Truyện ngắn
18.05.2017
Triệu Văn Đồi
Cây đòn nóc và chiếc bình vôi



Những ý nghĩ và toan tính lẩn thẩn của tôi y hệt như tháng giêng nhẩn nha, đủng đỉnh. Mà đã gần bảy mươi tuổi, có dốc lực, có chạy đua với thiên hạ cũng không thể nào “tăng tốc” được. Thành ra tuy có nhẩn nha, đủng đỉnh nhưng xét cho cùng cũng vẫn là ngẫu hứng khi quyết định làm một ngôi nhà tạm ở quê.


            Quê tôi ngày xưa vốn là một vùng quê lam lũ và nghèo khó thuộc xứ Đoài. Mười người đàn bà sinh ra ở vùng đất này thì dễ đến chín người chân chì, se sắt. Trên dưới bốn mươi tuổi mà vừa là vốn dĩ, vừa là cuộc sống lam lũ, tảo tần dù chẳng mong muốn cũng đã nhanh chóng trở thành những bà cụ nửa non nửa già. Còn những người đàn ông thì lại luôn tự huyễn vì mình là những nhân vật, những tố nhân trong câu thành ngữ: “Trai Hoàng Xá, cá đồng Chan, bút Ngọc Than, gan Dương Cốc”. Mười hai tháng trong năm, chỉ riêng hai tháng đầu năm đã mất không vì “Tháng giêng cờ bạc, tháng hai hội hè”. Nếu giữ được như thế thì đã khá. Hội hè thì có dịp chứ cờ bạc đâu chỉ có tháng giêng, triền miên sáng tối, quanh năm ngày tháng. Thành thử phận đàn bà trút xong món nợ tổ tông nhà chồng coi như là thoát xác và vô cảm.


            Đấy là chuyện của một trăm năm trước, của hơn nửa thế kỷ về trước. Bây giờ, quê tôi gần như là trung tâm của những dự án xây dựng công nghiệp. Khu công nghệ cao, sân gôn, khu nhà mới thân thiện cùng những làn đường cao tốc đã choán nhiều diện tích. Cánh đồng thẳng cánh cò bay giờ chỉ còn trong tầm tay với. Đất quê bạc màu hoang hóa, đất quê ruộng mật bờ xôi cũng đều quy tuốt ra giá cả đền bù… Từ cái vùng quê đói nghèo lam lũ bỗng chốc tiền ở đâu đâu đổ về như vùng chiêm trũng gặp lũ tháng bảy mênh mang nước, mênh mang tiền và …làng thành phố tự khi nào cũng không ai kịp nhận ra. Trong các cuộc rượu hiếu, hỷ, tân gia, đầy tháng cho trẻ nhỏ người ta vẫn nói vui bây giờ làng ta toàn những nhà “không có nóc”. Gỗ lạt, nhà kẻ truyền thượng kẻ hậu bẩy, nhà đại khoa cửa bức bàn đều nhanh chóng bán cho vua bếp hết, ngói âm dương, ngói mũi đều lặn sâu xuống nền nhà hoặc may mắn đến được những mặt bằng đang san lấp. Hóa ra phần lớn cư dân ở vùng đất nghèo khó và lam lũ này đều sung sướng khi được tự tay mình hay thuê những tốp thợ chuyên phá dỡ đập bỏ những ngôi nhà cổ, những ngôi nhà mà trước đây phải ăn chắt để dành, phải tích cóp từ thế hệ này qua thế hệ khác mới dựng được. Dựng xong rồi mà vẫn còn phải “một năm làm nhà, ba năm giả nợ”.


 


*


            Lão Trực rưng rưng sau khi thắp tuần nhang cuối cùng trên bàn thờ thổ công và gia tiên. Lão mừng vì con cháu đã ăn nên làm gia, mừng nhất vì có hơn hai sào ruộng được đền bù hơn bảy trăm triệu. Nhà lão mấy đời trước cũng nghèo xác nghèo xơ. Thế rồi đùng một cái, nhà lão được chia của đấu tranh, có hơn sáu sào ruộng đẳng điền. Một giấc mơ giữa đời thực của một anh bần nông. Nhưng giấc mơ ấy cũng chỉ được vài năm, ruộng đất tất cả lại  quy về một mối. Nhưng cũng chẳng sao, lão đã có gì để mất. Từ chẳng có gì nhưng hàng năm vẫn được chia lợi tức, còn đi làm thì có công có điểm và có thóc. Lão nghĩ đời người như con tạo xoay vần, nhập vào rồi lại tách ra, khoán sản…Nhưng hơn bảy trăm triệu đồng cầm khư khư lần này thì lão mới thật sự đinh ninh tin là không bao giờ tuột mất, có bỏ cối mà giã cũng không trật.


            …Khi bán nếp nhà cũ cho tôi dù chỉ hơn giá bán củi lão đã mừng vì được giá lại không phải bỏ tiền thuê người phá dỡ. Sau khi hạ lễ, lão ra ngồi bên chiếc bàn nước kê tạm ở sân nhà hàng xóm, nhấp một ngụm trà như uống một sự suôn sẻ, thuận buồm xuôi gió trong ba cái việc lớn ở đời mà bao nhiêu lâu nay vẫn là hệ trọng: Làm nhà, cưới vợ, tậu trâu. Trâu thì bây giờ chẳng ai tậu nữa nhưng tậu được cái xe máy, vù cái đã tới nơi, vù cái đã có mặt những lúc phải đến đám cười, đám khóc. Sướng thật.


 Cái mảng ngói thâm nâu với thời gian đang dần co hẹp lại khi cánh thợ ngồi dắt dây, chuyền nhau từng chồng ngói mũi xuống thùng xe công nông, để lộ ra khung nhà gỗ với cây đòn nóc cùng những rui, mè, quá giang, xà gốc xà ngọn… Rồi tiếng vồ sàm bằng gỗ lim chan chát vang lên. Tiếng gỗ nện vào gỗ, nện vào tre nghe rờn rợn như tiếng vồ chốt chặt cá gỗ và đóng đinh vào ván thiên của người chết. Lão rùng mình rồi ớn lạnh toàn thân khi chợt hiểu rằng: Đấy là tiếng cáo chung cho số phận một ngôi nhà đã đi qua mấy thế hệ đời người. Đâu chỉ mình lão nghe tiếng chan chát của gỗ nện vào gỗ, nện vào tre, con lão và nhiều người có mặt lúc dỡ nhà coi nó như một lời đoạn tuyệt về công nghệ cũng như một nền văn minh trong kiến trúc và xây dựng nhà ở với những vật liệu đã lỗi thời. Khi toàn bộ phần mái nhà đã dỡ hết, trơ ra những mảng tường nham nhở đã tróc lở vữa vôi thì lão Trục bỗng ôm mặt khóc hu hu.


            Thằng con trai lão bảo: - Bố cháu già rồi nên lẩn thẩn, vừa mới hôm qua còn hớn hớn hở hở vì sắp có nhà mới, giờ lại giở quẻ. Thôi ông vào trong nhà cho thợ người ta đỡ vướng.


            Tôi nhìn đôi mắt lão Trực đỏ hoe, ầng ậc nước khi chống hai tay vào gối đứng dậy, lảo đảo bước vào nhà và buông một tiếng thở dài. Tôi bỗng thấy mình dại dột. Dại dột vì đã nhìn sâu vào đôi mắt ầng ậc nước của lão. Đã đành tôi không mua nếp nhà này thì sẽ có người khác mua, nhược bằng không có ai mua thì cái nếp nhà gỗ ấy rồi cũng sẽ phải bán cho vua bếp. Nhưng… nhìn theo dáng lão Trực vừa lết trên đôi chân run rẩy, vừa bịt tai như chạy trốn để khỏi phải nghe tiếng vồ sàm nện chan chát vào gỗ như khi người ta chốt chặt ván thiên của người chết mà bỗng thấy mủi lòng.


 


*          


Trên mảnh đất gần hai trăm mét vuông của tôi lúc sốt đất, bỏng giãy tay vì mỗi ngày một giá cũng đã lên tới tiền tỷ. Đã có nhiều cò, nhiều khách thăm dò, thì thụt dấm dúi như mua bán bạc giả nhưng rốt cuộc cũng không ai mua nổi. Có người bảo tôi là thằng cha ấy nó thừa tiền, đắt thì bán chơi, rẻ thì để đấy. Nhưng có người lại bảo thằng cha ấy quá ngu, đi ăn cơm góp thiên hạ mãi mà để sổng mất một cơ hội hiếm có. Mấy tỷ lúc sốt bây giờ mua được cả mấy sào đất không hết lại còn có tiền giắt bọc dưỡng già. Sướng thế mà không biết.


Thôi thì cái việc thiên hạ người ta phẩm bình, đồn đoán là chuyện của người ta, chứ thực ra mình đã phải tính mua một nếp nhà cũ úp lên, lấy chỗ thi thoảng về quê có chỗ ăn chỗ ở thì sao có thể gọi là thừa tiền, dư bạc. Hôm sắp sửa cất nóc, lão Trực dò dẫm ra chỗ mảnh đất của tôi lặng lẽ nhìn cánh thợ nề, thợ mộc làm cả buổi sáng. Đoán biết là lão lại có tâm sự, tâm trạng gì đây, tôi đã tránh nhìn sâu vào mắt lão tuy vẫn đon đả mời thuốc, mời nước. Lão kiên trì chờ cho các cánh thợ về hết và chờ tôi thu dọn mấy thứ vật liệu ngổn ngang xong… và tôi không thể né tránh cái việc là không nhìn vào mắt lão. Tay lão run run cầm chén trà mới pha tôi đưa mời rồi vội đặt xuống khay. Dễ phải đến dăm bảy phút lão mới ngập ngừng: - Tôi nói khí không phải nhưng cũng mong ông hết sức thông cảm, việc mua bán giữa tôi và ông là sòng phẳng, không có gì phải bàn cãi. Tôi chỉ muốn nói điều này để ông hiểu mà thôi chứ không hề có ý gì. Trước ông cũng đã có người hỏi mua, chẳng dấu gì ông tuy giá có cao hơn giá ông mua dù không nhiều nhặn gì, nhưng tôi không bán.


-…


- Người này muốn mua nếp nhà của tôi để mang ra dựng ở trang trại nuôi lợn, nuôi gà chỗ gò núi Quang. Tôi thà đem làm củi, coi như hóa vàng chứ nhất quyết không bán. Biết ông tuy không sống ở quê, nhưng bán cho ông thì ngôi nhà của tôi coi như vẫn còn và lại được tu sửa tươm tất. Thôi cũng lại nói khí không phải, ở làng này cũng có người mua lại nếp nhà cũ, nhưng họ đều thay đòn nóc mới. Tôi phải ra sớm để nói với ông, nếu ông có ý định thay đòn nóc mới thì xin ông để lại cho tôi cây đòn nóc cũ. Giá cả bao nhiêu cũng được.


Tôi hỏi lão: - Thế ông giả được bao nhiêu?


Lão Trực trầm ngâm một lúc như tính toán rồi cả quyết: - Tôi xin gửi lại ông toàn bộ số tiền, coi như biếu ông toàn bộ khung xương nếp nhà này, chỉ xin lại cây đòn nóc.


Nghe lão Trực nói vậy khiến tôi bỗng lặng người đi. Mười bảy tuổi tôi đã ra khỏi làng đi thoát ly, từ đó đến bây giờ đã gần nửa thế kỷ, cứ mải mê lo toan, vùi đầu trong cuộc mưu sinh. Năm thì mười họa, có công có việc mới về làng rồi lại tất tả khăn gói ra đi. Tôi bỗng thấy ân hận vì cái ý nghĩ hàm hồ là phần lớn cư dân ở vùng đất nghèo khó và lam lũ này đều sung sướng, hả hê khi được tự tay mình hay thuê những tốp thợ chuyên phá dỡ đập bỏ những ngôi nhà cổ, những ngôi nhà mà trước đây phải ăn chắt để dành, phải tích cóp từ thế hệ này qua thế hệ khác mới dựng được.


Nắng đã đứng bóng. Từng giọt mồ hôi tứa ra trên vầng trán nhăn nheo của lão Trực. Dưới tấm bạt dứa căng tạm làm nơi cho thợ nghỉ uống nước, tôi như bị cuốn vào lời kể về cây đòn nóc của nếp nhà lão Trực.


… Hồi còn mồ ma ông cụ, nghe bố tôi kể lại rằng ông nội tôi thua bạc. Càng thua to lại càng cay và mong gỡ lại nên đã đi vay nặng lãi nhà Tổng Thừa. Thì xưa nay, “cờ bạc là bác thằng bần”. Biết là ông nội tôi không thể trả được, Tổng Thừa cho người đến dỡ nhà trừ nợ. Bất chấp cho bà nội và các con khóc lóc quỳ lạy, van xin nhưng cây đòn nóc này vẫn cứ được dỡ xuống. Chuyện đời cũng lắm cơ cầu… Có chú khách người Tàu bán thuốc rong lâu nay vẫn cứ lượn lờ, chú mê cô út nhà tôi lắm, ngang qua thấy vậy liền đặt quang gánh rẽ vào rồi bảo: - Cần bao nhiêu tiền lớ. Thôi để ngộ giúp cho lớ. Chú khách mở nắp một bên bồ thuốc đưa ra một bọc tiền to. Ở đời này, đồng tiền nó khôn như con mài mại. Gia nhân nhà Tổng Thừa thấy tiền thì mặt nở như bánh đa hơ trên than củi. Và cũng lại là chú Khách bấm quẻ xem giờ cất lại cây đòn nóc, rồi  nhân tiện nhà tôi cũng đảo lại ngói luôn. Xong xuôi mọi việc thì cô út cũng cắp nón đi theo chú Khách. Ông là người làng này, ông còn lạ gì câu “Làng ta có núi cửa hang / Rộng tuếch rộng toác cả làng nói điêu”. Cô út tôi đi rồi thì lại có bao nhiều lời đồn thổi đến với nhà tôi. Người ta bảo chú khách đi bán thuốc chỉ là cái cớ đi khắp làng trên xóm dưới, tìm những cô gái xinh đẹp, còn trinh tiết về cho ngậm sâm, gắn trám đường rồi được thầy phù thủy làm phép, cho sống đủ một trăm ngày rồi mới chết khi được đem chôn sống làm thần giữ của. Những cô gái càng đẹp bao nhiêu thì  trước lúc chết càng ấm ức, tức tưởi lại càng thiêng bấy nhiêu. Những kẻ nào cả gan đào hầm lấy của sẽ bị thần theo ám, không chết thì cũng dở điên dở dại, phát tán hết số của nả lấy được mới thôi. Có người lại bảo cô út tôi bị chú Khách bỏ bùa, theo làm vợ ba, vợ tư gì đấy… Chả biết đâu mà tin được. Chỉ có điều từ ngày cô cắp nón theo chú Khách thì vẫn cứ bặt tin. Nhà tôi hàng năm vẫn lấy ngày cô ra đi làm ngày giỗ…


            Nghe cái giọng kể rầu rầu cùng gương mặt tối sầm tôi chợt hiểu tâm trạng của lão Trực. Hóa ra cái sự ra đi của bà cô út lão có pha chút liêu trai, ma mị, trong một hoàn cảnh thời ấy thì cũng là sự cứu cánh cho gia đình lão, để cho mấy đời nhà lão còn được trú ngụ, sinh con đẻ cháu dưới một mái nhà, dưới một cây đòn nóc. Lần này thì tôi chủ động nhìn sâu vào mắt lão rồi bảo: - Tôi thì chẳng kiêng  kỵ gì đâu. Cây đòn nóc này vẫn còn tốt chán, tôi chỉ thay những cái bị mối mọt và toàn bộ số đòn tay tre bằng gỗ thôi ông ạ.


            Lão Trực bỗng òa khóc. Tưởng lão khóc vì thất vọng không mua lại được cây đòn nóc, một kỷ vật gắn bó với lão gần như suốt đời lúc vui cũng như lúc buồn nằm ngửa, vắt tay lên trán, mắt trân trân nhìn cây đòn nóc với hàng chữ nho: Bính Thân, Đồng Khánh thất tuế niên, thập nhất nguyệt, sơ cửu. Lão vừa sụt sùi vừa bảo: - May mà tôi lại bán được cho ông, thôi cũng là cái sự hữu duyên. Lão vừa chỉ tay vào từng chữ nho vừa giảng giải: Cây đòn nóc này được cất vào năm Bính Thân, Đồng Khánh thứ bảy, tháng mười một, ngày mồng chín. Từ thời vua Hàm Nghi, nghĩa là tính đến nay đã một trăm hai mươi năm rồi đấy ông ạ.


            Tôi thoáng kinh ngạc về cái độ bền của gỗ. Cây đòn nóc rắn đanh, khô kiệt, xám xỉn với thời gian, một người vác nặng vẫn đủ sức làm nên diện mạo của một ngôi nhà gỗ rồi buột miệng: - May mà hôm qua, tay thợ mộc bảo để em lấy máy bào lau qua cho nó sáng. Tôi bảo khỏi cần. Chỉ trừ cái nào mối, mọt phải thay, còn thì chú cứ gọi là… nguyên bản.


            Những nét nhăn trên khuôn mặt lão Trực giãn ra. Tôi bảo: - Bây giờ đã trưa lắm rồi, tôi về quê không muốn phiền lụy anh em, họ mạc nên hàng ngày vẫn đi ăn cơm bụi. Trưa nay mời ông, ta ngồi uống với nhau chén rượu.


            - Thôi. Ông cho tôi xin kiếu, để hôm nào ông làm lễ nhập trạch. Làng ta có câu “Ăn có mời, làm có khiến”, chỉ xin ông nhớ cho một câu: Ông không mời tôi cũng đến đấy.


 


*


            Theo phong tục ở quê tôi, lễ nhập trạch đều do các thầy cúng hoặc thầy chùa chủ lễ. Gia chủ chỉ hầu lễ mà thôi. Tôi cả đời biền biệt xa quê và quả thật cũng ít chú tâm đến các việc nghi lễ. Chính lão Trực lại là cố vấn đắc lực cho tôi trong vấn đề này.


            Nghe lời lão, tôi lên chùa làng nhờ sư Thầy giúp cho việc làm lễ nhập trạch. Chú tiểu bảo: - Thầy đi làm lễ chắc cũng sắp về. Bác ngồi uống nước chờ thầy.


            Vòng quanh chùa một lượt. Chính điện, tam bảo và nhà trai đã được tu sửa nhưng chùa làng tôi vẫn giữ được nét thâm nghiêm, u tịch. Nép dưới những cây muỗm cổ thụ, quanh năm trùm bóng mát xuống những đầu đao uốn cong đuôi rồng. Những cây muỗm mà bọn trẻ con chúng tôi về mùa quả chín vẫn rủ nhau lên nhặt những quả rụng vàng sậm, nát bét nhưng vẫn ngọt thơm đến tứa nước chân răng. Nhà thờ tổ thì vẫn như xưa, được xây cất dựa vào thế núi, chỉ có một mái, mái còn lại dựa vào độ loải của vách đá thiên tạo. Có lẽ vì lẽ đó mà chùa có tên là chùa Một Mái, dân vùng tôi quen gọi là chùa Mái mà ít ai nhắc tới tên chùa là Hoa Liên Tự. Thầy trụ trì là một vị sư nữ vừa được Giáo hội Phật giáo thích phong từ Bác lên Thầy. Ngoài năm mươi tuổi mà dáng Thầy vẫn thanh thoát, da trắng, hai hàm răng đều chăn chắn, đen nhức như hạt na. Tôi có một thói quen cố hữu, khi đối diện với bất cứ ai thường hay nhìn sâu vào đôi mắt họ. Vì cái thói quen đó mà tôi thoáng ân hận khi nhìn vào mắt lão Trực. Còn… đôi mắt Thầy, tuy đã gợn nếp nhăn nơi đuôi mắt, tuy đã nhuốm màu thiền nhưng vẫn sáng, ướt, long lanh của một sự cao khiết đến vô thường.


            Thầy dặn tôi mua các loại vàng mã, ngũ ngựa, kim, chỉ ngũ sắc, hương đăng và cháo, bỏng để cúng chúng sinh… Tiễn tôi ra đến cổng chùa, Thầy bảo:


            - Bác xa quê lâu ngày, chắc không nhớ hết những ai với ai. Các đồ lễ mà tôi dặn, bác cứ đến nhà bác Bính, người họ nhà bác đấy, bác ấy sắp cho. Chứ bác tự mình đi mua thì lại thiếu thiếu, thừa thừa.


            Công việc bận rộn khiến tôi mệt mỏi rồi ngủ thiếp đi. Gà gáy canh hai thì tôi thức dậy. Câu hỏi đầu tiên trong ngày làm lễ nhập trạch cứ xoáy mãi là hình như Thầy biết rõ về tôi? Đúng là tôi không nhớ hết những ai với ai và tôi ngủ lại được ít giờ khi nghĩ ra mình đã kê khai “trích ngang” để thầy viết sớ.


            Vừa mới mở cửa đã thấy lão Trực đi đi lại lại trước sân, ôm khư khư một cái bọc gói giấy báo. Lão đánh tiếng trước: - Cả đêm hôm qua tôi không ngủ được ông ạ! Mong mãi mà trời chẳng sáng cho. Thôi thì hôm nay ông làm lễ nhập trạch để về nhà mới, gọi là có chút quà mừng ông bà và các cháu. Lão trịnh trọng nâng hai tay cái bọc gói bằng giấy báo trước mặt tôi. Hóa ra lão là người đầu tiên đến chúc mừng tân gia. Đón chiếc bọc gói trong giấy báo nặng dễ phải đến dăm cân, nói lời cảm ơn rồi mời lão ngồi uống nước. Chiếu trải trước hiên nhà, trà mới pha rót ra chén đất nung, mặt chén trà thoáng hơi sương và hương trà thơm ngậy trong không gian tinh khiết sớm mai nơi thôn ổ. Không biết có phải là thói quen hay là lão Trực lại chìm đắm trong tâm trạng mà chén trà cứ nâng lên lại đặt xuống khay. Lão tự tay mở gói quà mừng tân gia cho tôi. Khi những lớp giấy báo đã úa màu lần lượt được mở ra như người ta bóc vỏ củ hành khô, lộ ra cái lần ruột trắng xanh, nõn mịn. Đó là một chiếc bình vôi. Tay run run nâng chén trà rồi uống cạn, lão mới đủ can đảm dốc bầu tâm sự:


            - Đúng là nhà tôi bây giờ vô phúc! Khi chuẩn bị dỡ nhà, cái bình vôi này là vật đầu tiên tôi chuyển. Thằng con tôi bảo: - Ông cất giữ cái thứ của nợ ấy làm gì cho chật chỗ? Không khéo lại dây hết vôi vào chăn đệm, giường tủ. Nó mà dây vào là tôi quẳng mẹ nó đi đấy!


Lão trực lại sụt sịt, đưa tay áo chấm nước mắt rồi ráo hoảnh: - Châu đã không về được Hợp Phố. Thôi thì gọi là quà mừng tân gia nhưng kỳ thực là tôi muốn trao gửi kỷ vật này cho ông, mong ông nhận cho, tuy là của ít lòng nhiều…       


            Sau lời cảm ơn của tôi, hình như lão Trực đã hoàn toàn trút bỏ được mọi nỗi niềm. Chiếc bình vôi chắc đã được lão Trực cọ cạy rất kỹ lưỡng, lộ ra màu men sứ xanh dạn hình ngũ giác, lục giác. Lão bảo chiếc bình này là từ đời Khang Hy, tôi nói vậy là không có ý nói nó là cổ vật. Cùng với cây đòn nóc, chiếc bình vôi này ít nhất cũng từng chứng kiến năm đời nhà tôi, vôi trong bình đã quệt lên lá trầu trong những lần hiếu hỷ…


 


*


            Sau lễ nhập trạch, dù đã chuẩn bị một mâm cỗ chay, nhưng giữ thế nào Thầy cũng không ở lại dùng cơm. Lúc tiễn Thầy ra đến đầu ngõ, Thầy bảo:


- Ngôi nhà của bác còn tốt lắm! Phải được hàng trăm năm sau. Nhưng cái thứ nhà gỗ bền hay không là phải giữ cho nó không bị dột. Mà xưa nay, nhà thường dột từ nóc dột xuống…


Tôi nhìn theo dáng thanh gầy trong sắc nâu sồng cho đến khi Thầy rẽ theo lối về chùa trong miên man ngẫm ngợi.


Còn lão Trực trong bữa rượu mừng nhà mới của tôi, thi thoảng lại ngửa cổ dốc cạn chén rượu như để có cơ duyên ngắm nhìn cây đòn nóc.


 


TVĐ


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


trieuxuan.info