng ngày xưa - và ngày sau cũng thế - nỗi khát vọng tình yêu - bồi hồi trong ngực trẻ... ”. Bản chất nồng nhiệt trong thơ Quỳnh dường như dễ ứng với sức sống ồ ạt, ập ã của sóng, của sông và của biển. Chỉ với nôn nao mong ngóng cháy bỏng của riêng Quỳnh, mới có thể viết da diết thế về sóng: Con sóng dưới lòng sâu, Con sóng trên mặt nước, Ôi con sóng nhớ bờ, Ngày đêm không ngủ được; và về biển, một vùng biển chỉ riêng vỗ trong tấm tình nồng nhiệt của Quỳnh: Những ngày không gặp nhau, Lòng thuyền đau rạn vỡ, Những ngày không gặp nhau, Biển cồn cào thương nhớ, Nếu từ giã thuyền rồi, Biển chỉ còn sóng gió, Nếu phải cách xa nhau, Em chỉ còn bão tố...

    Thơ của Quỳnh không phải là thứ thơ tình thuận bằng trắc để dễ thuộc lòng, nhưng một khi đã đi vào hồn người, nó sẽ mắc lại ở đó và trở thành cái mà người ta vẫn gọi là “những câu thơ thuộc nằm lòng”. Những câu thơ ấy giống hệt như những giọt nước sau cơn mưa qua, còn đọng lại trên lá cây. Chỉ cần một làn gió xúc cảm ở đâu chợt đến, là những câu thơ ấy sẽ rơi rụng ngay xuống vùng tâm thức và mồn một hiện lên giữa lòng ta. Và bao giờ lòng ta cũng phấp phỏng bồn chồn khi đọc hoặc lắng lòng nhớ lại chúng. Có lẽ, cái “khát vọng tình yêu” từng thiêu đốt thơ Quỳnh cũng thiêu đốt luôn cả người đọc nó. Rất có thể từ đâu không biết, bỗng bất chợt ập đến những câu thơ sao khắc khoải nhức nhối lòng ta thế này, dẫu chỉ là “một chút thơ tình” muộn mằn “cuối mùa thu”:

    Mùa thu nay sao bão mưa nhiều

    Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

    Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm

    Em lạc loài giữa sâu thẳm lòng anh

    Em lo âu trước xa tắp đường mình

    Trái tim đập những điều không thể nói

    Trái tim đập cồn cào cơn đói

    Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn...

    Thực ra, thơ với đời Quỳnh chỉ là một. Thơ và Quỳnh làm tôi bao giờ cũng liên tưởng đến một người đàn bà yêu đến hết và đến chết - một phẩm chất thơ và phẩm chất người ngày càng trở nên hiếm quý trong thế giới hôm nay phai bạc của chúng ta.

    Và ta sẽ chẳng hề ngạc nhiên khi càng về cuối, thơ tình của Quỳnh càng khắc khoải nung đốt lòng người hơn bởi nó thấm đậm những trắc nghiệm của đời Quỳnh. Một chút phong vị của lý tính chẳng mảy may làm giảm bớt đi vẻ đẹp đẫm tình của thơ Xuân Quỳnh vốn có từ sơ khởi:

     Đấy tình yêu em muốn nói cùng anh

     Nguồn gốc của muôn vàn khát vọng

     Lòng tốt để duy trì sự sống

     Cho con người thực sự Người hơn

    Và:

     Em trở về đúng nghĩa trái tim em

     Biết khát khao những điều anh mơ ước

     Biết xúc động qua nhiều nhận thức

     Biết yêu anh và biết được anh yêu

    *

    Sau nhiều năm tháng dằng dặc nữa, tôi bỗng gặp lại Quỳnh ở Moscow cuối năm 1987. Đó cũng là lần gặp chót. Một thiếu phụ bé nhỏ đi trong mưa tuyết, những bông tuyết trắng bay ngập trời, gió thổi bời bời, và Quỳnh vẫn đi một mình trên đường phố như ngày nào ở Hà Nội. Tôi lại thấy trào lên lòng thương cảm với Xuân Quỳnh và bỗng thấy xa lắc cái ngày lòng tôi còn hồi hộp “ngồi trong rạp hát, đợi màn lên” bởi bây giờ chính tôi đang ở cái tuổi “trần ai” ngày nào của Quỳnh.

    Bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, nhưng vẫn là Xuân Quỳnh của ngày xưa và có lẽ ngày sau vẫn thế. Vẫn một Xuân Quỳnh bồn chồn không yên, không sống bằng chính mình mà sống bằng người mình yêu và lúc nào cũng vất vả tất bật trên đường đời thăm thẳm. Vẫn cái giọng nghẹn ngào như nấc và vẫn một đôi mắt to đen nhưng đã bớt đi ánh long lanh sắc sảo, chỉ còn một ánh nhìn ưu tư, đắng đót. Và vẫn nguyên một tấm tình nồng nhiệt đắm say như thế, cô đơn như thế và hạnh phúc, với Quỳnh rốt cuộc vẫn cứ mong manh ẩn hiện như đóm lửa ma trơi ở cuối đời. Quỳnh vẫn như một người lữ hành mải miết hướng tìm đến nó - nhưng chắc gì Quỳnh đến được La Mã như mong đợi:

     Tôi không có một gian phòng

     Lang thang suốt những năm ròng tuổi thơ

     Gia tài là mấy bài thơ

     Dẫu bao người đọc vẫn chờ đợi ai

     Núi cao biển  rộng sông dài

     Tôi đi khắp chốn tìm người tôi yêu.

    Về cuối, đôi khi ta thấy thơ Quỳnh như tối lại bởi những đám mây đen hoài nghi che phủ. Nếu câu hỏi về trần thế đặt ra cho Các vị La Hán chùa Tây Phương trong thơ Huy Cận được miêu tả gay gắt như “Một câu hỏi lớn không lời đáp, Cho đến bây giờ mặt vẫn chau” thì câu hỏi về tình yêu và hạnh phúc cũng thôi thúc y như thế trong thơ Quỳnh. Đốt lòng em câu hỏi. Yêu em nhiều không anh? Và thơ Quỳnh cố tìm ra câu trả lời, cùng lúc với việc nhận chân giá trị tương đối của hạnh phúc. Là người thông minh, khi không quá đắm say, Quỳnh vẫn tỉnh táo biết đời là sớm nắng chiều mưa, biến chuyển khôn cùng:

     Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn

     Hôm nay yêu mai có thể xa rồi

     Niềm đau đớn tưởng như vô tận

     Bỗng có ngày thay thế một niềm vui

    Có một nỗi e dè gần như sợ hãi của con trẻ trong thơ Quỳnh, giống như một con chim non đã một lần phải tên...

    Con sáo đã sang sông bạt gió, con cò đậu phải cành mềm - những trắc nghiệm của lỡ lầm vọng thầm trong thơ Quỳnh. Những câu thơ đọc xong, thấy tội nghiệp cả Quỳnh lẫn chính bản thân mình. Hạnh phúc là một thứ quả ngọt dường như xa xôi lắm, quá tầm tay với, nên Quỳnh cứ như mơ đi ở giữa ngày thường. Ai có thể mơ và cảm nhận được như Quỳnh cái li ti quá đơn sơ này của hạnh phúc: Như lúc này anh ở bên em - Niềm vui sướng trong em là có thật - Như chiếc áo trên tường, như trang sách - Như chùm hoa mở cánh giữa hiên nhà...

    *

    Quỳnh đã ra đi, “con ong xanh” đã bay về miền thanh thản của cõi hư vô, “bông cúc nhỏ” cánh đã rã rụng, thôi không còn “màu hoa vàng” cháy rực trong đêm... nhưng Quỳnh cũng đã kịp để lại giữa đời những cành thơ tươi xanh của mình. Ta biết rằng những cành thơ ấy sẽ tươi nguyên qua nhiều năm tháng vì nó được bắt rễ và mọc lên từ một tâm hồn nhân hậu, vị tha, đau đáu với Đời, dù cuộc đời riêng không toại ý, dù ấm lạnh thất thường của thế thái nhân tình thì Xuân Quỳnh vẫn giữ nguyên trong mình một tình yêu không phai bạc với con người. Có lẽ chừng nào còn những lời thơ tình nồng nàn, ngây dại, đắm say đến thế: Em trở về đúng nghĩa trái tim em - Là máu thịt cuộc đời ai chẳng có - Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa - Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi... thì có lẽ nào ta lại không muốn SỐNG và YÊU giữa cuộc đời tươi đẹp này, bởi Xuân Quỳnh đã từng yêu nó ngay cả khi Xuân Quỳnh không còn nữa?

     Sài Gòn, Thu 1991

    Nguyễn Thị Minh Thái

     

    Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ: Cõi tình màu hoàng hoa

    Hoa cúc đã vốn là biểu tượng mùa thu và tình yêu của riêng hai cõi thơ, khi hòa nhập làm một, đã thành cõi tình rực màu hoàng hoa.

    Được sự đồng ý của PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, Zing.vn đăng bài viết “Cõi tình màu hoàng hoa” trong cuốn sách “Mặt hoa da phấn” sắp xuất bản của bà, nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn về câu chuyện tình yêu “tốn nhiều giấy mực” của nhà thơ Xuân Quỳnh và nhà thơ – nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

    "Lưu Quang Vũ rất yêu hoa cúc và mùa thu. Xuân Quỳnh cũng thế. Hoa cúc đã vốn là biểu tượng mùa thu và tình yêu của riêng hai cõi thơ, khi hòa nhập làm một, đã thành cõi tình rực màu hoàng hoa.

    Trong thơ Vũ, biểu tượng hoa cúc vàng đã nhập chung vào biểu tượng những chân dung đầm đìa thương nhớ của những người tình đã đi qua, đi cùng cuộc đời chỉ vừa tròn 40 năm ngắn ngủi của đời mình.

    Thì ra, chàng thi sĩ mặt buồn, tài hoa mệnh bạc, đa tình, đào hoa hết mực này cũng đã biết yêu…hoa từ rất sớm. 15 tuổi, những bông cúc của đời chàng đã chớm hiển hiện trong mắt thiếu nữ tuổi chanh cốm. Sáng 22/8, báo Thanh Niên đăng lại nhật ký tuổi 15 của Vũ, gọi Vũ là “Người-đàn-ông-15-tuổi”.

    Tuổi 15, tóc xanh ngây thơ và đa cảm, Vũ đã biết đọc thương nhớ trong mắt những cô gái nhỏ cùng lớp dễ thương, và đã biết thổn thức trong nhật ký:..“Mùa hè, mùa của nắng, của quả, của trời biếc. Mùa hè, mùa của thi, của lo âu, của chia ly và của những mối tình đầu thơ ngây, trong trắng và thầm kín. (Mấy bữa nay, trước khi xa trường mình thấy nhiều những đôi mắt ngập ngừng, phân vân nhìn mình làm trái tim trẻ dại đôi lúc phải rung lên (...). Cuộc đời kể cũng lạ, mình đã gặp bao nhiêu cô gái, thế mà người mình tưởng có thể thương suốt đời thì không bao giờ gặp lại nữa: đó là cô gái mắt huyền của buổi tối năm xưa…”

    Sau này, không ngẫu nhiên, thơ Vũ đôi khi ngập trong bóng của hoa cúc, nhiều khi đắm đuối trong sóng đen thẳm huyền bí của mắt huyền. Nhưng cũng phải qua nhiều lầm lạc, Vũ mới cập bến đời mình, trong ánh sáng huyền hoặc của mắt huyền thật đen, long lanh ngấn nước mắt của Xuân Quỳnh. Và sau nhiều từng trải, cuối đời, chàng vỡ ra hình ảnh lộng lẫy của tình yêu trong hình ảnh mộng mị “hoa cúc xanh trên đầm lầy”, bởi sự đồng điệu cảm hứng thi sĩ với Xuân Quỳnh, người đã thành bạn đời.

    Chàng thấm thía rằng, mọi thứ có thể trôi qua, chỉ tình yêu đắng đót, chói chang cuối cùng của Xuân Quỳnh, như “hoa vàng ở lại”, với giấc mơ rợn ngợp ban ngày: "Mưa mùa thu ướt đẫm cánh hoa vàng/ Gió lục địa tràn về như bão/Gió phiêu bạt phập phồng nếp áo/ Mây đầy trời đất lạnh sáng mênh mông/ Những cánh đồng hoa cúc mọc rưng rưng/ Chùm nắng lạ tươi vàng trên cỏ dại/ Trăng ngả xuống cho hoa vàng thức dậy/ Những bức tường lẩy bẩy bóng hoa lên/ Em trở về đêm lạnh áo em đen/ Gian phòng nhỏ một chùm hoa ướt sũng/ Em đã ngủ anh ngồi im lặng/ Cái màu hoa ám ảnh suốt đêm dài/ Ở ngoài kia thành phố mưa bay/ Bùn lầy lội những ngả đường khuya khoắt/ Mưa và gió ầm ào trên mặt đất/ Hai chúng mình bên cạnh một loài hoa"…

    Hoa đó là hoa cúc, cúc bung nở sắc hoàng hoa mùa thu, cái mùa ngắn như thoáng chốc, như mây bay gió thoảng... Bài thơ hiếm hoi này thành lập tứ thơ từ hình ảnh ngồi lặng yên suy tưởng của chủ thể trữ tình Lưu Quang Vũ, mang tên Hoa vàng ở lại. Dường như chính chủ thể thơ đã linh cảm về sự  lặng im bất thường của cõi hoàng hoa, đã có thể rất gần… cõi khác.

    Thi sĩ ngồi một mình trong đêm, không dứt ngẫm ngợi về hoa-cúc-của-đời-mình: "Em của năm nào, em của hôm nay/ Em đang thở hay hoa vàng đang thở/ Gương mặt của tình yêu và nỗi khổ/ Phương xa nào đến ở cùng tôi? Cái người trai đêm vắng lặng im ngồi/ Cốc rượu đắng cùng hoa chuốc lửa/ Tưới rượu xuống hoa vàng lả tả/ Thấy chập chờn sao mọc nắng dâng lên…"

    Đúng là đời sống đã luôn như dòng chảy thường xuyên bất tận, bất thường. Khi nhập lại thành một cõi, không phải khi nào, lúc nào cuộc tình của họ trong quan hệ vợ chồng cũng thuận thảo xuôi chèo mát mái. Hạnh phúc đời thường của họ có lúc chênh vênh, có khi chập chờn, “trục trặc kỹ thuật” như tất cả các cặp vợ chồng khác. Vả lại, “nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ”.

    Nhưng, lõi cốt căn bản nhất trong cuộc sống chung giữa họ, vẫn là tình yêu của hai con người, hai thi sĩ, đã trải nhiều gềnh thác, sóng gió, trước khi đến được với nhau, và từ đó  cùng chung tay vun trồng, cùng biết giữ gìn ngọn lửa nhỏ tình yêu sáng bền trong tổ ấm.

    Có lẽ không hề tình cờ, khi Xuân Quỳnh trở bệnh đau tim nặng, tưởng cận kề cõi chết, (và hoàn toàn không biết chỉ hai tháng sau, mình sẽ chết do tai nạn. Quỳnh viết bài thơ Thời gian trắng tháng 6/1988, và mất tháng 8/1988), Quỳnh chỉ thấy thời gian rặt màu trắng chia lìa, đông cứng trong bệnh viện: "không sớm không chiều. Thời gian trắng không gian toàn màu trắng/…Khi cuộc đời trôi chảy ngoài kia/ Thời gian trắng vẫn ngừng trong bệnh viện. Chăn màn trắng nỗi lo và cái chết/ Ngày với đêm có phân biệt gì đâu,..Phía trước, phía sau, dưới đất, trên đầu/ Dường trong suốt một màu vô tận trắng". Màu trắng là màu của Hành Kim, màu tang tóc trong ngũ hành, trắng mênh mông giá lạnh, đã khiến Quỳnh thảng thốt: Thời gian ơi sao không đổi sắc màu?

    Và càng không ngẫu nhiên, cho đến tận sau mười lăm năm chung sống, thơ tình của họ mới thật lắng dịu bình yên, nâng niu, nhớ tiếc, và hân hoan hạnh phúc đến nhói lòng, khi cả hai cùng hoài nhớ, thương về đầu nguồn cuộc sống chung đã tồn tại 15 năm tròn. 15 năm, với Vũ, là “Anh yêu em và anh tồn tại”, “15 mùa hè chói lọi, 15 mùa đông dài”. Vũ trăn trở, khi Quỳnh lâm bệnh: "Có phải 15 năm yêu anh/ Trái tim em đã mệt?"

    15 năm ấy, Quỳnh đã bao lần tha thiết “hát ru chồng những đêm khó ngủ”: "ngủ đi người của em yêu/ Này, con tàu lạ vừa neo bến chờ/Trời đêm nghiêng xuống mái nhà/ Biển xanh kia cũng đang mơ đất liền/ Anh mơ anh có thấy em/ Thấy bông cúc nhỏ nơi triền đất quê". 15 năm ấy, Quỳnh đã bao lần rời xa tổ ấm: “sân ga chiều em đi/ Bàn tay da diết nắm/ Vừa thoáng tiếng còi tàu/ Lòng đã Nam đã Bắc".

    Cũng là bấy nhiêu lần “nỗi nhớ cứ quay về”. Nhớ xao xuyến cả lòng dạ, “Nhớ về nơi ta ở/ Mùa thu vàng đường phố/ Lá bay đầy lối qua/ Ngọn đèn và trang thơ/Tiếng thở đều con nhỏ/Màu hoa bên cửa sổ/Quán nước chè mùa đông/ Con tàu với dòng sông/ Ra đi và trở lại/ Hà Nội ơi Hà Nội/ Sân ga chiều em đi”…Thơ tình có khi vẫn không chuyên chở hết tình yêu sâu nặng của Quỳnh dành cho người chồng thi sĩ.

    Trong lá thư tình (di cảo, đã in trong tập sách Xuân Quỳnh - Cuộc đời và tác phẩm, NXB Phụ nữ, 2003) ngày 14/4/1987, Quỳnh âu yếm viết:

    "Anh nhớ thương của em.

     Anh đi đã hai ngày, hôm nay là 14/4. Sau ngày anh đi trời lại trở rét. Em đã giặt 5 cái chiếu và thảm, cả quần áo rét nữa. Thế là lại phải bỏ ra mặc. Trời rét như giữa mùa đông ấy.

    Vắng anh càng buồn. Nhà vắng vẻ, em đi về làm mọi việc như cái máy. Thỉnh thoảng quên mất lại cứ chợt nghĩ như lát nữa anh về ăn cơm. Lấy nhau gần 14 năm rồi mà xa nhau em vẫn nhớ thương anh như thế. Có thể là không phấp phỏng vì tin cậy anh hơn, nhưng lại thương anh nhiều hơn. Chắc là anh bận nhiều công việc và nhiều bạn bè chả có thì giờ nghĩ đến em và con.

    Ba ngày nữa là sinh nhật anh. Có lẽ từ ngày lấy em, lần đầu tiên anh xa nhà trong ngày sinh nhật. Mấy bông hoa loa kèn em mua hôm anh đi đã nở hết. Mọi việc ở nhà vẫn như thế, bình thường, chỉ có nỗi nhớ anh là chả bình thường mà thôi. Càng nghĩ càng nhớ thương anh.

    Hiểu tính tình công việc của anh lắm lúc thương anh xót cả ruột. Lắm khi em cứ nghĩ em sẵn sàng sống cuộc sống đạm bạc để anh đỡ phải nhọc nhằn. Đối với em, em chẳng có nhu cầu gì nhiều, chỉ nghĩ lo liệu cho con cái (…) Em đã sửa bài thơ Hoa cúc xanh, em chép lại tặng anh ngày sinh nhật. Anh xem có cần sửa thì sửa cho em…"

    Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh. Ảnh: tư liệu

    Bài thơ ấy là một bài tình mà Xuân Quỳnh đã ấp ủ tứ thơ từ lâu lắm, từ 1964, trước lá thư tình này đến mười mấy năm trường. Hoa cúc đã xanh từ thuở ấy, duyên phận giữa hai người thơ phải chiều có chăng từ thuở ấy, khiến bao năm sau Quỳnh vẫn ngỡ ngàng về bông hoa cúc xanh như mơ ấy, mà hỏi lòng: Hhoa cúc xanh có hay là không có/ Tháng năm nào ấp ủ thuở ngây thơ/ Có hay không thung lũng của ngày xưa/ Anh đã ở và em thường tới đó/ Châu chấu xanh chuồn chuồn kim thắm đỏ/ Những ngả đường phơ phất gió heo may/ Cả một vùng vương quốc tuổi thơ ngây/ Bao ước mơ mượt mà như lá cỏ/…Anh đã nghĩ chắc là hoa đã có/ Mọc xanh đầy thung lũng của ta xưa.”

     Thế đấy, chẳng bao giờ Xuân Quỳnh thôi không yêu, chẳng bao giờ Xuân Quỳnh thôi không nhớ người thi sĩ - chồng mình, dù có khi nỗi nhớ ấy chỉ là của một mình, trong mùa hạ cuối cùng, một “chiều tháng năm nắng ngả thân cây/ Em trở lại một mình trên lối nhớ/ Gió trở lại một mình trên mái phố/ Khắp một trời phượng đỏ mênh mông/ Hoa sen hồng mặt nước thì trong/ Cây tường vi mọc gần cây sấu/ Trước cây cỏ vô tư em chẳng giấu/ Nỗi nhớ anh nỗi nhớ không cùng”.

    Hà Nội đầu thu năm nay và năm nào cũng thế, vẫn khe khẽ những bước chân dịu nhẹ heo may và vang âm rầm rập mưa cuối mùa hạ trên phố cổ Hà Nội.

    Mùa thu - mùa tình vẫn còn mãi trong thơ Lưu Quang Vũ, viết cho Quỳnh trên máy bay, khi vội bay từ Sài Gòn về Hà Nội thăm Quỳnh ốm. Từ trên trời cao, Vũ dõi theo “mùa hè náo động dưới kia/ Tiếng ve trong vườn nắng/ Và sau đê sông Hồng nước lớn/ Đỏ phập phồng như một trái tim đau/ Từ nơi xa anh vội về với em/ Chiếc máy bay dọc sông Hồng/ Hà Nội sau những đám mây/ Anh dõi tìm sau những chấm xanh nào/ Có căn phòng bệnh viện nơi em ở?”

     Mùa thu vẫn còn mãi trong Thơ tình cuối mùa thu của Xuân Quỳnh: "Thời gian như là gió/ Mùa đi cùng tháng năm/ Tuổi theo mùa đi mãi/ Chỉ còn anh và em/ Chỉ còn anh và em/ Cùng tình yêu ở lại/ Kìa bao người yêu mới/ Đi qua cùng heo may".

    Đúng là thế. Chỉ còn lại giữa đời một cõi tình hoàng hoa cháy mãi ngọn lửa hoa cúc vàng thu Hà Nội, của hai thi sĩ. Dù họ đã đi xa lắm ở bên trời…

       Ngày cuối tháng mưa Ngâu, 25/8/2008, đến ngày mưa ngâu tháng 8/2016.

    PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái

    zingnews.vn/ Thứ sáu, 19/8/2016

    Ngày 15/8, Đài Truyền hình Việt Nam đăng nhầm ảnh NSƯT Tố Uyên, thay vì đăng ảnh nhà thơ Xuân Quỳnh, trong bản tin về Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Bình luận về sự việc, PGS.TS Nghệ thuật học Nguyễn Thị Minh Thái, đồng thời cũng là bạn thân một thuở của cặp vợ chồng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh, cho biết: "Đó là sự nhầm lẫn rất đáng tiếc, xúc phạm nghiêm trọng đến người trong cuộc. Và cũng là biểu thị sự thiếu chuyên nghiệp của nhà báo, nhất là khi lỗi văn hóa này lại xảy ra ngay sau lỗi in nhầm ảnh, y chang như thế, trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn VN, cách đây không lâu".

    Bà cũng cho biết tháng 8 năm nay là tháng kỷ niệm ngày mất cặp vợ chồng thi sĩ Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ và con trai Quỳnh Thơ, nhưng thời gian gần đây có một số bài viết nhiều sai sót, lầm lẫn, thậm chí thiếu hiểu biết, thiếu tôn trọng chuyện riêng tư của cặp vợ chồng thi sĩ quá cố, khiến giới mộ điệu văn chương và bạn đọc yêu mến những tác phẩm thơ ca, văn chương và kịch nghệ của họ không khỏi bất bình.

    Nguyễn Thị Minh Thái

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,517,007

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/