14.08.2011
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi-Chim phượng bay từ núi (5)

Trong những truyện dài gần đây, Vỡ bờ là một tác phẩm tương đối chắc tay và có sự cân đối giữa nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện. Từ sau Xung kích, Vỡ bờ là cuốn truyện dài đầu tiên của Nguyễn Đình Thi. Vỡ bờ đánh dấu một thành công mới của tác giả.


Vỡ bờ (tập I, 1962) được dư luận phê bình và công chúng văn học tiếp nhận nhiệt tình. Tịnh Sơn trong bài Vỡ bờ một bước tiến của nền tiểu thuyết Việt Nam đã nhận xét: “Mặc dù còn có một số nhược điểm, Vỡ bờ tập I của Nguyễn Đình Thi đánh dấu một bước tiến mới của nền tiểu thuyết Việt Nam. Nó xứng đáng với sự hoan nghênh của đông đảo người đọc.


Sự thành công của tiểu thuyết Vỡ bờ nói lên trình độ và khả năng khái quát sâu rộng hiện thực xã hội bằng phương tiện nghệ thuật. Đồng thời nó cũng chứng tỏ nghệ thuật biểu hiện từ xây dựng nhân vật, miêu tả tính cách cho đến bố cục cốt truyện, sử dụng ngôn từ và hành văn đã đạt được trình độ cao” . Trong bài viết Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, tác giả Nguyễn Phan Ngọc khẳng định thành công và chỉ ra một số hạn chế của tác phẩm: “Với một bố cục tương đối chặt chẽ, mạch lạc và lời văn trong sáng có nhiều sức hấp dẫn, chủ đề chính và phụ thể hiện được rõ ràng Vỡ bờ là một tập truyện dài thành công hơn cả trong những cuốn truyện dài cùng đề tài mấy năm gần đây, nó đánh dấu một bước tiến mới của Nguyễn Đình Thi. Qua những diễn biến của các nhân vật trong tập truyện, Vỡ bờ đã phác họa được cả một bức tranh xã hội của thời đại mang nhiều nét chân thật. Nhưng Vỡ bờ chưa phản ánh được sâu sắc bản chất xã hội đương thời, nên tập truyện còn thiếu một cái nền vững chắc cho sự phát triển tâm lý nhân vật” . Những nhận xét trên của các nhà phê bình về tác phẩm Vỡ bờ là một sự khích lệ để Nguyễn Đình Thi có thể viết tập II, hoàn thành bộ tiểu thuyết dài có tầm cỡ. Nhưng rồi vấn đề phát triển không thuận lợi. Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước đã lan ra cả nước. Giặc Mỹ sử dụng chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc từ tháng 5 năm 1965. Không khí miền Bắc sôi nổi bước vào cuộc chiến đấu chống xâm lược. Nguyễn Đình Thi tạm dừng công việc để viết những cuốn tiểu thuyết chống Mỹ Vào lửa và Mặt trận trên cao. Nguyễn Đình Thi lại tiếp tục viết Vỡ bờ món nợ tinh thần sau khi hoàn thành hai cuốn tiểu thuyết chống Mỹ. Vỡ bờ tập II lại tiếp tục mạch truyện của tập I phản ánh xã hội Việt Nam từ thời kỳ Mặt trận dân chủ đến Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm được viết ra với cảm hứng say mê trong vòng 7, 8 tháng. Vấn đề quan trọng trước tiên vẫn là phong trào cách mạng được phát triển trong tình hình mới. Khắc chết và như Nguyễn Đình Thi đã dự định trước là sẽ có nhiều nhân vật thay thế trước hết là Quyên người em gái của Khắc được giáo dục trong gia đình nho học nề nếp lại chịu ảnh hưởng tốt của người anh. Một số nhân vật mới của phong trào như Lê xuất hiện đảm nhiệm trách nhiệm quan trọng. Khắc mất nhưng hình ảnh nhân vật như vẫn còn đó trong Quyên, An, Hội… Phong trào cách mạng trong thời kỳ đại chiến thế giới thứ II cho đến ngày Tổng khởi nghĩa khá nặng nề. Phải làm sao miêu tả được khí thế tức nước vỡ bờ. Phong trào Việt Minh phát triển trong các vùng nông thôn rồi vùng mỏ, lan rộng, sục sôi để chuẩn bị dẫn đến cao trào. Rồi cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội được miêu tả trực diện với sức mạnh đặc biệt của quần chúng thủ đô. Các nhân vật chính như Quyên, An, Lê đều hiểu rõ trách nhiệm nặng nề của mình. Quyên, An từ môi trường gia đình tham gia vào các hoạt động xã hội, nhân vật có phần hạn chế hay phát triển hơn? Nhìn chung ở tập II một số mặt hoạt động như trùng xuống, và không khí xã hội của câu chuyện cũng không sôi nổi như cuộc sống vốn có của thời tiền khởi nghĩa. Nhận xét về vấn đề này nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cho rằng:


“Có thể nói Vỡ bờ tập II đã bộc lộ một cách toàn vẹn những nhược điểm về vốn sống của Nguyễn Đình Thi. Mảng quần chúng công nông và các tầng lớp trung gian đi theo cách mạng bị yếu hẳn đi trong tập II đã hạn chế không ít giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Vỡ bờ. Quyên không thể thay thế vị trí của Khắc ở tập I, cũng không thể bù đắp những hình bóng rất mờ nhạt của Lê và các cán bộ cách mạng khác. Hà Nội cướp chính quyền nhưng vai trò lãnh đạo của Đảng và mặt trận Việt Minh, Ủy ban khởi nghĩa chưa nổi bật, quần chúng công nhân các xí nghiệp, khu lao động và nông dân các làng ngoại thành cũng không có được vị trí xứng đáng trong cuộc nổi dậy chính trị rộng lớn” .


Nhận xét trên có căn cứ vì Nguyễn Đình Thi đã tự đặt cho mình một trách nhiệm quá lớn, miêu tả một phạm vi quá rộng, với quá nhiều tình huống và nhân vật nên không tránh khỏi các mảng hiện thực không đồng đều không tạo được không khí tức nước vỡ bờ như yêu cầu đặt ra của cuốn sách. Thực ra Vỡ bờ đã mở ra nhiều trận địa phong trào cách mạng của công dân, nông dân rồi quần chúng cách mạng ở Hà Nội và đặc biệt đỉnh cao của ngày khởi nghĩa. Có thể tiếp cận với khung cảnh lớn ấy từ một góc nhìn, một góc độ hòa nhập cụ thể, chân thực và sâu sắc để từ đó mở rộng nhận thức, liên tưởng đến toàn thể theo quy tắc từ cái riêng đến cái chung. Nguyễn Đình Thi đã đi từ cái chung và chưa đến được với những cái riêng nên ít tạo được dấu ấn về nhân vật, cảnh ngộ. Cái chung, có thể là vốn hiểu biết về chính trị xã hội, vốn tri thức, văn hóa, kinh nghiệm được tích lũy và cái riêng chính là những mảnh đời cụ thể của sự việc, con người.


Nhìn chung dễ có nhận xét là tập I hay hơn tập II, viết về thành thị hơn nông thôn, về trí thức tiểu tư sản hơn nông dân, về nhân vật nữ hơn nhân vật nam. Khi tập II được xuất bản thì có một loạt những bài phê bình có dịp đánh giá toàn bộ tác phẩm Vỡ bờ. Có một số vấn đề đặt ra khác biệt nhau về ý kiến. Trước hết là về quan điểm tư tưởng. Phong Lê trong bài Chung quanh vấn đề Vỡ bờ đã kết luận: “Nhìn chung Vỡ bờ có những chương tốt, có nhiều đoạn hay, nhưng cũng còn lắm chỗ yếu kể cả về tư tưởng. Điều đáng chú ý là những tư tưởng đó lại là rơi rớt của chủ nghĩa lãng mạn (và ít nhiều cũng còn dấu vết của chủ nghĩa tự nhiên nữa) lại được bộc lộ qua một cây bút có vị trí quan trọng như Nguyễn Đình Thi nên hiện tượng đó càng không thể bỏ qua. Vì nếu chúng ta bỏ qua thì không phải là không có khả năng xảy ra tình trạng làm sống lại trong một chừng mực nào đó và dưới những biến dạng nào đó những sáng tác kiểu cũ” .


Ý kiến của nhà nghiên cứu Phong Lê không được ai nhắc lại để tán đồng hay phê phán. Có thể vì tác giả lo xa những điều không thể đến với nhà văn cách mạng Nguyễn Đình Thi.


Một vấn đề khác được nhiều người quan tâm hơn là nhân vật Phượng của Vỡ bờ. Cũng vẫn nhà nghiên cứu Phong Lê. Ông quan tâm nhiều đến nhân vật mà ông cho là “Nguyễn Đình Thi đã dựng một nhân vật gây cho người đọc nhiều điều khó hiểu và khó chịu” . Nhà nghiên cứu không chấp nhận một người đàn bà “kiêu ngạo quen đùa với tất cả” lại có thể yêu Tư một nghệ sỹ kiết xác, ho lao, đang sắp chết đói, rồi chuyện Phượng tự tử, một cái chết vô nghĩa chẳng nói lên điều gì và Phượng may cờ cho cách mạng… Tất cả theo tác giả là không lô gích: “Nhân vật Phượng không hiện thực là như vậy. Đáng lẽ tác giả phải dành cho loại nhân vật như thế vào ngọn roi trào phúng theo kiểu Tú Mỡ thì mới phải”. Nguyễn Văn Hạnh trong bài Vỡ bờ và nghệ thuật tiểu thuyết  của Nguyễn Đình Thi đã cho rằng “tính cách Phượng không có nét giả dối mặc dù đây có lẽ là tính cách phức tạp và “chông chênh” hơn cả. Trong Vỡ bờ Nguyễn Đình Thi đã viết về Phượng với nhiều thông cảm độ lượng”. “Phượng là một trong những nhân vật chính của Vỡ bờ, xây dựng công phu và thuộc vào số hình tượng nghệ thuật trội nhất của nhà văn” .


Những ý kiến khác nhau về Vỡ bờ đều được trình bày khi Vỡ bờ tập II được xuất bản. Các nhân vật đã đi hết chặng đường đi của mình. Với Phượng cũng thế. Sau khi tự tử được cứu thoát, Phượng sống trong trạng thái bỡ ngỡ và bước đầu nhận ra sự gắn bó với cuộc sống mà lâu nay nhân vật vẫn cảm thấy xa lạ, chán chường. Có ý kiến cho rằng việc nhà văn để cho Phượng may cờ là không chấp nhận được. Một người con gái sống lãng mạn, chơi bời làm sao lại để làm công việc thiêng liêng ấy. Ý kiến trên quả là nặng nề, khắt khe. Sau khi trở về từ cõi chết, người con gái ấy như được hồi sinh, bỡ ngỡ và sống dựa vào môi trường gia đình, bè bạn. Hằng cô em gái tham gia hoạt động cho phong trào đã nhờ chị làm hộ công việc ấy. Được, chứ có sao đâu. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nói về nhân vật của mình:” Phượng là nhân vật dễ gây ấn tượng không chỉ là cô gái đẹp mà còn có cá tính, bản lĩnh. Phượng làm khổ một số người nhưng chính Phượng cũng là nạn nhân của cuộc đời. Phượng là người tốt. Mối tình học trò với họa sỹ Tư vốn được Phượng giữ gìn như bi kịch có thể tìm đến cái chết. Tôi không để cho Phượng chết vì còn cần đến nhân vật và sinh mệnh của nhân vật trên trang sách chưa hết. Sau khi tự tử và được cứu sống, Phượng ngồi may cờ Việt Minh hộ cho em gái hoạt động trong thời kỳ tiền khởi nghĩa là điều bình thường và khi cách mạng thành công, Phượng ở xa hơn vẫy tay hoan nghênh đoàn biểu tình. Việc đó là hợp lý với người con gái đang hồi sinh trong cuộc đời mới. Có thể chính xác hơn do sự lắng gì đáng chê trách. Tại sao lại hạn chế, và đẩy nhân vật về phía bóng tối” .


Năm tháng trôi qua sự đánh giá tác phẩm văn học có đọng của thời gian và cách nhìn nhận cũng tránh được những định kiến một thời của những ý kiến tranh cãi. Đinh Quang Tốn trong Ngôi nhà của Nguyễn Đình Thi  đã có một cách nhìn thỏa đáng hơn về Vỡ bờ sau gần ba mươi năm xuất hiện của tác phẩm.


“Tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi và cũng ghi nhận thành tựu trên lĩnh vực tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi là bộ Vỡ bờ vượt qua tất cả những lời bình các nhân vật: họa sỹ Tư, chiến sỹ cộng sản Khắc, nhạc sỹ Toàn, các nhân vật nữ là An và Phượng vẫn sống trong tâm trí bạn đọc. Đặc biệt là nhân vật Khắc và nhân vật Phượng.


Khắc là hình ảnh một chiến sỹ cách mạng khá tiêu biểu của thời kỳ hoạt động bí mật. Với lý tưởng đẹp đẽ, tâm hồn trong sáng, với nghị lực và bản tính kiên cường, anh đã được quần chúng tin yêu và che chở gây được phong trào cách mạng. Trước Vỡ bờ và cho đến nay cũng chưa có hình tượng chiến sỹ cộng sản nào thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong văn xuôi chân thực hơn nhân vật Khắc. Nhân vật Phượng là một hình tượng nghệ thuật sống động đã có được cuộc sống riêng bước ra khỏi trang sách. Tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi thể hiện qua việc miêu tả nhân vật này cả về hình thức, tâm trạng và hành động. Bởi vì thông qua nhân vật nữ tiểu tư sản quý tộc này người đọc hiểu nhiều mặt của đất nước, của cách mạng và hoàn cảnh thời đại. Hình tượng cô Phượng trong tiểu thuyết Vỡ bờ bác bỏ mọi nhận xét cho rằng văn học mấy chục năm qua của chúng ta chỉ là nền văn học minh họa. Nhân vật Phượng là một hình tượng ám ảnh người đọc. Trong nền văn học hiện đại Việt Nam hình tượng văn học thành công của nhân vật Phượng đâu phải có nhiều” .


Nhà văn Đặng Tiến trong bài Nguyễn Đình Thi và tiếng chim từ quy viết khi Nguyễn Đình Thi vừa mất đã biểu thị lòng trân trọng những trước tác của Nguyễn Đình Thi trong đó có Vỡ bờ: “Trong đề tài cách mạng hai tập Vỡ bờ I-1962 và Vỡ bờ II-1970 là tác phẩm quy mô đầu tiên dựng lên toàn cảnh cuộc vận động cách mạng 1945, đề tài mà anh đã ấp ủ từ 1948. Hai tập Vỡ bờ là bức tranh hoành tráng về cuộc tổng khởi nghĩa đi từ khu mỏ than Đông Triều, qua thôn xóm ven sông Hồng đến hè phố Hà Nội tầng tầng lớp lớp quần chúng đủ mọi giai cấp ào ào tức nước vỡ bờ náo nức hướng về cách mạng. Vỡ bờ là trước tác tâm huyết mà Nguyễn Đình Thi ấp ủ với nhiều kỳ vọng và trau chuốt rất công phu nhưng đã không được tiếp đón như anh mong ước. Trái lại bị phê phán gay gắt. Ví dụ như bài Phong Lê trên Tạp chí Văn học 1971 đã khiến anh nổi đóa trả lời đại khái: Tôi là người buôn ngựa các anh là kẻ lái trâu lại đi hỏi sao ngựa của tôi không có sừng. Những trích đoạn dài cũng chỉ góp phần giải tỏa cho những gì tồn tại không thuyết phục qua những tranh cãi một thời về tác phẩm Vỡ bờ vẫn còn đó với giá trị khách quan của tác phẩm”.


 


 


CHƯƠNG BA


THƠ NGUYỄN ĐÌNH THI


Vào những năm đầu kháng chiến chống Pháp Nguyễn Đình Thi đem đến cho thơ một tiếng nói mới. Khác với những phong cách của các nhà thơ lớp trước đang chuyển mình với cách mạng Nguyễn Đình Thi là nhà thơ của thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Không quyến luyến với một quá khứ buồn tủi nào, thơ Nguyễn Đình Thi tuy còn ít nhiều dấu vết chiêm nghiệm sách vở của người trí thức nhưng đã mang theo sức sống của cuộc đời mới. Ông cũng không chịu ràng buộc với hệ thống thi pháp và những quy tắc cách luật cũ. Ông đến với cuộc đời mới với những suy nghĩ hồn nhiên chân thật của tâm hồn rồi từ triết học và văn xuôi chính luận nhưng sớm hòa nhập với bản chất của thi ca. Nguyễn Đình Thi muốn miêu tả cuộc sống trong vẻ đẹp tự nhiên. Chất thơ không cần tô điểm thi vị nhiều. Chất thơ là sự sống bình dị mà gợi cảm. Nguyễn Đình Thi không quan tâm khai thác những hình ảnh kỳ lạ. Anh muốn người đọc chú ý đến cuộc đời quen thuộc mà mỗi lần lại có thể nhận ra một vẻ đẹp mới. Một dòng sông quê hương “Thuyền ngược chồm trên sóng, gió thổi phồng buồm nâu”, một bầu trời trong xanh “Trời thu thay áo mới. Trong biếc nói cười thiết tha”, một con đường núi “Lối mòn không dấu chân… Dải áo chàm bay mùa”. Anh nói đến những vất vả đau thương mà mọi người đang trải qua trong những năm kháng chiến. Những vùng giặc chiếm đóng: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu. Dây thép gai đâm nát trời chiều”. Những gian lao của người phụ nữ trong chiến tranh “Suốt đêm trường súng nổ. Em gánh con đi đâu?”… Nguyễn Đình Thi có ý thức chọn lọc những hình ảnh tiêu biểu để qua đấy thấy được diện mạo của đời sống. Trong khuynh hướng chung của thơ kháng chiến đang trở về gắn bó với hiện thực lớn của cuộc chiến đấu, Nguyễn Đình Thi đi sâu vào đời sống chiến trường. Anh không tham chất liệu, không kể lể trong thơ, cũng ít khuôn sự miêu tả hướng vào một đối tượng riêng lẻ. Hình ảnh được chọn lọc và bố trí thoáng trên mạch cảm nghĩ làm điểm tựa cho những liên tưởng. Những hình ảnh được liên kết lại tạo nên một không khí riêng cho bài thơ. Cái thật của đời sống làm cơ sở cho bài thơ và cảm hứng được mở rộng theo nhiều chiều hướng nghệ thuật. Nguyễn Đình Thi vẽ được nhiều khung cảnh sinh hoạt kháng chiến vừa có hình ảnh của cuộc đời cụ thể, vừa lắng sâu tâm tình. Cuộc chia ly không nói, chiều hành quân qua đường số bốn, nỗi nhớ trong cách xa của những người chiến sỹ, không khí chuẩn bị ngày mai ra trận, người tử sỹ trong tấm lòng đồng đội, chiến trường Điện Biên Phủ - bài ca lớn của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người chiến sỹ trong thơ Nguyễn Đình Thi trong những năm kháng chiến chống Pháp mang một vẻ đẹp riêng. Còn ít những nét khắc họa cụ thể nhưng họ có một đời sống tâm hồn đẹp và tinh tế. Thơ Nguyễn Đình Thi vừa hướng vào cuộc đời cụ thể lại vừa hướng đến những lý tưởng và mơ ước thi vị. Trong thơ anh có khung cảnh chiến trường quyết liệt:


Đất trời mờ sắt thép


Chớp giật xé ngày đêm


Lại có hình ảnh nên thơ:


Giữa súng đạn ngổn ngang bờ núi


Đoàn quân nằm ngủ dưới mây trời


Có khoảnh khắc sâu lắng trong đêm chiến tranh:


Cỏ ngập lối vào bản cũ


Đoàn dân công bước động giữa rừng khuya


Và âm thanh báo hiệu một ngày mới:


Đàn sơn ca bay lên gọi sáng


Tiếng hót vang vang trên cánh đồng


Nguyễn Đình Thi đã đưa thơ trở về với cuộc sống gần gũi bình dị thật tự nhiên; khác với con đường của các nhà thơ mới trở về với quần chúng từ “chân trời một người đến chân trời tất cả” với nhiều gian truân vất vả. Không thi vị hóa cuộc sống, không cố tình gây ấn tượng về cái tôi. Cũng vì thế mà dễ hiểu tại sao thơ Nguyễn Đình Thi khác hẳn với thơ mới, không khơi nguồn từ thơ mới. Nguyễn Đình Thi viết theo mạch cảm xúc của mình không lệ thuộc vào cách luật vần điệu. Cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi vào tháng 11-1949 diễn ra là điều dễ hiểu. Thực chất không phải chỉ là chuyện thơ có vần hay không vần mà là sự khác biệt về quan niệm và chuẩn mực thi ca. Nguyễn Đình Thi muốn trình bày một quan niệm rộng rãi hơn, sâu sắc hơn về thơ trong hoàn cảnh mới. Thơ Nguyễn Đình Thi là dòng ý thức, là mạch tâm tình vận động và phát triển tự nhiên “Tôi mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đến một độ cảm xúc mãnh liệt. Nếu cần nói một hơi dài dùng những câu dài. Nếu hơi ngắn, nói ngắn. Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi tưởng tượng nó cần phải khỏe, gân guốc, xù xì, chất phác, chung đúc, tự nhiên. Những bài thơ cũ cùng một nhịp điệu đều đều tôi không thể chịu được. Bài thơ chất phác kia tác động vào tâm hồn ta hơn” . Nguyễn Đình Thi cũng nói đến vần với một quan niệm mới mẻ dễ chấp nhận:


“Còn vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhưng không phải hết vần là hết thơ. Khi làm thơ, thái độ của người làm là ghi cho được cảm xúc. Nếu cảm xúc gặp được vần thì hay. Nhưng gặp khi nó gò bó hãy vượt lên nó đã. Hình thức nghệ thuật (các luật bằng trắc) phải tự thân nó ra. Khi gạt luật bên ngoài đi phải có luật bên trong rất mạnh” . Ý kiến của Nguyễn Đình Thi gặp nhiều cản trở và bất đồng. Xuân Diệu, Ngô Tất Tố, Tố Hữu, Thế Lữ đều không tán thành; Nguyên hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Văn Cao tán thưởng cái mới của thơ Nguyễn Đình Thi. Xuân Diệu xem thơ Nguyễn Đình Thi là “kiểu đầu Ngô mình Sở”, “Thu xếp, gò bó, bố trí nhiều quá dáng điệu giả”. Tố Hữu cho thơ Nguyễn Đình Thi chứa đựng một nội dung lạ: “Có những lúc tôi yêu thơ anh Thi và cũng nhiều lúc tôi thù ghét nó”. Thế Lữ xem “Thơ anh Thi nguy hiểm và còn là một cái nguy cơ. Thơ anh Thi có tính cách quý phái cao đạo . Kết quả là những bài thơ của Nguyễn Đình Thi vẫn xuất hiện được một số người yêu thích và không tránh khỏi một số nhỏ công kích. Những bài thơ nằm trong dư luận quan tâm đã sớm được khẳng định và trở thành những tác phẩm có giá trị như Không nói, Nhớ, Đất nước.


Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đình Thi đi vào đời sống chiến đấu trong nhiều năm với tư cách là người lính. Thơ anh có những trải nghiệm của người trong cuộc, giàu hoài bão và trí tuệ. Thơ phải là cảm nhận, xúc cảm, liên tưởng. Cần tránh kể lể căn bệnh khá phổ biến của thơ ca những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Trong thơ Nguyễn Đình Thi thường sử dụng yếu tố xác định kết hợp với cái không xác định. Phần xác định là cuộc sống thực, là sự kiện, con người ngoài đời. Phần không xác định, là thế giới của hư ảo, tâm linh, của trí tưởng tượng. Nhiều bài thơ hay trên thế giới đều được viết ra với phương thức sáng tạo này. P. Véclen xem đây là bí quyết có hiệu quả nhất với thơ. Bức tranh chung về cuộc sống không chỉ hiện ra trên một bình diện mà hiện thực được mở ra thêm hiều lớp mới. Bài thơ Đất nước là một sáng tác hay biểu hiện tập trung những phẩm chất trên. Chỗ mạnh của Nguyễn Đình Thi trong thơ ca là khả năng liên kết bên trong những hình ảnh khác nhau về cuộc sống. Ưu điểm trên đã tạo nên chiều sâu của bài thơ với những đường dây liên tưởng trong không gian và thời gian. Đất nước với quá khứ của những người chưa bao giờ khuất “Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất. Những buổi ngày xưa vọng nói về” và với hiện tại trong đau thương chiến đấu nhưng đã “ngời lên nét mặt quê hương”. Đất nước của những khát vọng về tương lai: “Trán cháy rực nghĩ trời đất mới. Lòng ta bát ngát ánh bình minh”. Đất nước đã quy tụ được những phẩm chất trên vừa truyền thống vừa hiện đại, trí tuệ gắn với tình cảm, nghiêm túc và tài hoa. Đất nước có vẻ đẹp cổ điển. Nguyễn Đình Thi trong mỗi bài thơ đều có ý thức khái quát hóa nghệ thuật. Trong tập Người chiến sỹ anh ít vận dụng yếu tố chính luận. Sức khái quát nghệ thuật thường được rút ra từ những hình ảnh và những liên tưởng bên trong. Trong những năm chống Mỹ cứu nước Nguyễn Đình Thi đã miêu tả nhiều hình ảnh chân thực và màu sắc để nói về cuộc chiến đấu của dân tộc. Vẫn lại những chuyến ra đi của người chiến sỹ và những cuộc chia tay. Vẫn âm thầm “không nói” nhưng mang sắc thái riêng Nguyễn Đình Thi lại gây ấn tượng với Chia tay trong đêm Hà Nội. Bài thơ Chia tay trong đêm Hà Nội ghi lại được nhiều hình ảnh bình dị, quen thuộc mà lớn lao của Hà Nội trong đêm chiến tranh. Thành phố trong cái nhìn của tuổi trẻ sắp lên đường chiến đấu, càng trở nên gần gũi, thiết tha. Trước những thử thách lớn lao Hà Nội vẫn bình tĩnh và đẹp. Buổi chiều Vàm Cỏ được viết ra khi cuộc chiến tranh chống Mỹ sắp kết thúc. Có thể nói đây là một trong số ít những bài thơ chống Mỹ nói nhiều về những mất mát hy sinh trong chiến tranh, âm hưởng của bài thơ không khỏi có lúc xót xa nặng nề. Nguyễn Đình Thi đã ghi lại những cảnh ngộ thật với sự xúc động chân thành. Đấy là một “buổi chiều ứa máu… dòng sông vỗ sóng lầm lỳ”. Và đau thương ở đây “Như những con đường cây không còn lá… Bụi bay thiêu đốt mặt người”. Nguyễn Đình Thi luôn quan tâm đến mối quan hệ riêng chung. Vận mệnh của một dân tộc bao trùm lên và chi phối đến bao số phận của cá nhân. Con người không thụ động phải biết vượt lên khó khăn, và đâu là phần bi kịch không cưỡng lại được số phận. Tuy sự sống vẫn theo quy luật đấu tranh vượt lên, nhưng chiến tranh là mất mát, chia lìa và vận mệnh con người cũng trong cơn xoáy lốc đó:


Bao nhiêu năm


Mỗi chúng ta phải không em


Như hạt thóc trong nắm tay cách mạng


Tung lên giữa mùa gió lớn…


Hiện thực cách mạng phát triển theo quy luật và sức mạnh tất yếu của nó nhưng số phận cá nhân lại dường như chịu đựng biết bao ngẫu nhiên: “Những hạt thóc rơi. Trên đất bùn hay đá sỏi. Trên than bụi đầm máu. Trên nước mắt mồ hôi. Chết đi vẫn nuôi màu cho đất. Sống thì từng giờ âm ỉ. Hạt thóc vẫn nảy mầm”. Tuy viết không nhiều và trực tiếp về chiến tranh nhưng tác giả đã khơi sâu đến mạch tận cùng của cá nhân lớn lên và cũng đau khổ trong chiến tranh. Bên cạnh những bài thơ mà hiện thực cuộc sống chi phối chặt chẽ đến sự miêu tả, Nguyễn Đình Thi sử dụng nhiều biểu tượng, và hình ảnh tượng trưng để nói về cuộc đời. Dùng biểu tượng và hình ảnh tượng trưng đẹp, gợi cảm là mặt mạnh của thơ Nguyễn Đình Thi. Nhà thơ dùng biểu tượng để nói về cuộc sống và vẻ đẹp của biểu tượng thi ca có sức ám ảnh người đọc. Một dòng sông trong xanh hay là sự sống của một dân tộc, một ánh biếc như một lý tưởng vừa xa xa lại vừa hiện hình cụ thể; rồi mùa thu, mùa xuân, núi và biển không còn chỉ là những đối tượng và hình ảnh cụ thể mà thường là những biểu tượng, biểu trưng của một vấn đề xã hội hoặc những mối quan hệ giữa con người với con người. Nguyễn Đình Thi sử dụng thành thục những biểu tượng và hình ảnh tượng trưng. Không xa xôi mà gần gũi. Một “tia nắng”, một bông hoa vàng, vẻ đẹp của ánh biếc và chim phượng cho đến dòng sông trong xanh… tất cả đều lung linh mang sắc thái mới khi từ hình ảnh được nâng lên thành biểu tượng tượng trưng. Khai thác và sử dụng hình ảnh làm biểu tượng Nguyễn Đình Thi chọn lọc những hình ảnh gợi cảm, thầm lặng, không ồn ào, xinh đẹp mà không phô trương sặc sỡ, nhỏ bé mà gợi yêu thương. Trong thơ tác giả thích tia nắng hơn là một ngày nắng, mặt trăng hơn mặt trời, một hoa nhỏ hơn là cả bó hoa hương sắc. Tự nhiên là nhiều lúc phải sử dụng đến những biểu tượng lớn. Dòng sông nói lên được nhiều những đổi thay của một miền đất, một dân tộc. Núi và biển thâu tóm nhiều suy nghĩ của tác giả. Tình yêu thương lớn sẽ vượt lên những ngăn cách trở ngại mà tìm đến và gắn bó với nhau bằng muôn vàn hình thức giao cảm. Thực ra thì khởi điểm của tứ thơ loại này đã từng gặp trong Thề non nước của Tản Đà. Nhưng Nguyễn Đình Thi đã mở rộng cấu tứ và đẩy sâu suy nghĩ vào nhiều mạch liên tưởng và tạo cho bài thơ một dáng vẻ hiện đại. Nguyễn Đình Thi đã viết về những vấn đề trên với tình cảm chân thật. Anh không ghi chép cuộc sống một cách khách quan xa lạ, anh cũng không thích biểu hiện trừu tượng. Nguyễn Đình Thi chú ý đặc biệt đến những rung động và cảm xúc thơ. Cái đích cuối cùng của thơ là phải gây xúc động với người đọc. Hình ảnh trong thơ suy cho cùng cũng phải nhằm phục vụ cho sự biểu hiện cảm xúc. Trong thơ Nguyễn Đình Thi, hình ảnh góp phần quan trọng để tạo cảm xúc. Hình ảnh thực hiện chức năng đó thông qua những liên tưởng thuận chiều mà tác giả nhiều lúc đã gợi lên rất có nghệ thuật. Bài thơ Lá đỏ xinh xắn trong một cấu trúc nhỏ nhưng lại tạo nên nhiều liên tưởng đẹp và phong phú qua sự hòa hợp của các hình ảnh tương phản. Hình ảnh người em gái quê hương như bị mờ hút đi giữa đoàn quân đông đảo và bụi Trường Sơn nhòa trời lửa, nhưng lại lớn dần lên với bao cảm mến trong lòng người đẹp.


Nguyễn Đình Thi đặc biệt chú ý đến tiếng nói bên trong của thơ. Phổ biến trong các bài thơ của anh là lời dặn dò, tâm sự hoặc đối thoại giữa các nhân vật, các đối tượng: cái tôi và nhân vật trữ tình. “Thơ là tiếng nói của tâm hồn với chính nó”. Nguyễn Đình Thi đã thể hiện quan điểm trên trong sáng tác thi ca. Lời dặn dò, tâm sự, trao đổi giữa anh và em là tiếng nói quen thuộc trong thơ anh. Cuộc chia tay trong những ngày còn gian nan kháng chiến: “Yên lặng đứng trước nhau. Em, em nhìn đi đâu. Em, sao em không nói”. Phút gặp gỡ trên đỉnh cao của rừng núi Trường Sơn: “Gặp em trên cao lộng gió…”. Và những dòng thơ chia sẻ vội vàng trong nỗi đau thương của buổi chiều Vàm Cỏ: “Em ơi ở đây những đau thương… có phải em ánh biếc. Giữa xa mờ…”. Những quan hệ trên biểu thị cho tiếng nói yêu đương tha thiết và trong nhiều trường hợp chỉ là cuộc đối thoại với chính mình.


Hình ảnh người em gái thân thiết trong đời, trong thơ gợi lên nhiều yêu thương. Cũng không có một giới hạn nào hạn chế câu chuyện giữa hai người. Tấm lòng với đất nước, những suy nghĩ về cuộc đời, tình yêu thủy chung qua năm tháng, những mơ ước với mai sau… Những đối thoại nhẹ nhàng mà kín đáo với chất trữ tình đằm thắm quyện hòa theo dòng suy nghĩ tạo cho thơ Nguyễn Đình Thi một dáng vẻ riêng. Từ trong những năm kháng chiến chống Pháp anh đã viết:


Anh yêu em như anh yêu đất nước


Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần


Câu thơ trên đã nâng tình yêu từ một tình cảm riêng tư lên một tầm vóc mới gắn với những vui buồn của đất nước. Tình yêu trong thơ Nguyễn Đình Thi luôn đằm thắm, đam mê và biết gìn giữ sự trong sáng thanh cao. Nguyễn Đình Thi hiểu rõ trong tình cảnh đất nước có chiến tranh nên xa cách là tình cảnh phổ biến và nỗi nhớ là tâm trạng thường trực của tuổi trẻ trong yêu đương và trai gái vẫn luôn tìm đến nhau trong cuộc đời, trong tâm tưởng để có phút giây hạnh phúc. Thơ tình của Nguyễn Đình Thi như một cuộc chạy đuổi. Chia tay, xa cách, tìm đến, gặp gỡ rồi lại lo lắng cho hạnh phúc mong manh. Những câu thơ tình như bất an, bất an trong xa cách:


Anh đứng đây thầm gọi tên em


Xa em anh ngơ ngác


Anh gọi em anh gọi mãi


Em có nghe thấy anh không?


(Núi và biển – Tia nắng)


và cả chút mong manh, bất an khi gặp gỡ:


Tìm thấy em rồi không lạc nữa


Anh dắt tay em chạy giữa mưa


Quên những chông gai quên tất cả


Để lại sau lưng mọi bến bờ


(Buổi chiều ấy)


Năm tháng đi qua, nhưng tình yêu vẫn nồng cháy.


Trong một lần nói chuyện với các thầy giáo khoa Văn, Nguyễn Đình Thi thích những câu thơ tình bốc cháy, mãnh liệt:


Anh vẫn yêu em như lửa dữ


Và tác giả nói tiếp là phải có mức độ, phải bù đắp thêm câu thơ dịu hiền:


Như gió mùa xuân quạt dịu hiền


Trong bài thơ Chia tay trong đêm Hà Nội Nguyễn Đình Thi kết luận bằng một câu thơ rất thân thiết và có tính ôn hòa: “Anh ôm em và ôm cả khẩu súng trường trên vai em”. Trong không khí chiến tranh cử chỉ yêu đương ấy theo tác giả là an toàn. Nguyễn Đình Thi không dám phá cách. Và hạnh phúc lứa đôi trong những năm đất nước chiến tranh bao giờ cũng ước mong được bù đắp từng tháng, từng ngày. Nhưng rồi tất cả phải được quan niệm trong trách nhiệm với đất nước và hoàn cảnh chung của xã hội.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học sắp ấn hành.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info