tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682419
Tiểu thuyết
03.05.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Bô-na cười:


- Những hình phạt kiểu Trung cổ đó lỗi thời rồi. Ở nhà hành hình Gò Vấp người ta mới phát minh ra nhiều kiểu tra tấn mới theo khoa học tinh vi mà giản tiện lắm. Để ta giới thiệu chú tới đó học kinh nghiệm, chắc chắn sẽ được việc cho các chú.


- Xin đội ơn quan nguyên soái. Dạ, ông Gu-giơ-a còn muốn xin ngài cho thêm viện binh…


- Được ta sẽ gởi thêm sau. Ta cho quyền các chú đi tới đâu cứ việc bắt bớ, chém giết, đốt phá nếu dân chúng ở đấy không chịu chỉ chỗ ở của Trương Định. - Đôi mắt Bô-na ánh lên những tia xanh lè ma quái. - Giết sạch, đốt sạch, phá sạch, các chú nghe rõ chưa. Nếu kẻ nào chỉ chỗ Trương Định sẽ được thưởng hai mươi lạng vàng và phong chức Cai tổng.


- Dạ, nhờ chánh sách cho vay tiền không lấy lời mà nhiều điền chủ làm được mùa màng, trong năm hạn hán lúa lại bán được cao giá nên họ thành giàu lớn, chắc chắn họ sẽ trả ơn bằng cách chỉ chỗ Trương Định cho ta… Dạ, tôi còn một chuyện nữa muốn lập bô với ngài…


Bô-na sốt sắng:


- Chuyện chi, chú cứ nói.


Tấn khôn khéo:


- Bẩm, sở dĩ dân chúng tin ở Trương Định nay ở Bình Thuận, mai ở sát bên Sài Gòn vì bất cứ ở đâu cũng thấy nhan nhản những tờ hịch mang ấn Bình Tây đại nguyên soái. Như vậy không phải chỉ riêng Trương Định phát ra những tờ hịch ấy mà có nhiều kẻ bí mật sao chép truyền đi khắp nơi. Tôi đã dò ra người soạn hịch là Nguyễn Đình Chiểu, hiện ở Ba Tri…


Bô-na chăm chú:


- Nguyễn Đình Chiểu nào? Có phải Tú Chiểu người soạn bổn Lục Vân Tiên không?


- Chính ổng, thưa ngài.


Bô-na đứng lên đi đi lại lại suy nghĩ hồi lâu. Lông mày nhíu lại khiến mu mắt che bớt đôi mắt sâu, ánh lên những tia nham hiểm. Đôi môi mím chặt hằn đường rãnh hai bên mép. Lỗ mũi phập phồng như một con thú đánh hơi thấy mồi. Bỗng y quay phắt lại:


- Về Tú Chiểu thì ông Đổng lý Nội vụ đã nhận được một xấp cáo mật dày về những hành động chống đối người Lang-Sa, còn xếp đầy hồ sơ kia. Ông Đổng lý cũng đã yêu cầu cho lịnh bắt Tú Chiểu. Ta có đem bàn với ngài Ô-ba-rê, đại sứ mới từ bên Tây sang, ngài khuyên nên chưa bắt vội. Hiện nay tầng lớp sĩ phu vẫn còn những người lãnh đạo tinh thần ở xứ này có uy tín lớn trong dân chúng, ta không nên bắt ổng mà kiếm cách thu phục có lợi hơn. Để tạo điều kiện dễ dàng thuyết phục, ngài Ô-ba-rê đang khởi công dịch bản Lục Vân Tiên của ổng in ở bên Tây. Vả lại, theo lời ngài Ô-ba-rê, việc dịch đó còn có lợi là cung cấp một tài liệu quý báu về tâm lý phong tục dân bổn xứ, giúp người Tây tìm chánh sách cai trị cho thích hợp. Vậy trong khi chưa có lệnh của ta, các chú không được đụng tới Tú Chiểu.


- Nhưng thưa ngài, chúng tôi ức lắm hết chịu nổi, trong hịch, Tú Chiểu chửi chúng tôi như vầy nè:


Bớ những người tai mắt


Thử xem loài thú cầm


Trâu ngựa còn điếc câm


Mà biết đến ơn cho nhà chủ


Muông gà loài gáy sủa


Còn biết đáp ngãi cho chủ nuôi


Huống hồ người chân đạp đất, đầu đội trời


Ở chi thói sâu dân mọt nước…


Vậy là ổng so sánh những người theo Lang-Sa hổng bằng giống chó ngựa rồi còn gì!


Bô-na gãi đầu, vẻ khó chịu. Rồi y an ủi:


- Theo lời Trương Vĩnh Ký nói với ta, thì bài hịch này chưa chắc đã do Tú Chiểu soạn ra. Dầu sao trong khi chờ đợi kết quả việc thu phục Tú Chiểu, tạm thời chưa nên đụng tới ổng. Ta hãy dốc toàn lực vào việc trừ diệt Quản Định đã. Mất Định thì Tú Chiểu dầu muốn chống ta cũng không làm gì đặng. – Y cười.- Nếu trừ xong Quản Định thì cái chức Lãnh binh sẽ nằm gọn trong tay chú. Nước Lang-Sa rất biết ơn những người phục vụ trung thành của mình. Chú ráng sức đừng để phụ lòng trông cậy của Soái phủ Nam kỳ.


Đội Tấn lắp bắp:


- Dạ… Dạ…


Bô-na quay sang viên thông ngôn:


- Thầy Thông Hiền! Hãy đi kiếm cho chú Tấn một nơi cư ngụ thiệt sang trọng trong khi chú là khách của tôi ở Sài Gòn. Thầy còn có nhiệm vụ dẫn chú đi thăm viếng khắp nơi, sao cho chú thấy hết được sự giàu mạnh và văn minh của người Lang-Sa.


Đội Tấn và Thông ngôn Lê Quang Hiền dừng chân trước xóm Hàng Đinh. Nơi này khi Tấn còn ở Sài Gòn, có đường trải đá ong với những dãy nhà lợp ngói phía sau cau dừa um tùm. Nhưng đến nay nhà cửa của dân đều bị giặc phá hết chỉ còn sót lại một ngôi nhà ngói ba căn hai chái và ngôi miếu là chưa bị phá.


Dưới mé sông, một chiếc tàu chạy hơi nước với bánh xe quạt nước bên hông đang đậu, thân tàu đề chữ Catinat. Trên đường tấp nập những toán dân phu gánh gạch đá để xây cất tòa dinh thự cho tên Đổng lý nội vụ, tục gọi là Dinh Thượng thơ. Bọn lính mã tà đứng coi phu, nếu chậm trễ hay làm không hợp ý chúng, chúng lại cầm roi quất lia lịa. Mấy chòm cây cau rũ bóng xuống một ngôi chùa cổ mái cong vắt như cặp sừng, cạnh bên có một quán rượu Tây, che màn trắng phếu. Thông Hiền rủ:


- Ta vô quán nhậu chút, thầy đội.


Đội Tấn theo Thông Hiền vô quán. Trong quán, một bọn lính Tây vừa nhậu vừa chửi thề inh ỏi. Đội Tấn kêu rượu nếp nhưng quán chỉ độc có rượu Tây, Thông Hiền an ủi:


- Thầy đội cứ dùng ly rượu chát cho nó biết mùi đời.


Tên dọn bàn mặc quần lục soạn trắng, lưng quần xổ ra kéo phủ lên dây nịt, tay bưng một khay trên có hai ly rượu vang và hai đĩa bít tết. Đội Tấn tợp một ngụm vang thấy cũng không đến nỗi khó uống lắm. Thông Hiền lại nháy mắt:


- Thầy đội cần món chi cứ biểu. Tửu rồi còn cái món sắc thì để tôi dẫn thầy tới xóm Cầu Muối.


Ở quán ra, hai người đi tới Bồn Kèn. Rạch Cầu Sấu và kinh Chợ Vải đang bị lấp từng chặng để cho một con đường mới mọc lên. Ở ngã tư xây một cái bệ hình tam giác, trên đó mấy tên lính sơn đá đang nỗi nhạc Tây cho dân chúng nghe. Thông Hiền tấm tắc:


- Thầy đội nghe tiếng kèn “mu dích” này thiệt đã con ráy. Cái điệu của người Tây phổ vào bài nào bản nấy, hễ nghe đến thì nó bắt nhảy trồi, nhảy phách, chí khí hung hăng, dầu cảnh nào buồn cho mấy đi nữa mà nghe đến tiếng nhạc nó cũng khuây liền. Nhứt là quân lính đội ngũ, khi nghe tiếng nhạc nó xung xăng nhảy nhót, cầm cái nặng cũng quên, đường bao dài không mỏi, vậy mới đúng là tiếng nhạc của người văn minh chớ!


Văn minh đâu không biết chứ đội Tấn nghe thứ nhạc này cảm thấy lố lăng thế nào. Tuy vậy, y cũng ráng đứng nghe trọn bài kèn kẻo tên thông ngôn khinh mình là quê mùa. Thông Hiền nói:


- Thế này vẫn chưa khoái bằng đi coi gánh hát mới ở Tây sang. Tối nay tôi sẽ dẫn thầy tới nhà cây ở kế bên Lầu Ông Thượng coi. Họ hát nhiều tuồng Tây hay hơn hát bội ở rạp Cầu Quan nhiều lắm đa!


 Mấy tên du côn từ xa tiến lại, dáng điệu tên nào tên ấy đều có vẻ bậm trợn, dữ dằn. Trông thấy hai người đi tới, chúng tính xông lại ăn hiếp. Nhưng khi nhìn thấy người mặc áo “u-hoe”([1]), thắt nơ đen, chúng biết đây là loại có thần thế, nên bấm nhau lảng đi không dám léo lánh tới chỗ đó nữa. Thông Hiền nhìn theo, vênh vang nói với Đội Tấn:


- Toàn là tay tổ đó. Họ nói chuyện với nhau chỉ bằng củ chì, roi gân bò với dao tu không à, ai vô phước gặp họ sơ sơ cũng phải ăn thẹo trên mặt. Hù chơi cũng mất mấy ngày mới tỉnh. Nhưng với ai chứ với Thông Hiền này thì mấy chả im re, đâu có dám múa gậy vườn hoang…


Đội Tấn thầm nghĩ: Thời loạn mới là lúc đám giang hồ trổ sanh nghề lạ. Hồi trước mà dám đi nghinh ngang giữa lộ như vầy thì chẳng đóng trăng, đưa ra pháp trường gần chợ Vải cho tả đao dùng mả tấu chặt đầu à. Ngay cả mình cũng vậy thôi, gặp thời buổi Tây Tàu mới hòng leo lên Lãnh binh Đề đốc chứ bình thời thì có khi đóng đội mãn đời! Đời cũng tỷ như canh bạc đen đỏ, tội chi không thử thời vận!


Hai người đi ra phía bờ sông. Qua xóm thủy trại, nơi có Xưởng Thủy của “đàng cựu”, Đội Tấn thấy một xưởng mới mà Thông Hiền giới thiệu là xưởng Ba Son chuyên sửa chữa tàu cho thủy quân Lang-Sa. Từng đám thợ mặt mũi nhem nhuốc, hốc hác đang ăn cơm trong những quán lụp xụp ven đường. Gần đó một con kinh nhỏ, mấy người Tây đang thảnh thơi câu cá.


Chỗ sông Bến Nghé giáp với rạch Vàm Bến Nghé, nơi có Sở Thủ Ngữ để thâu thuế thời đàng cựu, mới bắc một chiếc cầu bằng cây loại cầu quay để cho ghe buồm có thể ra vào, nối liền hai bờ rạch. Đó là Cầu Quây dẫn vào bến cảng Sài Gòn. Đội Tấn nhìn thấy một ngôi nhà nguy nga hai từng kiểu Tây, nhưng trên nóc lại là một mái ngói cong theo kiểu đình của Việt Nam. bốn cạnh mái là bốn con rồng nghếch đầu ra tứ phía. Trên đỉnh là hai con rồng uốn khúc, châu đầu vào hình mặt trăng, theo cung cách “lưỡng long chầu nguyệt”. Tất cả đều bằng gốm men xanh, tạo thành một bờ viền mềm mại và đậm đà quanh mái ngói đỏ au, nổi bật lên nền trời vần vụ. Thông Hiền cho biết đó là Nhà Rồng, hãng chuyên chở tàu biển của Tây. Đội Tấn nhận ra mái Nhà Rồng đúng là mái Văn Thánh miếu ở chỗ rạch Văn Thánh, chắc Tây đã phá miếu và lấy mái lắp cho Nhà Rồng.


Ngày hôm sau, Thông Hiền dẫn Đội Tấn tới nhà hành hình ở Gò Vấp. Giữa phòng, có đặt một cáo nồi hơi bằng thiếc, miệng túm lại, đót lên như quản bút thau. Nồi đựng đầy dầu lửa, bắc trên lò than đước đỏ hườm. Sau khi bị bắt uống một bụng đầy dầu lửa, một tù nhân phải ngồi lên trên nồi cho miệng nồi chui vào hậu môn. Một lính Tây quạt chừng cho lửa đỏ, cho dầu sôi.


Hơi dầu sôi, nhẹ, bốc lên chun vô ruột người tù. Dầu nguội nặng trong ruột lọt xuống lò, cháy thành ngọn, đun dầu trong lò thêm sôi. Dầu sôi nhẹ, bốc lên choán chỗ; dầu nguội nặng lọt xuống cháy phừng; hai luồng xuống lên xuôi ngược mãi khiến người chịu hình, nghe hơi dầu nóng trong lòng, có cái ảo giác rằng dầu cháy gan cháy ruột…


Người Tây coi nhà hành hình cười:


- Còn hơn thế nữa kia. Mày biết không, tao mới phát minh ra một cái hình giản tiện hơn nhiều. Chỉ cần một khúc roi mây, một sợi dây gai, muốn nói cho đúng sức kỹ nữa, thời thêm vào hai bàn tay cầm roi. Để tù nhân nằm sấp, tay treo trên lưng, hai ngón tay cái cột dính lại, hai ngón chân cái cũng cột dính lại. Hai tay chân lại cột dúm lại, rồi a-lê cho lính cầm roi đánh vào hai bàn tay trần. Muốn đánh vào trong sọ không lẽ bửa óc ra mà đánh cho nên phải đánh vào bàn chân để truyền đau nhức vào óc non. Đánh vào bàn chân chỉ là đánh vào ngoài da mà kích thích đầu thần kinh. Dây thần kinh bị kích thích, là tủy, là óc bị kích thích. Óc mà bị kích thích thời các dây thần kinh đều bị kích thích, sự đau nhức mới lên tới độ tột cùng. Tao phải nghiên cứu cả khoa sanh lý học và giải phẫu học mới phát minh ra cái hình này chớ bộ.


Đội Tấn hết lời cảm ơn người Tây vì nhà hành hình đã cung cấp cho y một kinh nghiệm vô giá. Thế là chỉ trong hai ngày ở Sài Gòn đã hiểu rõ thế nào là sự giàu mạnh và văn minh của người Lang-Sa.


*


Về tới Gò Công, việc đầu tiên của Tấn là mang Xuyến ra tra khảo để ôn lại bài học vỡ lòng mà y mới được quan thầy truyền thụ. Sau khi cho trói chân tay Xuyến lại như trói heo, y cho lính cầm roi đánh lia lịa vào hai bàn chân trần không giẫy giụa nhúc nhích được. Đánh …đánh riết một hồi lâu, y hô cho lính nghỉ một lát. Nghỉ rồi đánh. Đánh rồi nghỉ. Nghỉ cho khỏe tay cầm roi, cho ê chân chịu đòn. Chân ê mà bị đánh nữa mới thấm đầu, mới thốn  nhức…


Những lằn roi quất vào làn da non ở bàn chân Xuyến làm cô đau nhức không bút nào tả xiết. Tưởng chừng như có từng nhát búa khảo vào trong óc. Toàn thân lúc đầu còn tê tê như có kiến bò nhưng lần lần buốt nhói và giật từng cơn. Nhưng cô nghiến răng không kêu một tiếng. Trước mắt cô hiện lên hình ảnh cha mẹ cô ngực lủng vết lưỡi lê nằm co quắp trên vũng máu… Hình ảnh nấm mồ của Huân nằm trơ trọi ở miếng đất bên cạnh ngã ba sông… những hình ảnh đau thương đó làm cô nung sôi máu căm thù, quyết không chịu khuất phục kẻ thù.


Đầu óc lần lần tê dại đi nhưng trước mắt cô vẫn chập chờn hình ảnh chủ soái Trương Định đứng trên đài cao nhận lá cờ đề chữ “Bình Tây đại nguyên soái” của nghĩa quân và bà con trao. Những đôi mắt thiết tha trông cậy hướng về vị chủ soái dáng hiên ngang dưới lá cờ nghĩa tung bay phần phật. Không! Xuyến không thể bán rẻ vị chủ soái để làm phụ lòng bà con trăm họ. Xuyến như cảm thấy đôi mắt đục lờ của ông Tú Chiểu nhìn xoáy vào mình, đôi mắt không có ánh sáng mà vẫn có một sức gì mãnh liệt như xoáy vào tận gan ruột, đọc được hết những ý nghĩ thầm kín của người ta và ngăn cản không cho làm những điều xằng bậy.


Xuyến rú lên một tiếng rồi xỉu.


Khi tỉnh dậy trong căn phòng giam chật chội, tanh tưởi, cô thấy toàn thân rêm nhức như có hàng trăm con rắn cắn truyền nọc độc vào cơ thể. Mùi nước tiểu trên nền đất nhầy nhụa khiến cô muốn ói mửa. Phòng giam là một gian buồng hẹp, chiều ngang lối bảy thước ta, chiều dài mười lăm thước ta. Ba bức tường kín và một tấm cửa sắt đóng bịt bùng. Trên một phía tường có “cửa sổ”: miếng sắt đục lỗ li ti. Phòng giam tối như bưng, suốt ngày thắp một đèn đỏ đòng đọc, lại nóng vô chừng, như  trong một lò lửa.


Một lát sau, có lệnh đòi Xuyến lên hỏi cung. Lần này, cô gái phải bò lết không đi đứng được. Mái tóc bù rối, đôi mắt sáng quắc, trông cô như hiện thân của vị thần Trừng phạt. Đội Tấn không dám nhìn thẳng vào cô nữa. Nhưng y vẫn thử cố gắng một lần cuối cùng. Y quát hỏi nhưng lạc cả giọng:


- Tao hỏi mày một lần cuối cùng, mày có biết Quản Định hiện ở đâu không?


Cô gái thản nhiên:


- Biết chớ!


Đội Tấn mừng rỡ lắp bắp:


- Đâu?... Ở đâu?


Xuyến cất tiếng dõng dạc:


- Trương tướng quân ở trong lòng dạ tao đây nè! Muốn kiếm, cứ việc moi tim tao ra mà kiếm!


Đôi mắt cô gái tóe lửa căm hờn, nhìn xoáy vào mắt tên phản bội. Tấn cảm thấy như đôi mắt của Trương Định đang nhìn mình nghiêm nghị…


Trời không nóng lắm… nhưng Tấn bỗng thấy trán vã mồ hôi.


 


IX.


Phan Thanh Giản giở đạo mật chỉ của Tự Đức ra đọc lại một lần nữa. Trên nền giấy màu vàng lợt, rành rành thủ bút của nhà vua truyền bắt Quản đạo Võ Duy Dương nôp cho Lang-Sa hoặc báo cho Lang-Sa tự bắt lấy.


Ông cúi đầu suy nghĩ. Dầu sao ông cũng không thể làm cái việc trái với lương tâm ấy. Trước đây ông vâng lệnh triều đình viết thư dụ Trương Định bãi binh, Định không những từ chối mà còn cho đề cờ tám chữ “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”([2]). Lúc đầu ông giận dữ cho đó là một sự xúc phạm quá đáng. Nhưng sau nhgĩ lại, ông cho rằng chẳng qua người ta không hiểu tâm sự ông mới vội vàng kết tội. Ông không giận Trương Định mà chỉ buồn lòng vì những người trẻ có cái máu sôi nổi thường không thông cảm với những người già vốn chín chắn, điềm đạm. Ông đâu có bán nước mà chỉ muốn tránh cho dân lành khỏi đổ máu vô ích. Mình chống lại với khí giới tinh xảo của Tây chỉ là trứng chọi với đá. Trong tất cả các điều tai hại, chọn lấy cái hại nhỏ nhất vậy mới là sáng suốt. Đáng buồn nhất là cả hai con trai ông cũng không hiểu ông. Phan Liêm, Phan Tôn đã ra mặt chống lại cha. Đúng là chúng nghe lời xúi giục của Tú Chiểu chớ không sai. Mới đây, hai đứa lại bỏ dinh đi đâu mất tiêu. Nếu chúng lại đi liên lạc với các nhóm nghĩa binh thì ông tất mắc tội với triều đình là không biết dạy con. Thế mới biết dao sắc không gọt được chuôi. Mình đi chiêu dụ các nhóm nghĩa binh giải giáp thì chính con mình lại đi theo nghĩa binh. Nếu quả vậy thì chẳng những lời mình nói đã không đắt, mà người ta còn chê cười biếm nhẽ không ít. Đó chẳng qua vì hồi đóng ở Sài Gòn, mình yêu thích thơ văn, thường hay mời Tú Chiểu tới dinh đàm đạo nên Tú Chiểu mới có dịp kết thân với hai con mình, bày vẽ cho chúng những điều kia khác.


Nhắc tới Sài Gòn ông lại nhớ chuyện Lang-Sa mời ông tới dự cuộc đấu xảo canh nông và công nghệ. Các gian hàng cất dọc theo con đường từ chỗ nền nhà hát bội của quan lớn Thượng trước tới đầu cầu Thị Nghè, trưng bày nào loại gạo Tân An, Gò Công, đậu xanh Bà Rịa, tơ Biên Hòa, đồ chạm trổ bằng ngà, sừng, cẩn xà cừ của Nam kỳ, đáng kể nhất là đồ nữ trang vàng bạc do thợ khéo Sa Đéc làm, quế, trầm, hồ tiêu, sáp, mật ong, chiếu lác cạp điều, nón lông, quạt lông. Ngoài ra còn có một số mỹ phẩm đem từ Tây sang. Lại có trưng bày trâu, bò, heo, cừu,gà, vịt. Giữa sân máy xay lúa, máy tỉa bông vải, máy lọc đường, máy ép dầu chạy ầm ầm suốt ngày cho dân chúng xem. Đúng là bọn Tây muốn khoe khoang sự giàu có tinh xảo của chúng trên mảnh đất ba tỉnh miền Đông do chúng cai quản. Nhưng cuộc hội chợ cũng lại trưng bày thêm bao cảnh lố lăng: những thằng Tây bụng phệ ngồi trên cỗ xe song mã, phía trên cao có tên xà ích cầm cương đầu đội mũ cao màu nâu, hóa trang theo Chà Và, để bộ râu ngạnh trê vuốt nhọn bằng sáp dẻo. Những mụ đầm váy bùng rền quét đất, đội nón giắt lông chim. Xốn mắt nhất là mấy mụ vợ Tây, quấn chuỗi hột vàng gần gẫy cổ, đeo kiềng vàng, mặc áo mớ ba mớ bảy, tóc xức dầu thơm. Phan Thanh Giản gặp ở đây tên soái Đờ la Gờ-răng-đi-e, lại cả hoành thân nước Cao Miên. Bọn Tây muốn ve vãn anh Nặc-ông-lân([3]) tính đưa lên làm vua Cao Miên để nước này dễ thần phục chúng đây mà. Cái anh chàng Ba Tường vô hạnh mà trước đây theo sứ bộ sang Tây, cũng nghinh ngang xe ngựa vì y mớí được Tây cho làm tri phủ Tân Bình. Gặp Phan Thanh Giản, y làm ra vẻ vồn vã nhưng ông lờ đi như không quen biết. Cả viên thông ngôn Trương Vĩnh Ký trước đi theo sứ bộ, giờ cũng được Tây ban chức Đốc trường thông ngôn. Thấy bọn chỉ đáng là thuộc hạ của ông mà bây giờ dựa thế Tây nghinh ngang coi như bằng vai phải lứa với ông khiến ông không khỏi tủi. Hèn chi thầy Tú Chiểu có câu thơ: Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi, thiệt là đúng lắm!


Nghĩ lại chuyện ấy, ông thấy bớt giận Tú Chiểu. Nếu mình không phải là mệnh quan của triều đình mà chỉ là một thầy đồ, biết đâu mình không nghĩ như Tú Chiểu. Nhiều lúc ông thầm nghĩ ước gì mình được từ quan về Gảnh Mù ở quê nhà, để được nghe sóng biển ầm ầm vỗ vào đụn cát bên rặng bần mọc um tùm, ngắm những con nghêu nằm sắp lớp ở ven nước cạn, vùi trong cát từng lớp từng lớp. Nhớ lại hồi nhỏ cầm cây gậy nhọn xăm xuống đất là đụng nghêu lách cách. Mấy anh em bạn bắt nghêu trên bãi cát rồi ngồi chờ đến lúc nước lớn dâng lên ngập gốc những cây mù u trổ bông trắng xóa… Lúc này ông bỗng thấy sống lại cái cảm giác vị thịt nghêu đậm đà trên đầu lưỡi… Nhưng trọng trách triều đình biết phó thác cho ai? Người bạn thân thiết nhất đời ông là Nguyễn Tri Phương đã bỏ ông ở lại một mình gánh vác cái trách nhiệm nặng nề này, vậy mà còn không hiểu ông, cho là ông hèn nhát sợ giặc. Nhưng sở dĩ ông chủ hòa chỉ vì muốn cho dân được yên. Nhớ lại câu thơ Nguyễn Tri Phương tặng ông ngày trước: Cá lại Long Giang hai ngả nước, bây giờ không phải chỉ là cái chuyện chia đôi ngả đường đời mà còn là chia đôi ngả trên con đường chính kiến, chuyện ấy phải chăng đã báo hiệu từ ngày cùng thưởng mai ở chùa Cây Mai?


Sáng tinh sương, ông chợt nghe dưới sông dường như rộn rịp, dân tình gọi nhau ơi ới, tàu của Tây dường như nổ máy khi xa khi gần. Ông giựt mình.


Bỗng tên lính hầu vào dâng một bức thư gắn xi. Ông giở ra đọc thì đó là thư của tên nguyên soái Lang-Sa mời ông xuống tàu của chúng để thương thuyết. Ông cau mày, truyền:


- Bay ra mời các quan hàng tỉnh tới nghị sự, nghe!


Lát sau, Tổng đốc Trương Văn Uyển, Án sát Võ Doãn Thanh và lãnh binh Huỳnh Chiêu đã tề tựu. Đợi mọi người yên vị, Phan Thanh Giản trịnh trọng:


- Nay tên nguyên soái Phú Lang-Sa mời ta xuống tàu thương thuyết, vậy ý các đại nhân ra sao?


Trương Văn Uyển dè dặt:


- Bẩm quan Kinh lược, ty chức trộm nghĩ người Tây là giống khác, tâm địa của họ ắt khó lường, ta không nên khinh xuất xuống tàu của chúng, e xảy ra điều bất trắc.


Võ Doãn Thanh mềm mỏng:


- Bẩm, triều đình vẫn căn dặn chúng ta hãy ráng giữ mối giao hảo với người Tây. Nay họ mời mà không tới, ắt họ kiếm cớ trách được ta. Chi bằng cứ gặp họ nói phải trái, hỏi sao lại vô cớ đem thêm tàu chở khí giới tới trước thành ta. Nếu họ không nghe thì phần lỗi là về họ.


Huỳnh Chiêu uất ức:


- Bẩm quan Kinh lược và các quan, giặc đem tàu chở khí giới tới uy hiếp thành trì, vậy là dã tâm của chúng đã lộ ra rồi. Ta không cần thương thuyết mà nên sẵn sàng phòng bị nếu chúng giở trò gì là đối phó được liền. Thành Vĩnh Long này hào lũy vững chắc, địa thế rất dễ phòng thủ. Lần trước giặc đánh thành ta đã cầm cự rất mạnh mẽ. Lần này ta đã có kinh nghiệm, ắt chúng không dễ dàng chiếm được thành như lần trước.


Trương Văn Uyển phụ họa:


- Quan Lãnh nói rất đúng. Xin cho lũ tôi được đi xem xét việc củng cố hào lũy chỉnh bị khí giới để phòng khi nguy cấp.


 Phan Thanh Giản đang ngần ngừ thì Bố chánh Nguyễn Văn Nhã từ ngoài chạy vào nói lớn:


- Bẩm, ty chức đã ra quan sát thấy hạm đội Lang-Sa gồm mười sáu thuyền chiến chở ngót hai ngàn lính thủy và pháo thủ cùng mấy trăm phu phen đã mai phục trước cửa thành rồi. Họ dùng cách tiên lễ hậu binh([4]) nếu mình không chịu thương thuyết, họ nã đại bác vào thì tan nát hết. Xin cấp báo! Cấp báo!


Phan Thanh Giản đứng dậy:


- Tình thế này ta đành phải xuống tàu tranh biện với họ mới xong. Quan Án đi với tôi, còn các quan ở lại giữ thành, chờ tôi về sẽ có cách khu sử.


Rồi Phan Thanh Giản vào phòng riêng thay phẩm phục, mũ văn công, mãng bào thêu rồng ba móng, thắt đai ngọc, đi hia đỏ, cùng Võ Doãn Thanh xuống tàu thương thuyết.


Hai chiếc cáng che mành mành cánh sáo tiến ra lối cửa hậu qua cây cầu bắc ngang hào ra ngoài thành. Tới đây có một con đường đất gọi là “đường yểm” có đào hồ phía bờ sông và dùng để vận chuyển binh lương giữa thành Vĩnh Long và đồn Vàm Tuần hoặc mau lẹ tiếp cứu nhau khi nguy cấp. Tới bờ sông Cổ Chiên, Phan Thanh Giản vén mành mành nhìn ra thấy mười sáu tàu chiến Lang-Sa đậu giăng hàng trên sông. Phan sai một tên lính hầu tới gần chiếc tàu đậu gần nhất báo cho phía Lang-Sa biết sứ giả Nam triều đã tới.


Bỗng một hồi kèn dưới tàu lanh lảnh cất lên. Một chiếc ca –nô từ tàu ghé vào bờ, đón hai quan Nam triều xuống rồi chở ghé sát mạn tàu lớn nhất. Cầu tàu được hạ xuống cho hai người trèo lên. Một toán lính hầu sắp hai hàng trên boong tàu, bồng súng chào trong tiếng kèn la vầy inh ỏi.


Tới gần khoang chỉ huy trên soái hạm, tên trung úy hầu cận ra dấu cho hai quan Nam triều dừng lại. Từ trong khoang, tên Đờ la Gờ-răng-đi-e tươi cười bước tới, ngả mũ chìa ra chào, Phan Thanh Giản và Võ Doãn Thanh chắp tay vái đáp lễ.


Đờ la Gờ-răng-đi-e là tên nguyên soái Lang-Sa mới sang thay Bô-na. Quan thầy của y là Ri-gô đơ Giơ-nui-y kẻ đã từng chỉ huy đánh Đà Nẵng và Gia Định trước đây, mới được thăng làm thượng thơ Bộ Hải quân và Thuộc địa Lang-Sa, hết sức ủng hộ y trong kế hoạch đánh chiếm toàn bộ Nam Kỳ. Được sự hậu thuẫn lớn lao ở chánh quốc, y càng vững tâm hơn trong việc bắt ép triều đình Huế giao nốt ba tỉnh.


Đờ la Gờ-răng-đi-e có hai nạm râu bạc ở hai bên má lại một chòm dưới cằm nên được kêu là đô đốc bạc má. Y mặc binh phục bằng nỉ xanh đậm, giữa có một hàng nút áo, hai bên hai ngù vai vàng, ngực đeo bội tinh, huy chương, lưng thắt dây đeo kiến có tua kim tuyến. Nét mặt đầy vẻ ngông nghênh tự đắc, y nheo cặp mắt xoi mói ranh mãnh nhìn hai vị quan Nam triều như để đo lường thái độ rồi nói:


- Bữa nay, bản chức thay mặt cho Soái phủ Nam Kỳ mời các ngài tới bàn về việc giao tỉnh Vĩnh Long cho người Lang-Sa.


Phan Thanh Giản ngạc nhiên:


 - Thưa ngài, trong hòa nghị Nhâm Tuất mà hai nước Tây Nam ký kết làm gì có điều khoản ấy.


Đờ la Gờ-răng-đi-e giọng đe dọa:


- Tôi không hiểu sao đã ký hòa ước rồi mà các ông vẫn dung túng cho bọn làm nghịch chống lại người Lang-Sa.


Võ Doãn Thanh nói:


- Xin các ngài cho biết chứng cớ?


Đờ la Gờ-răng-đi-e cười nhạt.


- Chứng cớ gì? Thì mới đây Thiên Hộ Dương ở Tháp Mười vừa đánh vào Cái Bè, Mỹ Quý, Cái Thia? Nguyễn Hữu Huân sau khi đánh vào Thuộc Nhiêu lại chạy về Châu Đốc và hà Tiên. Các ông không những không ngăn cản lại còn ngấm ngầm trợ giúp cho bọn chúng.


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.infoVừa







[1] Bởi chữ vétxtông u-ve áo lớn hở ngực.




[2] Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp bán nước, triều đình bỏ dân.




[3] Tức Nô-rô-đôm.




[4] Trước dùng lễ, sau dùng binh.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »