tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20794078
Những bài báo
04.05.2013
Khuất Bình Nguyên
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Người xứ Đoài tha phương từ Hà Nội về Sơn. Đến dốc Quai Chè coi như đã ở nhà mình. Những thế kỷ trước, khi chưa có cầu Trung Hà, vào đến Sơn Tây sông núi bao bọc là vào nơi cuối đất. Không có đường ra. Đứng ở cái dốc này, phía xa trước mặt là ngọn Ba Vì. Kẻ nét xanh mờ thần thoại ở phía chân trời. Ngọn núi linh thiêng trầm tư trong tâm thức người Việt tự lâu rồi. Bao nhiêu thế hệ người ở đây sinh ra đã thấy núi Ba Vì trước mặt. Và khi từ giã cõi đời, ngần ấy thế hệ cũng khuất sâu vào ngọn núi thiêng. Nguyễn Trãi từ thế kỷ 15 trong Dư Địa Chí đã viết: “Núi có ba ngọn cao chót vót. Hình như cái tán vì thế mới gọi là Tản Viên. Núi ấy là núi tổ của nước ta đó”. Không biết có bao  nhiêu người xứ Đoài đã đứng ở cái dốc này. Bồi hồi mà vẳng xa hoài niệm. Nước mắt nhòe ra vì chiều xanh không thấy bóng Ba Vì. Câu thơ giản dị là thế mà chạm vào cõi sâu xa tâm thức con người.


 


Theo sự phân chia địa vực hồi thế kỷ 20, Quang Dũng không phải là người Sơn Tây. Từ dốc Quai Chè lùi lại chừng 4, 5 cây số nữa qua đập Đáy đến thị trấn Phùng nhỏ bé. Bao nhiêu năm vẫn dăm ba dãy nhà gạch một tầng nhẫn nại nằm ở ven đường quẩn quanh cát bụi. Làng Phương Trì, quê hương nhà thơ, úp thìa vào thị trấn đó. Cho đến ngày nay, chưa có một ai làm thơ về xứ Đoài, về đất Sơn Tây lại xao xuyến và đầy ẩn ức được như ông. Không phải ngẫu nhiên. Tập thơ văn tinh tuyển mới in năm ngoái của ông lại có tên gọi Mắt người Sơn Tây.


 


Quang Dũng gia nhập làng Thơ Việt như một hiệp sỹ kiêu hùng, từa tựa người lính “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” trong Tây Tiến nổi tiếng nhất của ông. Khi tiếng súng chống Pháp xâm lược của quân ta nổ dữ dội ở Sài Gòn đến Nam Trung Bộ, rồi ngay tại giữa lòng Hà Nội, các thi sỹ nổi danh của phong trào Thơ Mới, những người ca ngợi vẻ đẹp tuyệt vời của nỗi buồn cô đơn dường như còn bâng khuâng chưa kịp ra khỏi cái thế giới tinh thần kiêu sa, lộng lẫy mà họ đã tạo ra trước đó. Có người nổi tiếng của họ cũng ra quân sớm lắm. Nhập cuộc bằng cả trường ca hẳn hoi. Nhưng thi phẩm ấy cũng không để lại mấy tiếng vang. Cho dù cái tiêu đề là rất hợp thời. Chỉ ngoại trừ có một người làm được. Lại là người đã từng say nhất trong số họ. Say đến mức lơi lả ánh đèn. Người ấy đã viết nên một trong những câu thơ đẹp nhất của các thi sỹ phong trào Thơ Mới góp mặt với thời cuộc, khi những lâu đài xưa cũ đang vỡ ra từng mảng để sống lại.                       


Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại


Năm cánh xòe trên năm cửa ô.


(1947)


Rồi sau đấy như trút một hơi thở. Con người tài hoa ấy đã đi theo một con đường khác. Kháng chiến chống Pháp đã sinh ra nhà thơ Quang Dũng. Quang Dũng ra Quang Dũng. Một phong cách thơ độc đáo, khác biệt trọn vẹn. Chỉ trong khoảng vài năm từ 1946 đến 1951 đã hoàn thành sự sinh nở kỳ diệu đó. Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Chính Hữu, Hữu Loan, Hồng Nguyên là những tên tuổi xuất sắc và độc đáo nhất của thi ca Việt Nam thời kỳ binh lửa ấy. Sau những năm dài thơ tự nhìn bóng mình mà ca hát trong cô đơn.


 


Nếu như phong trào Thơ Mới có nhiều tập thơ hay như Lửa Thiêng của Huy Cận, Thơ Thơ, Gửi Hương Cho Gió của Xuân Diệu, Gái Quê của Hàn Mặc Tử, Điêu Tàn của Chế Lan Viên… thì Thơ kháng chiến chống Pháp có nhiều bài đặc sắc. Có tác giả cả đời thơ thậm chí chỉ có một bài. Với Quang Dũng, người ta hay kể đến Lính râu ria (1947), Quán Nước (1948), Tây Tiến (1948), Đôi Bờ (1948), Mắt người Sơn Tây (1949). Trong đó Tây Tiến như là nghiệp chướng vinh quang của đời Thi sỹ. Có người bảo Tây Tiến càng nói nhiều càng thấy thiếu.


 


Thơ Quang Dũng nổi bật ở hình tượng người lính và em gái tản cư. Viết về người lính cho đến cuối thế kỷ 20, hầu khắp thời gian là bom đạn, chiến tranh, chưa thi sỹ nào như Quang Dũng miêu tả người lính đậm đà chất yêng hùng, hào hoa, phóng khoáng, ngang tàng, lãng mạn thậm chí hơi bùi bụi… cái chất hiệp sỹ. Lính thật là lính.


Tây tiến đoàn binh không mọc tóc


Quân xanh màu lá dữ oai hùm


Mắt trừng gửi mộng qua biên giới


Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.    


Ngay cả cái chết cũng mang cái phong vị hiệp sỹ, phong vị Quang Dũng.


                        Rải rác biên cương mồ viễn xứ


                        Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh


                        Áo bào thay chiếu anh về đất


                        Sông Mã gầm lên khúc độc hành.     


 


Tây Tiến độc đáo ở chỗ nó tạo ra một không khí Thơ mờ ảo, sương khói kết hợp với những hình tượng Thơ kỳ lạ ngợi ca tình yêu và sự chiến thắng của con người trước những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh.


 


Có lẽ trong thơ kháng chiến thời hiện đại, kể từ 1945 đến gần hết thế kỷ 20, hình tượng người lính cùng với thi ca đã đi hết chiều dài thời gian của Thế kỷ như là một nhân vật huyền thoại đầy bi tráng của thời đại. Nhưng chỉ có hai thi sỹ, Quang Dũng với Tây Tiến và Huỳnh Văn Nghệ với Nhớ Bắc miêu tả người lính của thời đại mới đầy chất kiêu sa cổ điển, giống như những hiệp sỹ cưỡi ngựa đi hết 10 thế kỷ trong cuộc trường chinh giữ gìn nền độc lập.          


 


Lính và Em đã làm nên một cặp tài tử giai nhân trong thơ Quang Dũng. Em gái tản cư, tên gọi chung bao thân phận con người ngơ ngác giữa chiến tranh, loạn lạc. Em là con hát ở bến sông, sống ở kiếp này là ở tạm. Em là cô gái vườn chanh dệt lụa quay tơ để chiều ngẩn ngơ sầu dạ khách. Là em bán nước quán lệch tường xiêu bên đường kháng chiến. Là em gái xóm Mường đêm lạnh. Em là gái núi bình yên. Trong Tây Tiến, một bài thơ ngắn thôi mà Quang Dũng đã không ngần ngại gọi em về đến 4 lần trong sự nâng niu, trìu mến và tưởng vọng .


 


                        - Mai Châu mùa em thơm nếp xôi


                        - Doanh trại bừng lên đuốc hội hoa


                          kìa em xiêm áo tự bao giờ


                        - Khèn lên mang điệu nàng e ấp


                        - Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm   


Đúng là 4 lần em. Và nếu cái dáng người trên thuyền độc mộc giữa dòng nước lũ hoa đong đưa và chủ nhân của “nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” cũng là con gái thì tới 6 lần em. Quang Dũng là người lính tiền phương thông cảm và thương yêu họ. Có sự khác biệt với kịch bản giống nhau của Hữu Loan trong Màu tím hoa sim và Vũ Cao trong Núi Đôi, chỉ giới hạn câu chuyện đến tình yêu trai gái của hai người. Cái chết của người con gái nhỏ hậu phương làm họ chia lìa. Tình yêu của Quang Dũng ở đây là tình sông núi, nghĩa đồng bào; đâu phải chỉ là tình yêu trai gái. Vì vậy quy cho ông là “tiểu tư sản” kể cũng tội?! Nếu có vậy thì xem ra hai bác kia còn “tiểu” hơn nhiều. Và đó cũng là câu chuyện của một thời đã qua. 


 


Thơ Quang Dũng miêu tả cảnh sắc những làng quê Việt Nam năm chiến tranh mang phong vị buồn trong vẻ đẹp vắng xa mà thân thuộc như tấm lòng đồng cảm của ông với quê hương trên những nẻo đường hành quân đánh giặc.        


 


Một tiếng võng đưa trong buổi trưa hè tĩnh mịch.                


Kẽo kẹt võng đưa người xứ Bắc


Oán than kiều lẩy một vài câu.


(1947)


 


Một bến phà quạnh vắng và lạnh lẽ giữa buổi mưa giăng qua phòng tuyến sông chiều.


Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến


Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề.


(1948)


 


Một nương sắn trung du trong nỗi nhớ thương người hiu hắt:


Quạnh quẽ sắn nương rờn nắng ấm


Ngõ trúc người ơi! Tĩnh mịch chiều.


(1950)


 


Đoạn thơ miêu tả xóm làng trong chiến tranh vào loại sinh động nhất cũng mang phong vị tĩnh mịch của một bức tranh buồn, để người đời sau lắng nghe rồi mãi mãi không quên.


Những làng trung đoàn ta đi qua


Tiếng quát dân quân đầu vọng gác


Vàng vọt trăng non đêm tháng chạp


Nùn rơm-khói thuốc-Bạch đầu quân


Tự vệ xách đèn chai lối xóm


Khuya về chân khỏa vội cầu ao


Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào


Bờ tre cây rơm thôi tịch mịch


Vỡ lá bàng khô bước du kích.


(1947)


 


Miêu tả vùng quê trong chiến tranh ở Sơn Tây và em gái tản cư ở vùng đó đã mang lại cho Quang Dũng những vần thơ xếp vào bậc nhất, không kém gì Tây Tiến của ông. Đất Sơn Tây như là nghiệp chướng của đời người thi sỹ. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, Sơn Tây là một vùng đất rất rộng so với thời hiện đại, bao gồm các châu: Phong Châu, Quốc Oai châu, Châu Đăng châu thời Lý Trần Lê. Đạo Sơn Tây thời Lê hay tỉnh Sơn Tây thời Nguyễn là gồm tất cả các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng tỉnh Hà Đông và một phần đất tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi thế kỷ thứ 15 đã có tên gọi Sơn Tây. Danh sỹ Lý Tử Tấn, người viết thông luận cho sách Dư Địa Chí đã nhận xét: “ở vùng Sơn Tây, con người thuần hậu, phong tục chất phác”. Nhà sử học Trần  Quốc Vượng có lần cho biết: Từ thời Lý Trần, nước ta đã đưa nhiều người Chiêm Thành ra Bắc lập ấp, lập làng xen lẫn với xóm làng người Việt từ vùng Từ Liêm lên đến Phùng, Sấu Giá. Cho nên  lịch sử đã tạo ra một phương ngôn đặc biệt của tiếng Việt-tiếng Phùng, tiếng Sấu Giá. Làng Giá với cảnh quan nhân văn như xứ Dừa Nam Trung Bộ. Quê gốc người Chăm. Cái địa vực rộng lớn ấy đã làm nên bản sắc văn hóa Sơn Tây, văn hóa xứ Đoài… Người xứ Đoài trọng tình nghĩa, thủy chung và cũng là một vùng thượng võ của nước Đại Việt. Ông đồ Sơn Tây nổi tiếng ở sự kiên trì và cam chịu không thua kém gì đồ Nghệ. Làng Phương Trì, thị trấn Phùng quê Quang Dũng đến những địa phương tiếp theo như Thượng Mỗ, Hạ Mỗ, Trung Châu chạy ra sát bờ sông Hồng, vòng lên vùng Hát Môn, Vân Nam huyện Phúc Thọ, theo sông Đáy xuống vùng Quốc Oai, Sài Sơn, Thạch Thất… hấp thụ những truyền thống văn hóa và tinh thần giống nhau. Nếu chọn Phùng làm tâm điểm, lấy bán kính khoảng 15 cây số chạy quanh, sẽ có một vòng tròn văn hóa lịch sử có ý nghĩa của xứ Đoài. Sau làng Phương Trì, có làng Hạ Mỗ, quê hương của danh tướng Tô Hiến Thành (1012-1179) nổi tiếng là người trung quân ái quốc thời nhà Lý. Vòng lên phía tây là đền thờ anh hùng dân tộc quần thoa Hai Bà Trưng mất ngày 6 tháng 2 năm 43. Vòng xuống phía Nam là làng Bùng, nơi sinh quan trạng Phùng Khắc Khoan (1528-1613); vòng tiếp một chút nữa sang hướng đông nam gặp Phủ Quốc, Sài Sơn nơi có núi Thày hiển linh thánh Từ Đạo Hạnh (1072-1116). Nơi cư ngụ của sử gia Phan Huy Chú (1783-1840) tác giả bộ bách khoa Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí. Và ở gần đó là nơi khởi binh của thi sỹ Cao Bá Quát(1809-1855), người mà khi đọc thơ của ông ấy lại có liên tưởng đến phong độ Quang Dũng. Phải chăng đó là cội nguồn lịch sử sâu xa nhà thơ Quang Dũng gắn bó với đất Sơn Tây. Trước cách mạng, Quang Dũng dạy học tư ở Sơn Tây. Sau khi nhập ngũ lại học trường quân sự ở Tông gần thị xã Sơn Tây. Khi Tây Tiến, trung đoàn của ông cũng bắt đầu xuất kích từ miền đất ấy.Và không hiểu cái tiếng Phùng-Sấu Giá cũng như tiếng Sơn Tây nói chung, có đặc trưng ngữ âm học là ngang nhiên bỏ dấu huyền và không nề hà thêm âm o thành hai âm o của  những từ ở giữa có âm o (xoong rôi - xong rồi) có ảnh hưởng gì đến nhịp điệu của một vài đoạn thơ rất lạ của ông ấy hay không? Chỉ biết rằng Thơ Quang Dũng đã làm đẹp hơn người và đất xứ Đoài. Cái vùng đất bao năm nghèo túng và rất nhiều khổ đau “Đất đá ong khô nhiều suối lệ” biết ơn Quang Dũng vì ông đã trao cho nó một thi hiệu đầy lãng mạn trong thơ ca. “Xứ Đoài mây trắng”. Và cô gái Sơn Tây nổi tiếng là… không đẹp trong ca dao dân ca, bỗng trở nên xa vắng đầy huyễn hoặc, chạm vào nỗi nhớ khôn nguôi của bao thời đại qua ánh mắt mà mới ngày nào còn chịu cái tiếng là yếm thủng tày dần…


 


…Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương


    Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm


    Em đã bao ngày em nhớ thương?


…Đôi mắt người Sơn Tây


    U ẩn chiều lưu lạc


                Buồn viễn xứ khôn khuây.


              (Mắt người Sơn Tây, 1948)


Quang Dũng đã hình thành một phong cách thơ độc đáo ngay từ những năm đầu chống Pháp. Làm Thi sỹ cũng như con gái có thì. Qua thì thì thôi. Cũng mảnh đất xứ Đoài - Sơn Tây ấy, sau này Quang Dũng viết một số bài như Đám cưới qua Sông Đáy, Gửi Sơn Tây, Bất Bạt đêm giao quân… Cái hồn thơ trong Mắt người Sơn Tây đã không còn nữa. Những năm cuối đời, ông sống trong cảnh ẩn thân vào im lặng, hiền lành. Vào ít nói. Vào bệnh tật và nghèo túng. Rồi tạ thế trên giường bệnh, tính đến tháng 10 năm nay thì được 25 năm!    


 


Một trong những lý do không thể không nhắc đến là ông đã bị “sa lưới Nhân Văn”. Trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ông chỉ đóng vai trò một nhân vật phụ. Phụ đến mức không được như bác hề trong các tích chèo cổ. Quang Dũng chỉ có hai bài thơ. Bài Những cô hàng xén viết 1951 và Đường chiều thứ bảy viết năm 1956 in trong Giai phẩm mùa thu và nhất là truyện ngắn Xiếc Khỉ in trên báo Văn       


 


Bây giờ nhìn lại, dù có khắt khe đến mấy, Những cô hàng xén của Quang Dũng đẹp như ca dao nước Việt. Vẻ đẹp xưa cũ của làng quê, gợi nhớ cô hàng xén răng đen cười như mùa thu tỏa nắng trong thơ Hoàng Cầm (1948) và Cô hàng xén của Thạch Lam viết trước cách mạng tháng 8. Người đọc như nghe được tiếng cười con gái từ trong thơ Quang Dũng.


 


                        Sông hiu hiu chiều


                        Gió mát ven đê


                        Các cô hàng xén gánh về


                        Tiếng cười khúc khích


                    …Hoa lan vào ngõ tối còn thơm.         


 


Bài thơ dài Đường chiều thứ 7, chỉ là lời nhắc nhỏ nhẹ những cô gái, người vợ… đừng quên người thân của mình đã hy sinh không một lời trăng trối vì sự trường tồn của đất nước này. Nếu có trách Quang Dũng, ta chỉ trách ông đừng hẹp hòi với những người phụ nữ mất chồng, mất người yêu… vì cuộc sống mà phải đi nốt đoạn đường còn lại trên thế gian này. Và họ đâu có quên người thân đã ngã xuống. 


 


Tô Hoài bảo cái Xiếc Khỉ dẫn đến “lôi thôi nhiều lắm” cho Quang Dũng. Xem lại chuyện Xiếc Khỉ, thấy ông mô tả thật tinh tế mà hóm hỉnh những gánh xiếc thú mua vui cho trẻ con thời mới hòa bình 1954-1955 ở các chợ vùng xứ Đoài như chợ Phùng, chợ Gạch, chợ Săn, chợ Sấu Giá… Khổ một nỗi, mở đầu câu chuyện ông lại kể về nỗi đoạn trường của chú khỉ già, phải qua tay nhiều ông chủ, mỗi ông có một kiểu đánh và dỗ khác nhau. Đâm ra khỉ ta rơi vào tình trạng mốc meo, đầu hói nhẵn, tay chai cả lên, mắt lờ đờ nghĩ ngợi, vẻ chán đời lắm… Đoạn văn này có thể đã dẫn đến sự chạnh lòng… Nhưng cái cơ bản không phải ở đó mà chính là nó được đăng ở những tờ báo, tạp chí có những bài của các tác giả khác công khai phê phán, yêu cầu dân chủ… Và Quang Dũng bị vạ lây. Làm nghề văn dễ bị tổn thương bởi tính đa nghĩa, tư tưởng rộng hơn hình tượng của văn học. Sự suy luận rộng ra của bà vợ trong nhà đã chết rồi huống chi là của tổ chức, xã hội. Cái trò du hí của văn chương vừa kỳ thú vừa hiểm nguy là ở chỗ đó. Chàng hiệp sỹ xứ Phùng của chúng ta không ngã ngựa, nhưng dư chấn của sự kiện văn chương đó không thể là không có được.         


 


Quang Dũng có mặt ở trang 899 - Nhà văn hiện đại in năm 2010. Không biết ai đã chọn cho ông bức ảnh đó. Cái áo len cổ tròn có họa tiết giống như họa tiết của người Mônđavi hoặc của các dân tộc thiểu số của Tây Nguyên. Không ăn nhập lắm với phong độ của ông. Giá cứ làm cái áo trấn thủ, cái mũ chào mào thời Vệ quốc đoàn lại hay. Khuôn mặt ấy đượm vẻ buồn như nhiều bức ảnh khác của ông. Một cái buồn cũng rất lính. Không hiểu sao khi xem tranh Quang Dũng, bức tranh nào cũng lấp ló một nhánh đường như Đường lên biên giới (1950), Đường lên Tây Bắc (1960), đã đành. Cả chủ đề khác cũng có đường: Gốc bàng (1962), Kháng chiến (1947), Quê hương (1960), Vườn đào Nhật Tân (1970), Công viên Thống Nhất (1976). Chỗ nào cũng phảng phất đường. Hơn nữa lại phảng phất buồn, một vẻ buồn tươi sáng mà vắng xa tựa như thoa nhẹ một gam màu vàng của đất, pha xanh của lá. Thi thoảng ngẩn ngơ dăm chiếc lá vàng xen đỏ còn phơ phất trên cành. Tôi cứ tiếc tại sao Quang Dũng không vẽ núi Ba Vì, chiều xanh không thấy bóng Ba Vì, cái bóng núi phủ vào thơ ông như một nét thăng hoa.


 


Rồi cái gì đến nó cũng phải đến. Tháng 8-2001, gần 3 năm sau khi ông mất, Quang Dũng được tặng giải thưởng Nhà nước đợt 1. Cùng đứng tên với ông, có Kim Lân, ông chủ của Con chó xấu xí. Tất thảy có 46 người. Không biết vào lúc trao giải ấy Quang Dũng có còn ở nơi rừng núi chơi vơi, sương lấp cồn mây heo hút, hoa về trong đêm rơi để nghe oai linh thác gầm thét và tiếng cọp trêu người nữa hay không? Ông có còn thích thơ Thế Lữ, truyện ngắn Thạch Lam, tiểu thuyết Tarat Bunba của Gôgôn như lúc sinh thời không? Và ở nơi đó ai là người chia sẻ với ông niềm vui mà khi cầm lấy nghiệp làm thơ chắc chẳng bao giờ ông nghĩ đến và chờ đợi. Không biết ở nơi đó có vườn cây nhiều lá rụng để ông đi nhặt về cho vợ con đun bếp hay không...?       


 


Mùa xuân này tôi lại từ Hà Nội về Sơn. Không biết lần này là lần thứ bao nhiêu rồi. Qua thị trấn Phùng, gần đến ngã ba đường cũ và đường mới ra thẳng cầu Phùng. Rẽ tay phải. Qua cổng làng Phương Trì theo kiểu cổng Tam quan mới được xây dựng lại. Có hai trường tiểu học đối diện nhau, ngay khi bước qua cổng làng. Trường tiểu học thị trấn Phùng ở bên trái. Trong khuôn viên trường có tượng Quang Dũng bằng đồng. Tượng bán thân đặt trên bệ đá cao theo phong cách Châu Âu. Ông mặc áo trấn thủ, đầu đội mũ ca lô có sao năm cánh. Khuôn mặt đầy sương gió rất Quang Dũng nhìn hướng ra phía trước. Đôi mắt trầm buồn mà hiên ngang. Trên mặt đá ở quãng giữa được mài nhẵn hình chữ nhật có ghi mấy chữ: Nhà thơ Quang Dũng - Bùi Đình Dậu tức Diệm (1921-1988). Dưới chân bệ đá cao khiêm tốn dựng một thẻ hương trầm, bên cạnh lá trầu và quả cau nhỏ vỏ còn xanh. Không có đĩa. Bình nhang chỉ còn chút cát ở dưới đáy làm cho tám chân nhang chắc vừa mới cắm đốt vào dịp Tết đứng nghiêng ngả. Tôi thắp ba nén lễ tạ nhà thơ. Khói hương bay vắng lặng ngôi trường đang nghỉ Tết. Không biết cuộc đời lang thang vô định trong thế giới hiện sinh này có khi nào linh hồn ông trở lại đây không...? Thị trấn Phùng đã trở thành đô thị sầm uất. Trên trang Google, không biết ai đã viết về nó, về quê hương Quang Dũng đầy mùi vị thị trường. Nguyên văn như sau “Là nơi nổi tiếng với các món ăn đặc sản. Nem Phùng, thịt chuột Phùng… ai mà dân nhậu ở đây là tuyệt vời”. Trời ơi! Phùng của tôi chỉ có thế thôi sao?! Một vị khách lại viết bằng thư tiếng không có dấu để lại trên mạng cách đây 4 năm: “Phung is number one”! 


 


Chia tay với Quang Dũng ở sân trường tiểu học thị trấn Phùng để đến dốc Quai Chè. Hôm nay đã ngày mồng 8 Tết. Nắng xuân trải ấm khắp các triền đê xứ Đoài mênh mông nở đầy hoa xuyến chi thanh khiết trắng. Mây xuân xám nhẹ đã che kín Ba Vì. Nhưng dường như hình thể của ngọn núi thiêng vẫn mờ ảo ở đường chân trời phía tây. Tưởng như lãng quên bao nhiêu chuyện đời có nghĩa và vô nghĩa ở thế gian này. Quang Dũng đã về nơi ở cuối cùng của mình. Nơi có 9 ngọn suối thanh bình như dòng sông Đáy phẳng lặng bao đời bên thị trấn Phùng quê ông. Nơi có bao nhiêu bông hoa xuyến chi mỏng mảnh sắc xuân suốt đời chịu làm loài hoa dại để nhẹ đi cho ai bao nỗi u buồn và hy vọng. Thơ Quang Dũng vẫn còn đó như bức tranh treo ở bên trời. Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì. Bởi vì sắc xanh của núi hòa lẫn trong nắng với màu xanh của trời. Bởi vì thơ Quang Dũng vẫn ở lại với đời không chỉ trên những trang vở học trò bé nhỏ mà cả trên tấm phông lớn của đời sống tinh thần thời đại đã ban tặng cho người Sơn Tây từ thuở những năm đầu kháng chiến. Tôi ước mơ một ngày nào đó, người xứ Đoài chọn được nơi nào nhiều mây trắng nhất của quê hương mình để đặt trên đấy bức tượng muôn đời của nhà thơ. Nhưng có lẽ, chẳng có nơi nào ở ngoài cuộc đời này lại nhiều mây trắng hơn ở vùng trời tâm thức của chúng ta.


 


20-2-2013


KBN


vanvn.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ Hồng Anh, một nhà khoa học chân chính - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
xem thêm »