Lý luận phê bình văn học
02.04.2009
Tư liệu
Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (16)

Công việc làm của tù nhơn. - Tù nhơn được ra làm công việc là hạng tù nhơn nhẹ tội, nên không cần phải kiểm thúc cho lắm, những công việc làm ở trong khám đại để như những việc nấu ăn, quay nước, ghính nước, quét dọn các khám, nhổ cỏ, hái hoa, sén cây, lau chùi những bức tường những viên gạch, những cống rãnh v.v... số người nhiều mà công việc có hạn, tuy vậy ngày nào cũng tìm ra cho có việc, cỏ không lúc nào không nhổ, cây không lúc nào không sén, trên mặt viên gạch chà sát cả ngày, đem sự "sạch sẽ" ở khám lớn mà so sánh với sự "sạch sẽ" ở các nhà trong thành phố mà ta thường thấy thì gấp hơn đến mấy trăm lần, điều đó thật đáng khen. Họ lại khéo lợi dụng nhơn công để làm việc, như trong đám tù nhơn ai có biết nghề gì thì họ dùng nghề ấy, ví dụ như: thợ may, thợ mộc, thợ giặt, thợ làm đèn, thợ hớt tóc v.v... Tù nhơn nào gần mãn hạn thì được đi làm những công việc ở ngoài khám, vì chắc rằng gần mãn hạn thì không trốn nữa. - Ngoài những thứ tù làm công việc ấy ra, lại còn một thứ kêu là bồi dôn (boy geole), bồi dôn cũng như những tù nhơn khác, vì biết chữ nên được làm bồi dôn, bọn nầy phần nhiều là những các thầy thông thầy kí ty nầy sở nọ, hoặc vì máu me cờ bạc, hoặc vì trai gái chơi bời, quá say mê quên cả bổn phận mình, rồi đến tiêu tiền két của chủ, cho nên mới biết đến cái ngục thất ngày nay, những người biết chữ khá thì được làm những công việc tại phòng giấy, biên chép sổ sách, thâu phát giấy tờ, công việc cũng nhẹ nhàng, đi lại cũng hơi được tự do, còn những hạng biết nói tiếng Pháp chút đỉnh, thì dùng dễ sai khiến những việc vặt, như: cầm giấy kêu tù, dẫn tù đi lại, đưa cơm, cho thuốc, hầu hạ viên xếp coi ngục cùng mọi lính tây coi ngục khác v.v... Bồi dôn được mặc thứ quần áo trắng riêng, còn ăn thì cũng như mọi tù khác, tối đến ngủ riêng một khám và khi ăn cũng ăn riêng.


Hình phạt trong khám. - Bị tội ở ngoài nên mới vào trong khám, là sự dĩ nhiên rồi, nhưng ở trong khám mà lại phạm tội nữa, thì biết xử trị thế nào, vì vậy cho nên ở trong khám cũng có đặt ra một thứ hình phạt riêng, tội nặng nhứt thì bỏ cát xô (cachot), nhưng cũng có khi đông người quá không đủ cát xô (cachot) để chứa, thì phải còng chơn và ăn cơm giắc, ngoài ra hoặc chân bị đeo giây xiềng, hoặc bị nhốt không cho ra chơi, hoặc bắt đứng không cho ngồi trong hạn mấy ngày. Những hình phạt ấy thường thấy thi hành luôn luôn. - Những tù trốn khi bắt được rồi thì cạo một nửa đầu làm dấu hiệu, thấy có lắm người tuổi đã lớn mà cạo đầu một nửa, trông cũng dễ buồn cười.


Những hạng người ở trong khám. - Khám lớn có thể gọi là một cái xã hội riêng, vì gồm đủ cả các hạng người ta nếu cứ thường ở ngoài, thỉnh thoảng mới nghe thấy "người nầy mới bị tống vô khám", "người kia mới được ra khỏi khám" thì tưởng tượng như là số người vào ra thưa thớt, chẳng có bao nhiêu, cảnh tượng khám lớn như một cái cù lao ở giữa biển, ít ai bén mảng tới. Trước tôi chưa vào khám cũng tưởng như vậy, tới khi vào khám rồi thì thấy khác hẳn, khám lớn chẳng phải như cái đảo ở nơi góc biển ven trời, mà khám lớn như một cái chợ to ở giữa nơi thành thị, hàng ngày kẻ vô người ra tấp nập, nhứt là khám lớn Saigon nầy số người các nơi tựu lại càng đông, những tù nhơn ở ngoài Trung Bắc, ở Quảng Châu Loan (Kouang Cheouwan) đem đi đày Côn Nôn (Poulo Condore) đều có ghé tại khám Saigon, chẳng thế mà trong khoảng gần 4 tháng trời, khi tôi mới vô thì số tù mới có trên sáu ngàn, mà khi tôi ra thì thấy số tù đã có trên chín ngàn rồi. Số người đã đông, thì hẳn có chia ra nhiều hạng người, "chẳng có tội sao ở tù", đã vào ở tù đều là người có tội cả, tuy vậy mà số người bị oan ức cũng không phải là ít, hạng người nghĩa hiệp, hạng người dóc thực tìm ở trong chỗ này không phải là không có, nhưng tiếc thay chỉ là một số rất ít thôi, còn thì rặt một phường gian ác: nào cướp của giết người, nào hãm dâm biển hóa, tên nầy làm đồ giả, tên kia trữ của gian, con nọ giết chồng, thằng kia phản bạn, đối với ngục thất chúng nó vào ra lắm cũng quen, không lấy gì làm e sợ cho lắm. Ở trong khám nguy hiểm nhứt là "hạng tù anh chị", hạng tù anh chị nầy phần nhiều là những hạng du côn ở ngoài, ở ngoài đã đứng vào cái địa vị anh chị rồi, vào đây cũng đứng vào cái địa vị anh chị nữa. Khi nhốt tù vô khám rồi, thì tha hồ chúng nó xưng hùng xưng bá, lấy mạnh hiếp yếu, lấy nhiều hiếp ít, những kẻ yếu sức thì bị chúng nó áp chế đến điều, nhứt là những tù mới vô càng bị hành hà khổ sở lắm, mình có bộ quần áo xanh mới lảnh đem vô, phải cởi ra cho nó thay mình có cái chiếu mới lãnh đem vô, phải trải ra cho nó nằm; gọi dạ bảo vâng, nó bảo gì phải nghe theo nấy, cực dị chỉ ban đêm nó ngủ phải thức mà đấm bóp cùng quạt hầu nó, nếu có điều chi hơi bất như ý nó là có những gót chơn đạp ngực, miếng đá ngang hông ngay, mà thế nào cũng không tránh khỏi, vì trước hết nó cũng làm một đôi bận lấy oai. Thỉnh thoảng nó mượn mình làm một vài trò chơi cho vui lòng nó, những trò chơi nầy ngoài thế giới nhà tù thì không đâu có trò chơi như thế nữa, ví như lấy giây buộc cổ người giả cách làm con khỉ của những anh khách trú vẫn đem đi hát rong phố, rồi hễ nghe "phèng phèng" mấy tiếng thì người nọ cũng phải múa nhảy đúng nhịp như con khỉ, nếu không sẽ bị đấm đạp ngay; lại bắt người bám lên trên tường giả cách làm con chim, rồi thằng anh chị giả cách làm người đi bắn, làm bộ giương súng bắn nhằm "đùng" một tiếng thì người kia phải duỗi chơn xõng xoài mà bỏ rớt xuống, dầu gãy cẳng vẹo hông mặc kệ, không được phàn nàn gì, ta thán gì! Ấy cái cách lấy mạng người mà chơi như thế, ví thử mấy tên tù anh chị nầy một ngày kia chó ngáp phải ruồi, cũng nhảy lên cái địa vị hoàng đế, hoàng điếc, thì sự hung ác có thua gì Kiệt, Trụ, Ngọa triều!... Thói thường kẻ nào mạnh thì lại được nhiều người xu phụ, vì thế nên bè đảng của nó cũng nhiều, tôn thằng đầu đảng làm anh cả, còn thì đều nhận làm em út, ai có đồ ăn gì ở ngoài gởi vào, chúng nó cướp hết, người có của nó để cho được phần nào hay phần nấy mà thôi.


Vì vậy có nhiều người nói đến chuyện ở tù thì rùng mình sởn óc, đối với cái chế độ nhà tù sợ một phần, đối với cách cư xử của mấy thằng tù anh chị sợ một trăm phần, vì những hạng hung ác ấy nếu mình đã không đủ sức đàn áp được nó, thì dẫu nói giỏi cách mấy, lí thuyết thế nào cũng không lọt tai nó cả. Theo như lệ trong nhà tù thì ai bị đánh cứ việc la lên, lính sẽ mở cửa vào can thiệp, những kẻ đánh sẽ bị đi cát xô (cachot) cả, song vì chúng nó hăm dọa, thành ra những người nhát không dám la mà trước khi la cũng đã bị đánh đau rồi, tới khi lính mở cửa vào, thì chúng nó lại bè đảng làm chứng cho nhau, buộc cho mình những điều quấy, như có một thằng nhận đi cát xô (cachot) chăng nữa, thì mấy thằng còn lại lại báo thù một cách ghê gớm hơn, dữ dội hơn! Than ôi, cùng chung một nòi giống lại cùng hãm một lao tù, huyết mạch giống nhau, cảnh ngộ như nhau, mà còn không biết thương nhau, binh vực lấy nhau, lại trở lại nồi da xáo thịt, hãm hiếp lẫn nhau, ở trong khám như thế, ở ngoài khám cũng thế, ta không hiểu nước nhà ta vô phúc vì đâu mà lại nảy sanh ra cái hạng người như thế!... Có người tù trước kia đã bị giam tại khám Bắc Liêu có nói chuyện cho tôi hay rằng: những khám lục tỉnh ở dưới quyền mấy viên quản annam thì lại càng tệ lắm, ăn uống dơ dáy, đánh đập tàn nhẫn, nhứt là mầy tên tù anh chị lại càng lộng hành lắm, nào lột quần áo của những người tù còn bị kí giam,(1) nào khảo đánh người lấy tiền, nào bắt những người có tóc phải tỉa cho nó để gởi ra ngoài bán, lính mã tà thì nhiều anh lại thông lưng với mấy tên tù anh chị ấy, bắt người có tội phải viết thơ gởi người cầm về nhà lấy tiền đút lót, ở khám Bạc Liêu có tên tù anh chị thân ở tù mà nuôi được hai vợ ở ngoài rất mực phong lưu, ấy ở tù mà đã thành ra cái nghề như thế, thì kẻ bất lương còn biết sợ hãi vào đâu? Khám lớn Saigon trước kia bọn tù anh chị cũng hoành hành lắm, nay nghe người ta nói cũng đã bớt nhiều rồi, dẫu những tên xưng anh xưng chị bao giờ cũng có, song không dám quá lộng hành như những câu chuyện ở trên, câu chuyện ở trên đối với tôi cũng chỉ là "nghe" mà thôi, chớ chưa được "thấy", là vì chúng tôi ở riêng một khám khác. Duy có một việc chúng tôi thường thấy là: những tù ra làm công việc, (phần nhiều là tù vị thành niên) nhiều khi bị tên cập ràng (caporal) đánh đập một cách tàn nhẫn lắm. Nguyên thể lệ trong khám thường lựa trong bọn tù một tên nào mạnh khỏe lạnh lợi ra dáng anh chị đó thì cử làm cập ràng (caporal) để cai quản trong bọn ấy, có đeo một cái lon đỏ vuông vuông làm dấu hiệu, những tên nào được đeo cái lon đỏ ấy nghe ra cũng rất lấy làm vinh diệu lắm, ta thấy thế thời ta lại không trách được những kẻ đeo mề đay bội tinh kim tiền kim khánh mà họ vênh mày vác mặt, lên râu với bà con cũng chẳng lạ gì! Trong khi bọn tù làm việc thì tên cập rằng (caporal) đứng chỉ bảo, ta có ý nhìn thì thấy cái áo của tên cập rằng mặc bao giờ cũng có khác những cái áo của các tù nhơn kia, lành lặn hơn và mới tốt hơn, mỗi khi miệng chỉ bảo thì thường kế đến tay đấm chân đạp, có nhiều lúc bạn tù đương ngồi cúi xuống cầm chổi chà gạch, tên cập rằng (caporal) cho ngay mấy cái gót chân vào hông, vào lưng, vào cổ mà kẻ bị đánh vẫn không dám la, không dám nói một tiếng, vẫn làm việc không dám ngẩng lên, có nhiều người khi ra tù bị những bịnh như: tức ngực, đau bạng mỡ v.v... đều là nguyên nhơn ở đấy - khám tù đàn ông có những hạng anh chị dàn ông, khám tù đờn bà cũng có những hạng anh chị đờn bà, hạng anh chị đờn bà nầy cũng ghê gớm như những hạng anh chị đờn ông kia, nào tội giết chồng lấy trai, nào tội thuốc người đoạt của, đứa mười năm, đứa mười lăm năm, đứa hai mươi năm, tánh nết đã hung tàn, ở lâu quen lại càng không kiêng kị gì, trong cái thời kì chúng tôi còn ở trong đó nghe nói viên xếp khám xét bắt được 6 con tù anh chị trong mình chứa vô số những bông tai cà rá là những đồ chúng nó cướp giựt của người ta.


Ngục thất là một nơi trừng phạt những kẻ tội lỗi, mong cho những kẻ tội lỗi đã qua một lần trừng phạt rồi thì sẽ trở nên một người lương thiện, song cứ như con mắt tôi đã thấy và suy nghiệm, thì cái số người lỡ phạm tội lỗi, tới khi đem ra trừng phạt mà biết ăn năn, biết sợ hãi, biết thẹn thuồng mà sau sẽ trở nên người lương thiện thật là số ít, còn thì phần nhiều thấy cái bộ mặt cũng đủ biết rằng không thể cảm hóa được rồi, nhơn cái khám chúng tôi ở liền ngay với cái khám nhốt những tù trọng tội, (forte à peine) mỗi khi nhàn rảnh muốn hỏi cho biết những điều gì họ phạm, thì thấy lắm cái tội do người làm ra thật là ghê gớm, thật là dữ dội, có kẻ đã phạm đến hơn mười lần. Đứng ở trên hè lầu nhìn xuống, thấy những tù nhơn xâm mình xâm mẩy, cùng là vết đâm vết chém cùng mình, trông thấy nét mặt họ không có tỏ ra cái dấu chi là buồn rầu hối hận, có kẻ nghe nói đã bị đày ra Côn Nôn rồi mà còn họp tập ăn cướp ghe chài qua lại cùng xảy ra việc án mạng luôn luôn. Thương ôi, không có cái gì thảm đạm bằng, đau đớn bằng lương tâm đã mất! Tòa án lương tâm đã không xử được, thì tòa án pháp luật cũng chưa chắc đã công hiệu gì! - Lại còn cái hạng trẻ con mới 6, 7 tuổi sắp lên, 11, 12 tuổi sắp xuống, cứ như ý ta đoán thì chỉ phạm vào cái tội ăn cắp vặt là cùng, vậy mà không biết tội tình gì có đứa đến 9 năm tù, có đứa phải đem ra tòa đại hình xử. Không biết khi quan tòa nhìn thấy một đứa con nít đứng tại trước mặt để mình tra hỏi thì cái lương tâm của người cảm giác ra sao?


Một vài chuyện lạ trong khám lớn. - Đã không vào khám lớn thì thôi, vào khám lớn thì cũng muốn trông cho rõ cái chân tướng khám lớn, nghe cho kĩ những chuyện khám lớn, đi không chẳng lẽ về không, cũng gọi là cho có chuyện! Chuyện khám lớn thì nhiều, song kể ra một vài chuyện lạ mà thôi. Nguyên những cô Tiểu thơ cắm cung ở trong khám, đã không phải một năm hai năm, có cô đến năm, sáu năm, chín, mười năm, cái tuổi xuân xanh ấy chính là cái tuổi nên cập thời hành lạc, đối với cái quang cảnh khám lớn sôn sao ngoài cửa thiếu gì yến anh, đôi khi cũng liếc mắt đưa tình, có khi lại lá thắm đề thơ gởi cho bạn tình nhân không quen biết, nhưng chết nổi thói nhà băng tuyết, trong ngoài kín mít như bưng, cao tường kín cổng, buồn tình quá mới phát minh ra một cuộc chơi giải trí, không ngờ chuyện ấy tới tai viên chef, tới khi phát giác thì trong chỗ phòng khuê cửa các xét bắt được vô số những dương vật bằng vải khâu nên, các cô vì thế mà phải tống cát xô (cachot). Câu chuyện nầy cho là một câu giai thoại trong khám lớn, cái cách chơi của chị em cũng khá ngông mà cái tình của chị em cũng khá thương vậy. Câu chuyện của chị em kể cũng còn chưa hết, song tiếc rằng không được thanh nhã nên không muốn kể ra đây. - Còn một chuyện này nữa, có một người đàn bà bị án 20 năm, khi mới vô ở tù thì hiện đương có thai, được ít lâu thì sanh ra một đứa con gái, vì đứa con gái đó không có cha, lại không có anh em thân thích gì, nên người mẹ không tiện gởi ra, mà để nuôi luôn trong khám, một năm, hai năm, ba năm, bốn năm cho tới năm, sáu, bảy, chín, mười năm rồi tới hai mươi năm, bấy giờ người mẹ kia mãn hạn được ra, thì cô con gái 20 tuổi kia đã như ở sang một thế giới khác!...


Chế độ tù ngoại quốc. - Người ngoại quốc đến xứ nầy, nếu phạm tội thì được giam riêng theo cái chế độ đã định, ngay đến như người Cao Li người Ấn Độ là một thứ dân mất nước, song nhờ núp ở dưới bóng cờ Nhựt Bổn Ăng Lê, nên cũng được biệt đãi như những dân tộc khác. Duy có người Tàu (chinois) thì bị áp chế đủ điều, vì nước Tày ngày nay chưa có một cái chánh phủ chính thức để giao tế với liệt quốc, ở Đông Dương nầy thì người Tàu chưa được phép đặt Lãnh sự (consul), nên những khách Hoa kiều ở đây đều ở dưới quyền cai trị của người Pháp cũng như dân bổn xứ, mỗi khi phạm tội gì bị tống vô khám thì cũng theo như tù bổn xứ không khác gì. Cái đó thật là một điều sỉ nhục cho nước Tàu, một dân tộc nào hèn yếu, thì đi đâu cũng bị thiệt thòi về quyền lợi về danh dự, khổ nhục thay cho một dân tộc hèn yếu ở vào giữa thời buổi cường quyền nầy!...


Chế độ tù ngoại quốc ở đây được chánh phủ biệt đãi lắm, tù nhơn được nằm hai giường sắt, được ăn cơm tây, sớm mai ăn súp (soupe), còn hai bữa trưa, chiều, mỗi bữa được dùng hai món đồ ăn thay đổi, quần áo lót mình có người giặt, tắm gội có nhà riêng, mỗi khi hớt tóc có thợ ngoài gởi vào. So sánh với cái chế độ tù bổn quốc thì thấy rằng không những ở bên ngoài họ đã đãi người mình theo một thứ người riêng, mà cả đến ở trong nhà tù cái cách chịu tội họ cũng khác với mình xa lắm. Ngay chính mắt tôi được trông thấy một tên chà (tây đen) ở ngoài làm nghề ăn xin, không biết vì việc gì bị bắt vào đây, đem cái sự sống của y ở nhà tù bây giờ so với cái sự sống của y khi còn lang thang ở đầu đường nầy só chợ khác thì thấy sung sướng hơn trước nhiều lắm. Tù ngoại quốc ở đây, trừ mấy người Annam nhập tịch dân Pháp hay dân Tây Ban Nha (Espagnol) không kể, còn thì phần nhiều là Tây và chà, kẻ thì tự tiện bắn Annam chết, kẻ thì giả làm Đốc tơ (Docteur) dễ lường gạt người ta, kẻ thì ăn cắp hột xoàn, kẻ thì gạt người lấy của, những cái nhơn vật "ăn trộm ăn cắp ăn cướp giết người" ấy mà chánh phủ trừng trị theo cách "ăn cơm tây, nằm giường sắt" như đã nói ở trên, thì không biết có phải là một phen trừng trị cho họ sửa lòng đổi lỗi không, hay là tỏ cho họ biết rằng ở tù là không đủ sợ, ở tù lại có phần sung sướng hơn ở ngoài, ở trong vòng pháp luật mà họ đã đến không sợ ở tù thì còn có điều chi kiêng nể mà không dám làm nữa. Một hôm có tên chà kia phạm tội giết một người Annam bị giam vô đó, nói chuyện với người bạn tôi rằng: "ở tù sướng lắm mà! Tao còn giết người nữa mà!" Vậy thì đặt ra ở tù là để răn dạy kẻ phạm tội, mà cách ở tù như thế lại xúi cho kẻ phạm tội phạm tội thêm, kẻ hung ác mà được thung dung ở ngoài vòng pháp luật, chính là một cái nguy cho xã hội nhơn quần. Cứ như cái chế độ ấy, thì chánh phủ đối với những bọn ăn trộm ăn cắp ăn cướp giết người kia còn ưu đãi hơn những người quốc sự phạm Annam nhiều!...


Chế độ tù nợ (dettier). - Tù nợ là những người thiếu nợ bị chủ nợ giam thâu, đối với nhà tù có nghĩa như là một người khách, mỗi tháng chủ nợ phải đóng 7$50 tiền cơm, cứ lệ đầu tháng đóng tiền, nếu quá ngày mà chủ nợ không đóng thì người bị giam nợ lập tức được thả ngay, đã thả ra rồi thì không thể giam thâu được nữa. Theo như luật ai mắc nợ từ O$01 cho tới 100$ thì bị giam 3 tháng, từ 100$ lên tới 500$ thì bị giam 6 tháng, từ 500$ trở lên thì bị giam 18 tháng, 18 tháng là hết hạn. Về việc nầy trong mấy năm nay dư luận các báo kêu ca nhiều lắm, viên Toàn quyền Varenne có hứa rằng sẽ bỏ cái lệ giam thâu nầy đi, song vẫn không thấy thi hành, về việc giam thâu nấy cũng chỉ để phần riêng cho Annam với khách trú mà thôi, còn đối với người ngoại quốc thì không có cái lệ ấy, đó cũng là một cái phần thưởng riêng cho những dân tộc yếu hèn!... Người mắc nợ bị giam thâu hết rồi, dầu không bị giam thâu lần nữa, song cái nợ ấy cũng vẫn phải trả như thường, người mắc nợ như có tài sản gì, người chủ nợ đều được phép tịch kí phát mãi để trừ vào cái số nợ của mình. - Chế độ tù nợ thì cũng được rộng rãi hơn các tù khác, thơ từ gởi đi không phải đưa qua bên Bồi thẩm (Juge Instruction) hay Biện lí (Procureur) kiểm duyệt, còn người ngoài muốn vô thăm, chỉ xin phép viên xếp coi ngục cho là được. Thấy có người mắc nợ chỉ hơn mười đồng bạc mà cũng bị giam thâu, xét ra là bởi thù hằn nhau muốn bỏ tù nhau cho bỏ ghét, chớ một bên bị câu thúc thân thể, còn một bên bị tốn tiền cơm, một bên không trả được nợ, một bên cũng không lấy được nợ, thiệt ta mà có ích gì đến ai!...


Sự sống của chúng tôi ở trong khám. - Bây giờ xin nói tiếp theo, một bọn bảy người chúng tôi, khi họ đã khám xét xong ở bên dưới rồi, theo lính dẫn lên khám mình ở, cửa khám vừa mở ra, đã thấy hai người quen là Trần Hữu Độ và Lê Thành Lư ở đó, ông Trần Hữu Độ bị bắt về việc viết sách, còn ông Lê Thành Lư bị bắt về việc viết báo Pháp Việt nhứt gia không tùng quyền sở kiểm duyệt, hai người đều đã bị giam đến hơn một tháng, cùng với bốn, năm người tù nợ cùng ở đó. Bạn cũ người xưa, lại gặp gỡ nhau ở trong khám tù, cái vẻ vui mừng cùng vẻ ngạc nhiên của hai người cùng biểu lộ ra trong một lúc không bút nào mà kể cho xiết. Người hỏi thăm câu chuyện ở trong khám, người hỏi thăm câu chuyện ở bên ngoài; vì cớ sao mà bị bắt tới đây? Vì chuyện chi giắt giú nhau một lũ vô khám? Người hỏi luôn miệng, người đáp không dứt lời, truyện vãn một hồi rồi mỗi người đi thâu xếp chỗ nằm, lính đem lên cho mỗi người một cái chiếu mới, chúng tôi trải một dải về phía ngoài cửa mà nằm, ai có quần áo đồ đạc gì cũng để luôn ở đó. - Nằm chưa nóng chiếu thì lại thấy cửa khám xịch mở, một người bước vào, trông ra thì là ông Đinh Mai,(1) anh em thấy nhau lại cười ầm lên, xúm nhau lại hỏi về việc câu chuyện bị bắt, kế lại thấy dẫn hai người là Châu Văn Muôn, Trương Văn Thập(2) đến, hai người nầy đều bị bắt giam tại bót quận thứ nhì (2e arrondissement) tự tối hôm qua, sáng hôm nay mới đưa lên Bồi thẩm (juge d'Instruction) hỏi rồi tống luôn vô khám.


Sáng hôm sau, mười người mới bị bắt hôm qua đều phải đi nhà hình (identité) chụp hình. Khi xuống đến nhà giấy đã có lính đón dẫn đi, cứ mỗi hàng hai người, lính đem còng (monotte) ra còng tay mỗi người mỗi tay liền với nhau, thế là tự nhỏ tới giờ mới biết cái còng tay, lần này là lần thứ nhứt, chúng tôi trước toan không chịu để cho còng, sau viên xếp coi ngục cũng lấy lời lẽ ôn tồn mà nói với chúng tôi rằng: đó là theo phép phải thế, vì sợ trong khi đi đường có xảy ra việc gì chăng nên phải đề phòng như vậy. Chúng tôi nghe nói mới chịu để cho còng, nhưng cũng chỉ một lần nầy thôi, sau mấy lần qua bên Bồi thẩm cùng qua tòa đều đi lại một cách thong thả, không phải ràng buộc gì nữa. - Qua tới nhà hình rồi, lính dẫn vào theo lối cửa sau, ngồi tại một dải ghế, có cả những tù áo xanh và tù đàn bà ngồi chờ ở đó. Một lát kêu từng người vào lăn tay đo mình cùng biên ghi hình dạng xong rồi lên lầu chụp hình. Ai đã đến đây chụp hình cùng lăn tay một lần rồi thì không phải làm theo lần nữa, năm 1923, tôi vì việc lấy giấy thuế thân Saigon đã có đến đây một lần, đáng lẽ thì không phải chụp hình và lăn tay nữa, song họ sợ chưa được kĩ nên lại làm lại, lăn tay cả thảy 8 bản, bản để ở đây, bản gởi về Bắc, mình đối với Chánh phủ thì coi bộ bơ thờ, mà Chánh phủ đối với mình thì cả đến những việc vụn vặt tỉ mỉ cũng là chú ý đến cả kia đấy!


Ở nhà hình ra về, được một lát thì thấy cửa khám mở, rồi thấy ông Nguyễn Huỳnh Điểu bước vào, đối với ông Nguyễn Huỳnh Điểu bị bắt vào đây, chúng tôi đã biết trước từ hôm qua, vì hôm qua khi ở phòng Bồi thẩm, đã thấy có trát bắt (mandat l'amener) ông Nguyễn Văn Long là quản lí (Gérant) báo L'Annam và ông Nguyễn Huỳnh Điểu là người coi sóc việc tiền bạc (Administrateur) cho báo ấy, vì báo L'Annam có bài cổ động về việc làm truy điệu nên hai ông nầy mới bị bắt, ông Nguyễn Văn Long nhập tịch dân Pháp (naturalisé franaise) nên được ở bên khám Tây, kế ông Nguyễn Huỳnh Điểu lại có cậu Trương Văn Thoại cũng bị bắt một lượt vô đó, Cậu Trương Văn Thoại nầy nguyên là planton các báo Đông Pháp, ngày 26 juin tức là ngày hôm qua cậu đã thân hành đến chùa Tập Phước ở Gia Định để làm lễ truy điệu Lương chí sĩ, song khi cậu đến đây thì thấy lính tây canh giữ không cho vào, có nhiều người cũng thất vọng như cậu vậy. Nhơn bấy giờ có một tốp người đem hương hoa và câu đối đến dự lễ, mà bị lính ngăn cản không cho vào chùa, họ bèn định thiết lập ngay cuộc lễ truy điệu tại gốc cây, cắm hương hoa ở đó, rồi mượn cậu Thoại leo lên cây để treo câu đối, cậu Thoại vừa leo lên thì bị lính bắt ngay; còn câu đối nọ thì mấy tên lính giựt xuống rồi giẵm chơn lên trên, mấy người đứng đó trông thấy thế thì đau lòng quá, có người giảng cho tên lính kín kia nghe một bài học về chủng tộc, thì người đó liền cũng bị bắt ngay về bót, đến mãi ngày hôm sau mới được thả ra, người nầy nghe đâu làm công cho một hãng buôn kia, sau đó ba ngày thì cũng bị hãng buôn ấy đuổi không cho làm nữa.(1) - Cậu Trương Văn Thoại bị bắt về bót rồi, ngày hôm sau dẫn lên Bồi thẩm (juge Instruction) rồi tống vô khám. Nhơn hỏi thăm cái quang cảnh lễ truy điệu ngày 26 Juin tại Saigon thì thẩy thuật chuyện lại rằng: hôm ấy cuộc lễ dẫu không thành, song số người tựu lại chùa Tập Phước để chực làm lễ cũng đông lắm, và ở Saigon mấy tiệm buôn Annam đóng cửa gần hết. Anh em nghe nói vậy thì đều mừng thầm, nếu chúng ta nhìn biết việc nghĩa nên làm cứ hăng hái mà làm, bền bỉ mà làm, thì kẻ kia dẫu ngăn đón chúng ta về đường hình chất, song không thể ngăn đón chúng ta về đường tinh thần, việc làm của chúng ta thành hay không thành chỉ ở nơi tinh thần chúng ta mạnh hay không mạnh mà thôi.


Hai hôm sau, lại thấy bắt thêm vào ông Trần Văn Chức nữa, thế là trong số 14 người kí tên vào lời khai làm lễ truy điệu đã bắt được 11 người, còn ba người nữa là ông Nguyễn Văn Lộc, Hà Huy Giáp, Vỏ Khắc Thiệu thì đã có trát bắt (mandat d'amener) song chưa kiếm được(2). Hiện trong khám ngoài số bốn người tù nợ thì có mười lăm người thuộc về tội chánh trị, mười lăm người ấy nhờ có chánh phủ giới thiệu mà được họp mặt một nhà, ăn cùng một mâm, nằm cùng một chiếu, gà chung một mẹ lại cùng nhốt một chuồng, cái cảm tình yêu nhau thương nhau tự nhiên nó phát sanh ra vậy.


Về phần cơm nước thì đã có người ngoài cung cấp, ngày hai buổi sách gào men (gamelle) đến cửa khám, thì có bồi geôle đem lên, đồ ăn đem vô đều có qua tay lính canh ngục (gardien) khám xét, khám xét một cách rất kĩ càng, như lấy đũa trộn cơm lên, bẻ đôi chiếc bánh mì ra, làm như thể là phòng có gởi trộm đồ vật gì vào chăng. Theo như chế độ nhà tù, thì bữa cơm của những người tù phạm tội về chánh trị cũng chẳng khác chi bữa cơm của những người phạm tội thường. nghĩa là cũng gạo lứt, cũng cá khô, cũng bí đỏ, chỉ duy có ngày chủ nhật và chiều thứ bảy là được nếm mấy miếng thịt heo, đối với những phẩm vị cao lương mình đã trải, đối với những giả vị lê hoắc mình từng quen, còn thiếu cái phong vị "cơm tù" nữa thì chuyến nầy cũng được nếm nốt. - Chúng tôi vô khám hôm trước thì hôm sau có cơm ở ngoài gởi vào ngay, ngoài ra lại còn những quà bánh của các bạn hữu gởi vào, trong bốn tháng trời, lúc nào trên gác đồ ăn cũng chứa đầy những bánh mì hộp sữa bích qui (Biscuit) sô cô la (chocolat) và các món đồ ăn khác. Có một đều lạ là khi tôi ở ngoài vốn là người làm biếng ăn, có khi cả tháng không được một bữa cơm ngon, hằng ngày ngoài hai bữa ăn buổi trưa buổi chiều ra, thì không ăn miếng gì khác nữa, sau khi đi tàu Caravellas(1) bị bão tới giờ, thì bánh mì sữa bò tôi đã coi như hai kẻ thù, không những mình không ăn mà trông thấy ai ăn cũng chán ngán, anh em nhiều người thấy tôi ăn ít như vậy thì vẫn phàn nàn cho cái nỗi ốm yếu của tôi không được mạnh mẽ như người để làm công việc. Tôi lại phải cái thói quen ăn chậm, mỗi bữa ăn kéo dài tới hàng giờ chưa dứt, nhiều khi phải làm phiền lụy cho đầy tớ người nhà, vậy mà từ khi vào khám tới nay thì những cái con ma ăn ít ăn chậm ấy đã biến đâu mất cả, mỗi bữa ăn thật ngon, thật nhiều, thật mau chóng, sáng ăn, trưa ăn, chiều ăn, tối ăn, con đường ăn của anh em tấn bộ tới đâu thì mình cũng theo được tới đó, không chút sụt lùi. Vì thế mà thân thể cũng thấy mập mạp hơn trước và sức mạnh cũng tấn tới hơn xưa, hỏi ra không những một mình tôi, các anh em ai cũng như vậy cả. Chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng: chúng ta ở trong cái khám chuyên chế, hút thở cái không khí chuyên chế, đáng lẽ phải gầy ốm tiêu mòn đi mới phải, thế mà lại mập mạp mạnh khỏe lên, vậy thì cái sức chuyên chế kia chỉ là giúp thêm cho cái sức sanh trưởng của chúng ta mà thôi! - Trước khi chúng tôi chưa vào thì nghe nói rằng mỗi bữa ăn phải ngồi ăn tại ngoài hàng hiên (véranda) trời tạnh nắng còn khá, trời mưa ướt thì thật là khó chịu. Khi chúng tôi vào, thì đã thấy được ngồi ăn ở trong nhà, rồi sau thì có bàn ghế ngồi ăn chững chạc. Ăn xong, mỗi người đều tự rửa lấy chén bát của mình. Muốn cho phục dịch được công bằng nên chúng tôi cắt phiên nhau mỗi bữa một người làm bồi geôle, để dọn cơm lau bàn lau ghế quét nhà, cứ như những công việc ấy nếu mình không vào khám thì chắc không bao giờ biết làm, ngày thường dẫu có cho là việc cần nên biết chăng nữa thì cũng không có dịp mà làm, vậy thì ở tù cũng không phải là không có ích. Về việc hút thuốc thì trước khi mỗi khi ra chơi mới được hút ở ngoài hiên, về sau nầy thì lệ ấy bỏ đi, ở trong phòng cũng được hút thuốc tự do không ngăn cấm gì cả. Theo như thể lệ trong khám thì không được phép dùng dao, nếu xét thấy dao thì sẽ bị phạt nặng, lại không được nấu nướng ở trong phòng, những việc đó đều là cấm ngặt cả. Chúng tôi ở trong cái khám kín nầy, cũng chẳng khác gì Lỗ Bình Sơn (Robinson) ở ngoài hoang đảo, đồ vật gì cần dùng đều phải tự mình chế tạo lấy cả, như lấy miếng sắt tây (sắt tây do những hộp đựng bánh) mài làm dao. Mỗi khi muốn nấu nướng vật gì, thì lấy cái ngăn gào mên (gamelle) làm nồi bắc lên trên, rồi quấn mồi thẩm dầu mỡ đốt bên dưới, mỡ thì lấy ở những miếng thịt heo hôm chiều thứ bảy và chiều chủ nhựt để dùng, cái cách lợi dụng cũng đã thật là châu đáo, vì vậy anh em tối nào cũng húp súp sô cô lat (soupe chocolat) nóng luôn luôn!...


Việc ăn uống thì như bên trên đã kể qua rồi, còn việc tắm giặt thì cũng được thuận tiện. Ở góc phòng có xây riêng ra một cái ngăn, để một chum nước lớn và hai chum nước nhỏ, mỗi ngày hai buổi sáng chiều có những tù áo xanh vào quét dọn trong phòng và đổ nước cho đầy, vì vậy mà nước dùng không bao giờ thiếu. Quần áo thì ai muốn giặt ở trong hay gởi ra ngoài cũng được. Có một điều làm cho tôi xúc cảm đến hôm nay hãy còn nhớ là: Ở trong phòng có một cái thau rửa mặt của người bị giam nợ trước đem vào rồi bỏ lại, thau không lớn chỉ độ một gáo nước là đầy, mình ở ngoài mỗi khi rửa mặt bằng thau lớn, mà phải đến hai thau nước thật đầy mới đủ dùng, khi mới vô trông thấy cái thau nhỏ chẳng khác gì cái chén, mỗi khi rửa thấy khó chịu, rồi sau lần lần cũng thấy quen đi, cái thau nhỏ bằng cái chén kia bấy giờ trông không thấy nhỏ nữa, mà cũng thấy lớn như cái thau vẫn rửa ở nhà. Nhơn thế mà sực nghĩ ra rằng: cái hoàn cảnh cùng với cái tánh quen của người rất dễ cảm hóa, có nhiều điều trước kia ta lấy làm khó chịu, rồi sau ta cũng lấy làm quen, các nước mạnh đi chiếm thuộc địa, nuôi cho dân thuộc địa lấy cái tánh phục tòng những sự áp chế, trước kia lấy làm khó chịu rồi sau cũng thấy dễ chịu lần, lâu rồi thì không biết rằng áp chế nữa. Cái hoàn cảnh nó di chuyển tâm hồn người ta cũng thật đáng ghê!...


Góc phòng có một cái cầu tiêu làm lủng vào trong tường, có máy giựt nước, mỗi ngày hai buổi có tù áo xanh vào quét rửa rất sạch sẽ, và lúc nào cũng vảy cờ rê din (crésil) luôn, ai đi tiểu đều có xối nước, vì vậy mà dẫu ở đông người cũng vẫn giữ được sạch sẽ.


Về việc hớt tóc thì ai muốn hớt cứ biên giấy cho viên xếp khám ở trong khám đã lựa sẵn những tù nhơn ở ngoài làm nghề hớt tóc để hớt cho những tù nhơn, đồ dùng đã không sẵn sàng, nhiều khi lại không phải tay nhà nghề, nên chỉ là tạm hớt cho đầu tóc lâu ngày khỏi bù xù mà thôi. Chúng tôi trước kia mỗi khi hớt cũng phải dùng thợ ở trong khám như vậy, sau nầy mới được phép người ngoài gởi thợ vào; còn ai muốn cạo râu thường, thì những đồ cạo cứ gởi ngay tại khám, khi nào muốn cạo sẽ biên giấy cho viên xếp khám hay.


Ở trong khám có nhà thương riêng, mỗi ngày quan thầy thuốc đến một lần, ai có bịnh gì thì biên giấy xin xuống cho quan thầy coi mạch, còn mỗi ngày đều có khán hộ (infermier) đem những thứ thuốc vặt lên, như ho, nóng, tức ngực, đau mắt, thuốc xổ v.v... để ai muốn dùng thì dùng. Nếu là bịnh nặng thì phải xin giấy đi nhà thương Chợ Rẫy. Trong bọn tôi có một người đã đi về thuật chuyện lại rằng: ở trong nhà thương về sự ăn uống thì được tử tế, song cách ăn ở thì cực kì dơ dáy, cho thuốc cũng sơ sài, hình như đối với mạng sống của tù nhơn không lấy chi làm quan thiết cho lắm, những bịnh nặng liệt giường liệt chiếu ban đêm như có muốn kêu gọi việc gì cũng không ai vì đến, rủi có chết cũng không ai hay. Lại thêm ăn chung ở lộn với tù nhơn hung ác, cái cách chơi của anh chị ở nhà thương cũng chẳng khác chi cách chơi của anh chị ở trong khám, mà có phần lại lộng lẫy hơn. Than ôi, đau bịnh phải đi nhà thương, mà cái chế độ nhà thương như thế, thì sự "đau" với sự "chết" có xa nhau bao nhiêu.


Về việc người ngoài đi thăm thì mỗi chúa nhựt nhằm ngày thứ ba và ngày thứ sáu là dễ xin giấy hơn hết, khi còn bị giam thì xin giấy tại Bồi thẩm, khi đã thành án rồi thì xin giấy tại Biện lí, nếu không phải vợ chồng anh em bà con thì xin giấy có điều khó hơn. Khi đã xin giấy được rồi thì đem lại cửa khám lớn, bồi Geôlo cầm giấy đưa lên phòng kêu tên người mà ở trong giấy xin thăm, người kia đưa đính bài (Numéro d'écrou) cho lính canh ngục coi rồi thì theo bồi geôle xuống đứng chờ tại hàng hiên, có lính canh ngục tây và lính mã tà cắt phiên gác ở đó, họ khám xét xong rồi, thì mở cửa cho người thăm vào nói chuyện, những đồ vật đem theo vô đều có khám xét rất kĩ càng. Theo lệ thì người vào thăm được nói chuyện trong năm phút, song thường thì chẳng có hạn định gì, tùy ở tên lính canh ngục khó dễ mà cho nói chuyện lâu mau, gặp được lính canh tử tế thì nói chuyện chán thôi, có khi cũng không khám xét gì; gặp phải lính canh ngục khó chịu, thì nhiều khi chuyện chưa thành câu đã bị xua đuổi. Bữa viên chủ ngục (Directeur de la prison) vào thăm chúng tôi có nói cho nghe về việc giờ thăm không hạn định và có lắm tên lính canh ngục đã khám xét mình mẩy một cách vô phép, thì viên chủ ngục hứa rằng sẽ canh cải cái tệ ấy. Quả nhiên mấy hôm sau thấy phái đến một người tây hàng ngày ngồi chực tại cửa gêole để xem xét trong khi những người thuộc về tội chánh trị mà có người vô thăm, từ đó những người vô thăm chúng tôi mới được nói chuyện lâu, và cái tệ khám xét thân thể một cách vô lễ của mấy tên lính canh ngục dã man kia mới không dám dở ra nữa. Theo lệ xưa nay thì những người còn bị giam, bất cứ thuộc về tội chánh trị hay tội thường, đều được mỗi tuần lễ thăm một lần vào ngày thứ sáu, khi đã bị kêu án rồi thì mỗi tháng chỉ được thăm một lần vào đầu tháng ngày thứ ba, cái cảnh ngày thứ ba đầu tháng, trước hiên khám lớn kể chuyện có trăm người, vợ nào chồng nấy, ngồi ra hai dãy, nó ồn ào chẳng khác gì họp chợ. Tù áo xanh mỗi khi có ai vô thăm cho đồ gì thì lính thường san lấy một ít để chia cho tù xữ tữ, vì tù xữ tữ thì không còn có ai thăm nữa. - Trong bọn 19 người chúng tôi, thường ngày nào cũng có người vô thăm, nhứt là ngày thứ sáu thì quang cảnh trong phòng chẳng khác gì ngày hội, đối với người vô thăm coi như một người lính vận lương, một người trạm bao tin tức, vì khám lớn bịt bùng không còn biết tin tức gì ở ngoài, chỉ mỗi khi có người vào thăm là báo cho biết mà thôi. Ở trong khám không được coi nhựt trình, nên mỗi khi đồ ăn ở ngoài gởi vào gói bằng thứ nhựt trình Tây, Nam gì nếu bị lính canh ngục trông thấy thì giựt lấy ngay, đôi khi lọt được một đôi mảnh vào trong phòng thì quí hóa lắm, xúm lại coi, coi không sót chữ nào, tờ nhựt trình ở trong khám thiệt là có giá trị lắm vậy. Sau khi Đốt sê (dossier) của chúng tôi đã giao qua bên Biện lí để đem ra tòa xử rồi, thì những người vô thăm phải xin phép Biện lí, trong khi xin phép có nhiều sự khó khăn, tôi còn nhớ có một bức thơ gởi cho viên Bồi thẩm, trong đó có một đoạn rằng:


"Mấy tuần nay người nhà tôi xin phép vô thăm, xin bên Bồi thẩm thì bảo qua bên Biện lí, xin bên Biện lí thì bảo qua Bồi thẩm, vậy xin ông trả lời cho tôi biết rằng phải xin bên nào? Ông biện lí lại còn bảo người nhà tôi chỉ mỗi tháng mới được phép vô thăm một lần. Tôi xin nói rằng: cái cách đối đãi với những tù nhơn phạm tội thường kia không thể đem đối đãi với những người tù phạm tội về chánh trị được!


"Cái chánh phủ nầy đối với tôi thật là tử tế mọi đường , đã ban cho tôi cái đặc ân là giam bốn tháng trời không thèm hỏi đến, bây giờ lại ban cho cái đặc ân nữa là cách tuyệt với người nhà, thật là đối với ông Giám quốc kia cũng không được săn sóc ân cần đến như thế!(1)


(còn tiếp)


Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, tập 2. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.


 

trieuxuan.info