Lý luận phê bình văn học
07.01.2018
Lê Quang Sinh
Biển đảo trong trường ca Biển của Hữu Thỉnh



Tôi biết nhà thơ Hữu Thỉnh từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước. Lúc ấy, anh và nhà thơ Thanh Thảo là thần tượng của nhóm sinh viên Bách khoa yêu thơ . Hàng tháng, mỗi lần sinh hoạt nhóm, chúng tôi thường đem thơ anh cùng nhau đọc, bình phẩm, xem ai thuộc thơ, hiểu thơ anh nhiều nhất. Gần gũi anh trong sách báo cả chục năm mới gặp anh ngoài đời rồi như một định mệnh tôi lại được chia sớt cùng anh trong công tác ở Hội nhà văn Việt Nam ngót nghét cũng đã gần 20 năm.


Gần anh, nhiều lần bắt gặp, chứng kiến những xúc cảm, những rung động bất chợt mà từ đó làm nên tên tuổi thơ anh. Tôi trở nên giàu có hơn nhiều về một Hữu Thỉnh lãng mạn và sâu sắc.


Trước không gian rộng lớn, không bị che chắn, tầm mắt anh được đẩy đi vô hạn, bật nở… lúc ấy tôi có cảm tưởng sự ám ảnh trong anh kết đọng đến hồi trào dâng một thứ dung nham mang hơi nóng trầm tích.


Thực thể biển là một không gian bao la nuôi dưỡng, tạo nguồn, lưu giữ các nền văn hóa cho mỗi thời đại. Việt Nam là một quốc gia biển, nên nó còn là một phần lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc, là “đường link” kết nối với thế giới. Trong bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng, biển đảo như là một chủ đề, một dòng chảy. Thơ Hữu Thỉnh đóng góp sự đột phá, góp sức khơi thông dòng chảy chung đó.


Trong chiến tranh chống Mỹ, trên đường đi vào chiến trường, nhiều lần qua khu bốn, vượt đèo Ngang, Hữu Thỉnh có rất nhiều bài ghi chép, nhiều bài thơ về biển. Do đó cho nên Đường tới thành phố - Một trường ca viết về chiến dịch Hồ Chí Minh, anh đã dành trọn phần Hồi âm – Kết thúc của trường ca với gần 70 câu thơ để nói về biển, đảo. Nhiều lần tôi cứ tự hỏi: Vì sao, một trường ca viết về chiến dịch Hồ Chí Minh lại không kết thúc ở Sài Gòn mà lại kết thúc ở đảo? Tôi tìm hiểu và được biết rằng: Về lịch sử mà nói, đồng thời với chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn, Bộ Tổng tư lệnh điều một đoàn tàu ra giải phóng các đảo. Cuộc chiến tranh giải phóng đất nước của chúng ta chỉ có ý nghĩa thực sự trọn vẹn khi hoàn thành việc cùng với giải phóng đất liền là giải phóng được các đảo, giang sơn thu về một mối. Chính vì thế, Hữu Thỉnh có lý khi để một kết thúc mở cho trường ca Đường tới thành phố. Đó cũng là bước chuẩn bị có tính tiền đề cho những nỗ lực sáng tạo về sau của anh.


Hữu Thỉnh cũng đã nhiều lần đi thực tế ở một số tuyến đảo phía Bắc (Dù rằng anh chưa có dịp đi đến Trường Sa, Hoàng Sa do điều kiện khó khăn lúc bây giờ), và anh đã gặt hái được nhiều thành quả. Một chùm thơ viết về đảo: Gởi từ đảo nhỏ, Tiếng gà trên đảo, Biển nỗi nhớ và em… đã mang đến bạn đọc những hy vọng về bút lực, về những khám phá mới của anh trong tương lai:


Biển vắng cỏ non vẫn biết mùa xuân đến


Khi trông bờ ngắm một lá thư thăm


Biển xanh quá ước gì anh gói được


Nhờ con tàu bè bạn đến tay em.


(Gửi từ đảo nhỏ)


Hay:


Ai mang quê ra đảo


Ló một tiếng gà trưa


Bao nhiêu là súng pháo


Ngây thơ như cày bừa.


(Tiếng gà trên đảo)


Hay:


Anh xa em


Trăng cũng lẻ


Mặt trời cũng lẻ


Biển vẫn cậy mình dài rộng thế


Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn.


(Biển nỗi nhớ và em)


Đáng chú ý cũng trong thời gian này, Hữu Thỉnh cho ra mắt bài: Phan Thiết có anh tôi. Đây là một trong những bài thơ hay nhất của anh lúc bấy giờ. Bài thơ không phải viết riêng cảm xúc về biển, nhưng tất cả những câu thơ về biển có trong bài đều làm ta rung động và cũng chính nó như một liều thuốc phóng đưa bài thơ đi xa hơn:


Chính ở đây anh thấy biển lần đầu


Qua cửa hầm


Sau những ngày vượt dốc


Biển thì rộng căn hầm quá chật


Khẽ trở mình cát để trắng hai vai.


Hay:


Biển ùa ra xoắn lấy mọi người


Vì yêu biển mà họ thành sơ hở


Anh tôi mất sau loạt bom tọa độ


Mặt anh còn cách nước một vài gang.


Tất cả những bài thơ đó là chất liệu, là sự chuẩn bị vật chất để anh viết trường ca Biển. Sau trường ca Biển anh còn viết thêm một loại bài thơ nữa về biển như: Cát thở, Cù lao chàm, Căn hộ biển…Viết về biển là một hợp âm với điệp trùng sóng vỡ, đa thanh, đa sắc sống động của Hữu Thỉnh, một vệt chói sáng song song với thơ viết về đất liền, trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước của hành trình thơ anh. Hữu Thỉnh là người viết về biển sớm (không nói là sớm nhất) và có nhiều thành tựu, trong đó trường ca Biển được giải nhất Bộ Quốc phòng năm 1994 và giải thưởng Hồ Chí Minh.


Chương một: “Dốc biển” là cuộc đối thoại giữa một bên là người lính một bên là biển. Nói đúng hơn đấy là cuộc đối thoại giữa dân tộc Việt Nam sau chiến thắng 30/4 giải phóng hoàn toàn miền Nam với vùng biển thân yêu của Tổ quốc. Những suy tư được đặt ra, những hiện thực được lý giải, những bài học được đúc kết sau cơn say chiến thắng. Đó là những thách thức (Dốc biển) mà dân tộc phải đối diện, nó cũng không kém phần khốc liệt như bất cứ một thứ “dốc” nào dân tộc đã trải qua trong quá khứ trên đất liền. Cũng chính từ đó giúp chúng ta bình tĩnh lại sau những khó khăn chồng chất thời kỳ hậu chiến để kịp thời đề ra những đối sách thích hợp vượt qua thách thức:


- Mẹ dặn tôi: Ra sông lấy sóng mà yêu


Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin


Tôi đã tin và chưa hề bị ngã


Biển nói:


- Không ngã chưa chắc đã khỏi chìm


Người lính nói:


- Có bí quyết gì sau lớp sóng kia chăng?


Biển nói:


- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.


“Sống với nước hãy bắt đầu từ nước” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một triết luận, một sự cảnh tỉnh, một sự tỉnh ngộ sau những “éo le”, “dang dở”, “cay đắng” mà dân tộc đã nếm trải trên con đường vươn ra biển lớn:


Người lính nói:


- Bao vốn liếng cả một đời góp nhặt


Bước xuống tàu bỗng thành kẻ tay không?


Biển nói:


- Những chiếc huân chương còn soi sáng trên bờ


Sống với nước hay bắt đầu từ nước.


Chương hai: “Cát” là một chương thú vị. Cát được nhân cách hóa thành người đồng hành có cùng số phận với người lính đảo với đầy đủ những éo le, ngang trái cùng với sức chịu đựng phi thường. Vẫn thấy bóng dáng cách lập ngôn, lập tứ, cách tạo dựng những cung bậc cảm xúc của Đường tới thành phố, nhưng những nghiền ngẫm thế cuộc sâu hơn, thấm đẫm hơn; câu thơ được âm thầm làm mới bằng nỗ lực của một con người không chịu thỏa mãn, không chịu bằng lòng với những gì đã có. Nếu thái độ của người lính khi nghĩ về Tổ quốc trong Đường tới thành phố: “Trời ơi, nếu kẻ thù chiếm được/ Chỉ một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn/ Tổ quốc sẽ ra sao?Tổ quốc?/ Thơ ơi thơ hãy ghì lấy gốc sim”, thì trong trường ca Biển cách nói chừng như gọn hơn, mới hơn: “Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình/ Đảo có lính cát non thành Tổ quốc”.


Hơn cả những gì người lính trong chiến tranh phải đối diện, người lính đảo thời bình còn phải biết “gồng mình” trước khoảng trống mênh mông của biển cả; trước những réo sôi đến lặng người của sóng và cả những yên tĩnh trống không ngay trong chính lòng mình:


Chúng tôi là lính đảo thời bình


Phải gồng mình cả khi yên tĩnh nhất


Để chống lại cái khoảng trống kia


Chực len vào giữa bạn và tôi


Cái khoảng trống lạnh tanh vô nghĩa


Có ngay trong chính bản thân mình.


Lấy “Cát” làm chủ thể, “Cát ở đây là tất cả”, cát hiển hiện trong không cùng, trong số phận người lính “Không có chỗ nào không có cát/ Không có điều gì không có cát”; “Chúng tôi vốc cát lên/ Chúng tôi nghe cát nói”. Người lính sống cùng cát, ăn nằm cùng cát, lấp đầy cùng cát. Người lính và cát, cát và người lính ngào trộn vào nhau trong bi tráng làm nên gương mặt đảo:


Chúng tôi cùng nhau bới cát


Chôn anh thêm một lần


Cát và cát


Ngày lại ngày mới


Cát và cát


Ngày lại ngày trắng


Trắng như bàn tay trắng chúng tôi


Úp lên số phận bạn mình.


Ở chương ba: “Tự thuật của người lính”. Với vốn kiến thức và những hiểu biết sâu sắc được tích lũy có hệ thống từ những năm tháng sống ở nông thôn và trong đời lính, Hữu Thỉnh đã "thao lược" tài tình và đầy hiệu quả trên những trang viết thật sự cảm động, có khả năng gây ám ảnh cao. Cũng thấy đâu đó bóng dáng người lính trong Đường tới thành phố năm nào: “Chúng tôi chưa bao giờ yên tĩnh/ Đi như sông hiếu động như rừng/ Đã để lại thảnh thơi cho cỏ/ Và nhận về giông bão trên lưng”, nhưng người lính đảo thời bình có gì đó mang nhiều suy tư hơn :


Cơn lốc đen đánh úp lá bàng


Tôi cảm thấy mùa thu đang mất máu


Một chút lửa hoa dong riềng cuối dậu


Sợ một ngày sương muối đến đem đi.


Người lính ra đi từ làng, mang theo “tất cả những gì” làng có vào quân ngũ. Hữu Thỉnh sinh ra và lớn lên từ làng quê, hơn ai hết anh am hiểu vừa cặn kẽ, vừa tinh tế. Những câu thơ của anh thấm đẫm hồn vía ca dao, tục ngữ vừa hồn nhiên vừa xa xót:


Con mang về con bống của mẹ đây


Từ những ao chum nghìn xưa để lại.


Hay:


Con đi mót gặp toàn gốc rạ


Chiếc nón mê tha thủi giữa đồng.


Hay:


Cha đi vắng tôi trèo lên cây ổi


Cây ổi cho một búp sâu kèn


Và cứ thế với sâu kèn tôi hát


Cố tin rằng tôi không bị bỏ quên.


Và đôi khi sắc lẻm, làm bao con tim “rớm máu”:


Không ai nói với tôi rằng hoa bưởi sắp tàn


Chiều chỉ có một mình chim gõ kiến


Hoa sim tím quả sim cũng tím


Đồi treo đầy những túi mật trung du.


Tôi có cảm tưởng mỗi lần Hữu Thỉnh viết về quê, thơ anh như “vòi sen được mở ” ào ào tuôn chảy, đọc câu nào cũng hay, cũng gần gũi, cũng thẳm sâu với đầy đủ hương vị, màu sắc không đoán định được:


Cá rô rạch ngược mưa rào


Hám gì bỏ nước cầu ao vào lờ.


Ở chương bốn: Đất này. Đó là câu chuyện mở cõi, tiếp đất ra đảo, xây chắn “phên dậu”, định dạng hình hài Tổ quốc:


Đất đi qua biển thì mau


Người đi qua nỗi khổ đau thì dài.


 


Đảo không đơn độc, đất liền với đảo là một. Hữu Thỉnh sẽ rất thiếu sót khi viết Trường Sa chỉ cho người ta biết về Trường Sa mà cùng lúc đó ở phía sau lưng kia, ở phía hậu phương xa thăm kia là cuộc sống ở đất liền, là số phận những người ở đất liền. Vẫn là cách nói sắc lẻm, chặt chẽ “Đất chẳng bao giờ héo/ Trời thăm thẳm không mòn/ Khi vui chán vạn khi buồn một ta”, trường ca Biển lại bung tỏa sang một chiều cảm nhận khác. Đó là công cuộc củng cố bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc mà “Không có đất không thể nào sống được”, và định hình như một chân lý khi đến với đảo:


Đất đi đến đâu quê hương theo đến đấy


Quê hương đi đến đâu máu đi theo đến đấy


Máu chẳng bao giờ cũ


Cuốc cuốc cứ kêu hoài.


Chương năm: Hóa thạch những dòng sông, là chương chất chứa nhiều sáng tạo của Hữu Thỉnh, anh quan sát và suy ngẫm với nhiều chiều kích, biến hóa trong tự tại, có nhiều cách nói mới lạ. Viết về sông mà như viết về một đời người vậy:“ Những dòng sông quờ quạng tìm nhau/ Dưới đáy biển/ Những dòng sông chết/ Biển âm u đáy huyệt/ Hồn sông đi lang thang”; “ Sông góp củi cho nồi cơm lớn/ Lòng vị tha là người khách sau cùng”; “Sông đi sông đi vật vờ sông đi/ Tìm lại mình trong biển/ Biển nói bằng muối chát/ Sông không nghe được gì”… Sông có tất cả những gì thuộc về con người, sông như con người “Sinh ra sông để đem cho”:


Ta bới sóng đi tìm các dòng sông


Gặp cái chao chân khi em mười tám tuổi


Ta đi vớt tiếng sáo diều đắm đuối


Thúc ba hồi trống quân.


Hay:


Ta bới sóng đi tìm các dòng sông


Thấy cau bỏ già


Trầu không để úa


Yêu nhau không lấy được nhau.


Hay:


Ta bới sóng đã lâu


Tìm thấy sông hóa kén



Và đó là tất cả những gì thuộc về “gia tài” của sông đem cho khi gặp biển cuối cùng. Một cuộc hóa thân vào biển “ Trọn vẹn huy hoàng như cho thơ”, và “Khi không còn thứ gì để cho, sông như tráng sỹ không còn vũ khí, giáo chủ không còn mật kinh, võ sư không còn bí quyết, sông như nghệ sỹ đã sắm xong vai, một kẻ trắng tay giàu có đo mình bằng kích thước của biển”. Nhìn ra biển để thấu hiểu tận cùng sông cũng là cách nhìn vào nguồn cội của dân tộc mà hiểu tận cùng số phận từng con dân vô danh, đó cũng là cách như sông trao mình cho mênh mông biển:


Sông trao mình cho biển


Như cây trao bóng cho rừng


Về biển thì hết sông


Không về thì không được.


Đó cũng là cách ứng xử đối với biển đảo như cách ứng xử với độc lập, tự do của dân tộc Việt.


Chương sáu: Chương cuối cùng của trường ca Biển được Hữu Thỉnh đặt tên: Bão biển. Có lẽ sau những gì xảy ra ở Cô Lin, Gạc Ma,…báo động cho toàn thể dân tộc Việt nguy cơ về một cơn “bão biển” đang tới gần, gặm nhấm bờ cõi, biển đảo của chúng ta; mưu toan xóa sạch ý chí độc lập tự do, thay đổi biên giới quốc gia của chúng ta:


Bão vò cây gào rít điên cuồng


Tóc của bão là lá cây rách tướp


Tay của bão là sóng thần rợn ngợp


Cả đất trời say sóng ở Trường Sa


Trong bão gió chúng tôi đo Tổ quốc


Bằng đôi tay vượt biển lính xa nhà.


Cuộc đối mặt trước bão là cuộc đối mặt sinh tử, một mất một còn, người lính nói riêng và dân tộc Việt nói chung không có quyền lựa chọn, không cho phép lưỡng lự, không còn chỗ cho sự tháo lui:


Bão bức anh khỏi đảo


Như chiếc đinh bật khỏi con tàu.


….


Như triệu năm quyết liệt quay về


Tìm lại đảo


Một chỗ đứng, một tên gọi


Cả vũ trụ so găng đấu với một mình anh


Nghìn cái chết kéo co với sinh linh bé nhỏ


Tất cả những gì chưa sống nói với anh không thể chết


Tất cả những gì đã chết nói với anh phải sống.


Hữu Thỉnh đã viết chương sáu để kết thúc trường ca Biển với giọng thơ bi tráng nhất, nhưng cũng oai hùng nhất, khí phách nhất, đó cũng là việc mà cả dân tộc phải làm trước lịch sử:


Bao hiểm nguy con xin lại bắt đầu


Con xin lại bắt đầu từ lời ru trong suốt


Ra sông lấy sóng mà yêu


Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin


Con lại lao ra biển


Một chiếc phao thoi thóp bơi đi…


Trường ca biển có sáu chương. Từ chương một đến chương năm, kết thúc mỗi chương đều có một phần: Lời sóng. Về cấu trúc Lời sóng là một kiểu Đất ru trong trường ca Đường tới thành phố. Nhưng khác ở chỗ: Đất ru là lời ru cho những người lính đã khuất. Sau mỗi chương lời ru được kéo dài thêm thể hiện sự mất mát ngày một lớn dần theo thời gian cuộc chiến. Còn trường ca Biển với: Lời sóng 1, lời sóng 2, lời sóng 3,… là những tâm sự, những khúc ru bát ngát được mở ra với những âm hưởng khác nhau: Ở đây không phải chỉ ru cho vong hồn những người lính đã chết mà cho cả số phận những người lính còn sống, không phải ru cho người lính xa nhà mà cho cả những người ở hậu phương, không phải chỉ ru cho cái hữu hạn mà ru cho cả những cái vô hình, nó như ngàn lớp sóng vỗ ập òa đập vào vách đảo ngân vang với bao số phận cùng chung số phận với dân tộc. Đó cũng là một dấu ấn của sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo, làm mới thơ mà Hữu Thỉnh đem đến cho mỗi chúng ta.


Gấp lại trường ca Biển, tôi vẫn nghe đâu đó tiếng của những người lính gọi nhau trong mịt mù bão cát: “Song Tử đâu? Nam Yến đâu? Sinh Tồn đâu?...”, đó phải chăng là cuộc gọi tập hợp lực lượng của cả một dân tộc trước hiểm họa. Hữu Thỉnh không những mang đến cho thơ sự tìm tòi, sáng tạo vô giá mà chính anh còn tạo dựng một đức tin cho mỗi con dân Việt, giúp họ trụ vững trước mọi sóng gió, mưu toan thâm độc của kẻ thù.


Hà Nội, Ngày 11 tháng 12 năm 2017


trieuxuan.info