tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20813894
Tiểu thuyết
23.04.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Tú Chiểu vui mừng:


- Huynh mới ở Mỹ Tho lên phải không? Thủ khoa Tịnh Hà và Tri huyện Thang Trông cữ này có được mạnh không?


- Các ổng vẫn mạnh và có lời kính thăm thầy.


Tú Chiểu vồn vã:


- Huynh vô trong nhà, ta nói chuyện.


Hai người vô nhà ngồi xuống bộ ván giữa nhà. Tú Chiểu kêu học trò châm trà nhưng Bổn gạt đi rồi khẽ giọng:


- Thầy có biết ở đâu bán con Hồ da tử không?


Tú Chiểu giựt mình. Đúng là câu ám hiệu ông đã từng dặn phó Lãnh binh Trương Định khi cử người đến kiếm ông thì nói như vậy. Hồ da tử là con đuôn sống trong củ hủ chà là, một món ăn quý ở Bến Tre. Hay Bổn là người của Trương Định. Đoán được ý Tú Chiểu, Bổn nói thêm:


- Tôi vừa ở chỗ ông Trương tới đây.


Tú Chiểu mừng rỡ:


- Thiệt à? Tình hình nghĩa quân của ông Trương hồi này ra sao, huynh?


Nhiêu Bổn chậm rãi:


- Triều đình vừa ký hòa ước Nhâm Tuất, sau đó hạ lệnh bãi binh giao cho Lang-Sa ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, triệu khâm phái quân vụ Nguyễn Túc Trưng về kinh. Túc Trưng vốn sợ giặc bấy lâu nay không dám tiến quân chỉ ngồi yên cố giữ đất Gò Công. Giờ được lênh triệu hồi khác nào được chiếu đại xá, vội vàng lĩnh chỉ. Triều đình lại có chỉ thăng chức lãnh binh cho ông Trương, bắt phải giải tán nghĩa quân, rồi đi nhậm chức ở An Giang. Ông Trương nhớ lời hẹn trước,nên cử tôi đến hỏi ý thầy có nên về An Giang hay không?


Thiệt là một câu hỏi hóc búa đối với Tú Chiểu. Có nên đường đột khuyên Trương Định đừng về An Giang hay không. Dầu sao Trương Định cũng là một vị quan khá lớn, liệu đã tới mức công nhiên chống lại triều đình hay chưa. Nếu mình nói không khéo khiến Định khó chấp nhận thì có hại cho việc lớn. Không chừng lại làm phật ý ông ta thì càng thêm rắc rối về sau. Bởi vậy ông phải lựa dần:


- Nhưng ý ông Trương ra sao đã chớ?


- Ông đã cho gia quyến về An Giang trước, còn ổng ở lại kiểm điểm quân lính lương thảo rồi sẽ đi sau. Nhưng nghĩa quân không muốn giải tán, ráng giữ ổng lại nên ổng còn phân vân…


Tú Chiểu thử đưa đà:


- Theo ý tôi, tình thế này, ông Trương đi cũng hay mà ở lại càng hay…


- Thầy nói như thế nghĩa là thế nào?


- Tôi nói ông Trương đi cũng hay vì nếu đi thì vừa không mang tiếng trái lệnh triều đình, vừa được thăng chức lương cao bổng hậu, công danh ai dứt lối nào cho qua, như vậy chẳng phải là điều hay cho ông Trương sao. Ngặt vì, bọn Tây bị dân ta nhiều lần đánh lui, nay chúng được triều đình giảng hòa, tất chúng sẽ trả thù giết hại dân ta. Vả lại, bọn Tây lấy binh lực ăn hiếp triều đình bắt hòa, nhưng chúng không thành thực, nay triều đình giảng hòa với chúng, nghĩa quân tất không nơi nương tựa, ông Trương nỡ bỏ mặc họ như con mất mẹ mà đành lòng ư? Chi bằng ở lại hợp sức với nghĩa quân và dân chúng chống giặc, giữ đất, như vậy chẳng phải là vừa trọn trung với đất nước vừa trọn nghĩa với mọi người ư? Cho nên tôi nói ở lại càng hay là như vậy…


Ngừng một lát, Tú Chiểu lại tiếp:


- Sỡ dĩ, ngày nay nghĩa quân khắp nơi đều quy phục ông Trương, thế lực chẳng những ở Gò Công, Tân An,Mỹ tho mà cả Chợ Lớn, Gia Định. lan rộng ra hai con sông Vàm Cỏ, từ biển Đông chí địa giới Cao Miên, gồm cả Tháp Mười. Nay ông Trương bỏ đi An Giang thì các đầu mục nghĩa binh ở khắp nơi như rắn mất đầu, đất cũ còn mong gì có cơ khôi phục. Bởi đó, ở lại không chỉ là cái nghĩa nhỏ với thuộc hạ mình mà còn vì nghĩa lớn với nghĩa binh và dân chúng khắp lục tỉnh nữa.


Nghe xong, Nhiêu Bổn vỗ tay cười:


- Đúng là “anh hùng thiên hạ, sở kiến lược đồng”([1]). Tôi vừa qua Tân Long gặp anh Phạm Tuấn Phát, ảnh cũng nói tương tự như thầy. Anh còn tính kéo nghĩa binh và dân chúng khắp nơi đến tận Tân Hòà giữ đầu ngựa Trương tướng quân lại.


Tú Chiểu ngậm ngùi:


- Tôi vì mắt kém nên không thể tới tận nơi hội bàn với ông Trương và toàn thể nghĩa binh, mong ông Trương và anh em thể tất cho. Vậy nhờ huynh thưa giùm với ông Trương mấy lời tâm huyết của Chiểu này. Có việc gì cần, ông Trương cứ cho người đến liên lạc, nêu giúp được gì cho nghĩa quân, Chiểu này không dám tiếc thân hèn.


Nhiêu Bổn cười:


- Có lẽ bữa nào phải đến nhờ thầy thảo giùm một bài hịch.


Tú Chiểu khiêm tốn:


- Bên cạnh ông Trương đã có ông Huyện Thoại là bậc văn chương hơn đời, tôi đâu dám múa rìu qua mắt thợ.


Nhiêu Bổn sửng sốt:


- Ủa, vậy ra thầy chưa hay tin gì à?


- Tin gì vậy huynh?


- Ông huyện Thoại đã tử tiết trong trận đánh đồn Sơn Qui rồi còn đâu nữa.


Tú Chiểu kinh ngạc:


- Sao? Huynh nói sao ông Huyện Thoại tử tiết?...Trời hỡi trời!


Nhiêu Bổn trầm giọng:


- Ông Huyện Thoại là quan văn mà luôn đi đầu trong các trận đánh. Bữa đó giăc Lang-Sa mang tàu chiến đánh lên Gò Công. Nghĩa quân đợi giặc ở dưới tàu đổ bộ lên là xông vào đánh ráo riết. Mọi người chỉ dùng mũi độc lao tới. Bọn giặc nổ súng. Tên tham biện Lang-Sa cùng một toán lính thủy chạy tới, bên ta tạm dừng lại. Tên tham biện vội thối lui về bãi chợ vì thấy lối tiến đã bị chặn. Vừa lúc ấy ông Huyện Thoại dẫn quân xuất hiện ở đầu đường. Giặc nhả đạn trúng những người đi đầu, nhưng những người khác được ông huyện đôn đốcvẫn tiếp tục nhào vô đánh xáp lá cà với giặc. Nếu không có một tên lính thủy Lang-Sa kịp điều súng dưới tàu bắn lên thì cả bọn chúng đã bị diệt hết. Tên tham biện trúng hai mũi độc bị thương nặng, nhiều tên khác nằm la liệt. Nhưng rủi ông Huyện trúng một phát đạn nên đã…


Tú Chiểu nghẹn ngào:


- Ông Huyện chết như vậy cũng là cái chết xứng đáng…Chỉ tiếc tôi còn mấy người bạn đồng khoa thì lần lữa cứ mòn mỏi hết. Thiệt đáng buồn!


Tú Chiểu nước mắt giàn giụa cứ để nguyên thế không lau. Biết ông muốn ngồi một mình để tưỏng niệm người bạn thân thiết, Nhiêu Bổn xin cáo từ. Tú Chiểu tiễn ra cửa nắm lấy tay Bổn:


- Xin tạm biệt huynh, mong có phen hậu hội…


Tiễn khách ra về, Tú Chiểu lại ngồi lặng lẽ. Mới năm trước em ruột ông hy sinh thì tới năm nay người bạn đồng khoa thân thiết nhất lại qua đời. Phải chi còn mắt sáng ông đã xông ra chiến trường trả thù cho bạn, cho em, cho bao nhiêu bà con bị giặc giết hại…


Vừa lúc ấy, bà Tú cắp thúng từ chợ về. Bà lại gần đứng nhìn ông vừa kính yêu vừa thương cảm. Quanh năm ông chỉ vận quần áo vải bố trắng giặt bằng nước tro. Bà lục thúng, lấy một cây lụa đen đặt lên ván rồi nói với ông:


- Bữa nay tôi đi chợ mua được cây lụa đen, tính may cho ông bộ đồ, quần áo ông cũ hết rồi. ông thử sờ coi hàng có mịn mặt không?


Bà trìu mến cầm bàn tay trắng xanh với những ngón thon ngòi viết của ông đặt vào cây lụa. Nhưng ông buồn rầu:


- Tôi cảm ơn nhà đã nghĩ đến tôi. Nhưng nhà không biết tính tôi chỉ ưng vận vải bố màu trắng hay sao? Tôi đâu có ham lụa là gấm vóc. Thôi đã lỡ mua rồi thì để may hai bộ đồ cho hai con chưng diện Tết. Còn tôi thì ăn vận như thế này, hạp với ý tôi hơn…


- Tôi nghĩ rằng trước thì không nói làm chi còn giờ nhà mình làm thuốc cũng được dư dả nên mới tính may bộ đồ mới cho ông. Vậy mà không ngờ lại trái ý ông, biết vậy thì tôi đã không dám…


- Tôi vận đồ trắng để nhắc nhở mình luôn giữ lòng trắng trong tinh khiết, và cũng để tang cho dân nước bị giặc Tây giết hại. Nhà có hay tin ông Huyện Thoại vừa tử tiết hay không?


- Vậy hả ông? Trời! Thiệt là…


Càng chứng kiến tấm lòng trung hậu của ông, bà lại càng cảm phục ông hơn và càng sung sướng có một người chồng xứng đáng. Bà nhớ lại hồi mình còn là cô Năm Điền, một cô gái trẻ mới mười tám tuổi đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ thầy đồ dạy anh mình, nhân một lần anh Hai Quýnh rước thầy về Thanh Ba Cần Giuộc chơi. Bà đã van vỉ cha mẹ xin được kết duyên với ông cũng như đã gác ngoài tai mọi lời dèm pha của chúng bạn mặc dầu ông đui mù lại hơn bà cả chục tuổi. Bà trông tướng ông bây giờ vẫn như hồi trẻ, chỏm tóc đen mướt chưa điểm qua sợi bạc. Nếu thêm đôi mắt sáng thì trông ông đẹp đẽ biết bao! Bà xúc động:


- Ông huyện qua đời cũng là vì nước, ông chớ nên vì quá thương cảm mà để hại cho sức khỏe…


- Thì tôi vẫn ráng chịu đựng đó chớ, nhưng nhiều lúc cũng thấy ruột dường như muốn đứt…


- Ông cũng phải ráng ăn uống tẩm bổ mới được. Hồi này ông ăn uống đạm bạc quá, rủi bịnh thì…


Thấy bà quá lo lắng về mình, ông nói vui cho bà yên lòng:


- Tôi chỉ ưa mỗi cái món mắm cá lóc thôi. Nhà đi chợ không mua mắm về, là tôi giận bỏ ăn thiệt đó!


- Tánh ông in hệt ông Cử Trị, bữa nào tới ổng cũng hỏi:


“ Chị có mắm dồng cho tôi ăn không?Ăn ba cái mắm Ba Tri ngon thiệt là ngon, về Gò Vấp nhớ hoài, chịu hết nổi!”…


Bà vừa cười vừa quay đi làm công việc.


Tú Chiểu nhớ lần trước Cử Trị từ Gò Vấp xuống thăm ông, ông biểu bà kiếm mắm ngon đãi bạn. Nhân nhắc đến Tôn Thọ Tường, ông Trị bĩu môi mà biểu:


- Đúng, thằng Tường theo Tây nên không dám ăn cái món này, rủi Tây ngửi thấy khác mùi, nó đá đít cho thì chết! Không biết nó khôn tới chừng nào chớ không được ăn mắm ngon là dại trước đã. Bởi vậy thơ nó có câu biếm nhẽ những người yêu nước: “Khoe khoang sức giỏi lại tài khôn. Bán dạng mua môi cũng một phồn” tôi họa lại rằng: “Khoe khoang việc phải mới rằng khôn. Kẻ vạy người ngay há một phồn”. Bác không biết chớ, vừa rồi nó còn cả gan tới thăm chùa Cây Mai làm thơ vịnh mai ngụ ý mình trong trắng như hoa mai, mà bị người đời hiểu lầm. Tôi nghĩ nếu bạch mai mà biết nói thì phải nguyền rủa cái thằng mặt dày trơ trẽn nấp bóng mai mà lừa bịp người đời!...


Nghĩ đến chuyện phải vạch rõ bộ mặt bán nước của bọn Tường, Tú Chiểu lại nhớ tới việc soạn bổn Ngư tiều y thuật vấn đáp còn đang dang dở. Ông quay lại nói với bà:


- Con Hương “thơ ký”của tôi chưa về, bà hãy tạm thế chân nó chép giùm tôi đoạn này chút. Tôi đang có hứng.


Bà Tú đang nhanh tay rắc dâu cho tằm ăn vội dừng tay lại. Từ khi về Ba Tri, bà cũng học theo bà con ở đây trồng mấy luống dâu và gây mấy nong tằm, kéo tơ đem bán đi lấy tiền đỡ đần sinh kế trong gia đình. Bà chọn nuôi loại tằm sẻ, cho loại kén vàng, nhỏ mà dễ gỡ, cho một loại tơ sống và rất chắc. Tằm được nuôi trên những liếp tre chồng lên nhau, đặt trên một cái kệ dài. Nuôi tằm rất bận rộn, khi tằm mới nở phải đặt trên nong có giăng mùng, để bảo vệ tằm không bị côn trùng khác phá hoại. Khi tằm ăn rỗi phải rắc dâu đúng bữa không được để tằm đói…Cũng vì vậy nên vừa đi chợ bán tơ về, bà lại sấp ngửa thái dâu và cho tằm ăn.


Bà rắc tiếp cho đủ một lượt rồi vội vã rửa tay, ngồi ngay ngắn trước ván viết, cầm tập bản thảo lật trang chép dở rồi vê vê ngọn bút lông trên nghiên mực, chờ đợi. Ông hỏi:


- Nhà đọc tôi nghe coi hôm qua chép tới đâu rồi.


- Dạ thưa ông, mới chép tới câu:


Hai chử cang thường dằn các nước,


Một câu trung hiếu dựng muôn nhà.


Ông gật đầu rồi ngẫm nghĩ hồi lâu. Khi đặt thơ Vân Tiên ông thấy xuôi chảy hơn không khúc mắc bằng bổn Ngư Tiều lần này. Đó là vì câu chuyện trong thơ Vân Tiên hầu hết là chuyện chính ông đã trải qua, chuyện theo thầy đèn sách, chuyện đi thi, chuyện nghe tin mẹ chết khóc mẹ đến nỗi mù, chuyện bị hối hôn, chuyện gặp mối lương duyên, chuyện căm ghét bọn gian thần bán nước, chuyện muốn xông ra trận dẹp giặc…đều là cảnh thực của ông. Nhưng soạn bổn Ngư tiều ngoài chuyện dẫn giải y thuật ra, về cốt truyện cũng giản đơn hơn không có nhiều thứ lớp éo le như Vân Tiên, lại cần có nhiều đoạn thơ hay nói về thời thế lúc này nhằm khích động người dân chống giặc. Lời thơ phải vừa lâm ly vừa hùng hồn như là lời hịch mới là đắc thể.


Tú Chiểu xúc động nhớ lại niềm mến mộ của bà con đối với bổn thơ Vân Tiên của ông. Lúc đặt thơ ông chỉ mượn cớ trút bầu tâm sự không ngờ sau khi ra đời nó lại được bà con yêu chuộng đến thế. Bữa ông chạy về Cần Giuộc, bạn ông là Lê Quang Thịnh đi mướn thuyền giùm, nhưng thuyền nào cũng không chịu chở, lấy cớ đang lúc loạn lạc có mướn tới mấy nén vàng một chuyến cũng không muốn chở, rủi tên bay đạn lạc thì sao. Lúc giặc giã mạng người là quý nhứt, tiền bạc mà làm gì. Nhưng tới khi ông Thịnh kêu tên ông lên là thầy Tú Chiểu, mọi người tíu tít hỏi: “ Có phải thầy Tú Chiểu đặt thơ Vân Tiên không?”. Khi biết con người đặt thơ Vân Tiên bằng xương bằng thịt ở trước mặt họ, họ tranh nhau tình nguyện chở gia quyến ông đi. Người lái thuyền bữa đó vừa đưa chèo vừa chuyện vãn với ông suốt chặng đường. Anh ta phải chịu rằng: Những người trong thơ Vân Tiên chép để, đúng là dân Nam kỳ thứ thiệt! Khoái nhất đoạn Hớn Minh trị tội con quan Phủ bẻ luôn một giò và đoạn Tiểu đồng treo Trịnh Hâm lên cây mà đánh. Anh còn nói rất thâm thúy: Tôi thấy ở đời, già thì phải như ông Tiều ông Ngư, ông Quán, trẻ thì phải như Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực, gái thì phải như Nguyệt Nga, tớ thì phải như Tiểu đồng…còn bọn gian thì đích là cái giống Thái sư, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Bùi ông rồi…


Nhớ chuyện cũ, ông bỗng liên tưởng tới bọn gian trước mắt. Thằng Ba Tường theo giặc không biết nhục còn mượn thơ văn để bào chữa cho cái tội bán nước, chẳng những thế còn hù dọa những ai dám chống giặc. Thằng Trần Bá Lộc, thằng Đỗ Hữu Phương, đứa xuất thân mã tà, đứa xuất thân hộ trưởng mà sau khi theo Tây một bước leo lên tới Tri huyện Tri phủ…Những quân cẩu trệ ấy đáng băm vằm nguyền rủa. Mình không thể đích thân cầm khí giới diệt chúng thì phải dùng ngọn bút vạch mặt chúng trước mọi người. Chợt nghĩ ra một ý, ông cất giọng đọc:


Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,


Đâm mấy thằng gian…


Ông ngừng lại nghĩ. Bà Tú ngước lên chờ đợi. Mực thấm đẫm đầu bút rỏ một giọt xuống ván viết.


Trong im lặng nghe cả tiếng ong bay…Có tiếng con nhồng con sáo hót líu lo, ngoài xa tiếng cúc cù cu của mấy con cu cườm cu đất và tiếng gió rì rào trong những rặng dừa lão cao lênh khênh, thứ” dừa hụt sào”.


Gần trưa rồi, ánh nắng lọc qua nền lá cây xanh từ bên ngoài ánh vào bộ đồ trắng của ông một màu xanh như ngọc thạch. Một màu xanh của áo quan Tư mã đất Giang Châu([2]) nhưng không chỉ bận lòng vì một cuộc đời ca kỹ bên khoang thuyền ven sông mà cho cả trăm họ trong vòng nước lửa. Phải chi ông dùng một mũi gươm của Trương Định vừa đâm suốt ngực tên bá hộ Huy phản bội bán đứng chủ soái cho Tây. Hào khí bốc lên, ông vụt cất tiếng đọc to:


…bút chẳng tà!


Câu thơ nhặm lẹ như một đường gươm vừa đâm trúng đích. Rồi ông đọc liền hai câu kết:


Căm bấy lòng nhơ mang thói bạc


Trời gần chẳng gánh gánh trời xa


Ngọn bút lông lại bay trên nền giấy bản. Chép xong bà Tú ngước lên chờ ông đọc tiếp. Nhưng lần này bà thấy đôi mắt đục lờ của ông như nhìn đi đâu xa lắm…


 


VIII


Tới trước cửa dinh đô đốc Bô-na tục gọi “Lầu ông Thượng”, viên đội Huỳnh Tấn cẩn thận coi lại đồng hồ trên đỉnh tháp. Người Lang-Sa rất đúng giờ, mình tới trước giờ thì họ la mà trễ thì họ đá đít không thèm tiếp.


Lầu ông Thượng là một tòa lầu làm bằng cây phía trước có cái tháp trên đỉnh gắn một mặt đồng hồ rất lớn để báo giờ.


 Mỗi buổi trưa, tàu Đuy-pe-rê bắn một phát súng báo hiệu 12 giờ. Chánh sở Bưu Điện - Sở này nằm trước tháp đồng hồ, lo điều chỉnh giờ mỗi ngày. Đội Tấn nhớ ngay mấy câu vè làm để ca ngợi sự tinh xảo của người Lang-Sa:


  chỗ ghi giờ nhựt trung,


Trên lầu ông Thượng đăt vòng địa la.


Còn năm ba phút vậy mà,


Đem đồ hiệu lệnh kéo qua cột cờ.


Đợi đến đúng mười hai giờ


Đồ kia rớt xuống, súng hờ giật dầy,


Nổ lên một tiếng vang đầy,


Châu thành bốn phía sum vầy giấc trưa.


Có lần theo hầu quan Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương tới viếng thăm Kinh lược Phan Thanh Giản, Tấn đã phải trầm trồ trước chiếc đồng hồ “tự minh chung” mà ngươi Lang-Sa tặng quan Kinh lược khi ngài sang sứ Tây kinh. Đồng hồ cao một thước, trên có nắp đậy hình lá sen. Khi chiếc kim trên mặt đồng lá chỉ chữ Gián chẳng hạn thì chuông gõ năm tiếng. Nhưng so với cái đồng hồ trên này thì chiếc “tự minh chung” ấy không thấm tháp gì. Hèn chi quan Kinh lược cũng phải khen người Lang-Sa. Nay mình bỏ ông Trương Định qua đầu Lang-Sa thệt là thức thời. Ở đời trâu chậm uống nước đục. Cái anh Trần Bá Lộc lẹ chân, giờ đã leo lên đến chức Tri phủ “tân trào” rồi. Vậy mà mấy năm trước Lộc hãy còn là một tên lính mã-tà. Sự may rủi ở đời không biết thế nào mà nói.


Trong khi chờ lính vào thông báo, Tấn đưa mắt nhìn lên. Sườn tòa lầu làm toàn bằng cây nghe nói khi Bô-na mới từ Tây sang, tàu ghé Tân Gia Ba, Bô-na đặt thợ làm và chở qua Sài Gòn dựng ở gần xóm Hàng Đinh([3]) .


Bô-na ngồi sau bàn giấy thấy Tấn vô liền đứng dậy bắt tay chỉ ghế mời ngồi. Tấn khép nép không dám ngồi nhưng Bô-na cứ ấn y xuống ghế. Tấn lại khúm núm kéo ghế dịch ra bên.


Bô-na có mái tóc vàng hung xõa trước trán và hai nạm râu hung hung hai bên má, mặt hơi dài, cặp mắt sâu xanh lè tinh quái, mũi lõ, cặp môi mỏng mím chặt và chiếc cằm nhọn ở giữa có hõm sâu. Y mặc y phục nỉ xanh đậm, trước ngực choàng dải băng tam tài, vai đeo lon vàng và ngù thêu kim tuyến, lưng thắt dây vải vàng đeo bao kiếm ngắn. Ưỡn bộ ngục đầy mề đay, bội tinh, y ngồi phịch xuống ghế bành với vẻ thỏa mãn về cái mà y cho là một chiến thắng lớn của Lang-Sa: chiêu dụ được một thủ hạ thân tín của Quản Định.


Mấy năm nay Bô-na đã phải vất vả đối phó với Trương Định. từ cuối năm 1862, quân Định luôn luôn nhằm vào các đồn tiền tiêu Lang-Sa ở Phú Lâm, Bà Hom, Gò Công, Bến Lức, Cây Mai. Tại đồn Rạch Tra, quan ba Ta-bun-lơ cũng bị vây đánh khốn đốn. Bô-na phải xin viện binh của quan sáu Giô-rét đang đóng tận bên Tàu. Sau đó một tiểu đoàn bộ binh An-giê-ri đánh chiếm chiến lũy Đồng Sơn cách Gò Công 11 cây số về phí tây bắc. Đại tá hải quân A-ri-e mang quân từ Mỹ Tho sang Chợ Gạo án ngữ quân Định về phía tây và nam. Lại cho thông báo hạm Phoóc-banh án ngữ sông Vàm Cỏ ở chỗ vào Rạch lá. Pháo hạm A-va-lăng-xơ, Đra-gon-nơ và một pháo hạm nữa án ngữ ở sông cửa Tiểu, nhiều pháo hạm khác và xuồng làm nút chặn ở phía Tây, tổng hạm hạng nhẹ Y Pha Nho La-Xia-rơ án ngữ từ Xoài Rạp đến Cửa Tiểu ở phía đông. Đóng 30 thuyền bọc sắt, mỗi cái chở 6 người để cùng với các cánh quân vượt qua sình lầy và ruộng ngập nước. Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ để vượt sông, phá cảng. Pháo hạm A-lac-mơ sẽ ngược kinh Gò Công để yểm trợ cho các nỗ lực chính. Cánh quân trên bộ cũng tiến dọc theo con kinh này, do thiếu tướng Sô-mông và Đại tá Tây Ban Nha Đa-lăng-ca chỉ huy, ngày 22-1-1863 từ Sài Gòn kéo xuống. Ngày 26-2, đại binh Lang-Sa theo hai đường thủy bộ tiến về trại cá (Bến Chùa).


Vậy mà cũng chậtt vật mới chiếm được đất Gò Công. Phải dùng mười lăm chiếc xuồng đôi mới đổ bộ lên được. Lính Lang-Sa phải vịn theo be xuồng để đẩy xuồng đi. Lại phải dùng tấm thớt bằng gỗ nối liền hai chiếc xuồng để chống xuồng đi khi gặp nước sâu. Giá gỗ có súng đại bác đăt ở giữa, hai bên là hai cái móc sắt để bảo vệ cho lính ngồi trên xuồng. Bốn chiếc xuồng đôi hoặc nhiều hơn để khít nhau sẽ kết thành một cầu phao chắc chắn, khi qua bưng biền hay ruộng rẫy thì cứ sáu người khiêng một chiếc xuồng đi theo bộ binh.


Dầu Lang-Sa đã tấn công bằng xuồng và nhiều pháo hạm, nhưng Định lọt lưới rất dễ dàng, sau đó vẫn tiếp tục cho quân đánh úp và rao hễ ai giết được một người Lang-Sa đem đầu đến dâng sẽ được trọng thưởng. Thấy vậy, Bô-na quay sang trách Phan Thanh Giản cho là triều đình Huế đã bí mật giúp Trương Định chống Lang-Sa, không thành thực tôn trọng hoà ước Nhâm Tuất.


Phan Thanh Giản trả lời:


- Trương Định mạo nhận chức tước của triều đình, xin nguyên soái cứ bắt y mà giết.


Bô-na không tin, Phan Thanh Giản liền đưa ra một bức thư của Trương Định trả lời bức thư Phan khuyên giải giáp. Thư Định có mấy dòng như sau:


“Dân chúng ba tỉnh không muốn nước nhà bị nạn qua phân, nên họ suy tôn chúng tôi cầm đầu. Chúng tôi không biết làm cách nào hơn là đảm đương lấy trách nhiệm. Cho nên chúng tôi sẵn sàng tử chiến, lôi địch đàng đông kéo địch đằng tây, chống trả tới cùng và quyết giành phần thắng. Nếu ngài còn nói đến hòa nghị cắt đất cho giặc thì chúng tôi quyết không tuân theo mệnh triều đình, và không đời nào có chuyện ngài với chúng tôi hòa thuận, ngài cũng chớ lấy làm lạ”.


Cánh chủ chiến triều đình ở Bình Thuận và ba tỉnh miền Tây không ngớt ủng hộ Trương Định. Khi Bô-na đi sứ ra Huế về, Định gởi thư cho Bô-na ký tên Bình Tây đại nguyên soái, thóa mạ Tây  giết nhiều người lầm đường ra đầu thú và đòi Tây nhất thiết phải trả ba tỉnh miền đông cho nước Nam.


Đúng là ngày nào Trương Định còn thì người Tây chưa yên được. Định vẫn hoạt động mạnh và chắp nối với các nhà buôn để mua súng đạn đổi bằng lúa gạo. Chiến thuyền Lang-Sa khó bề phong tỏa được suốt dải bờ biển Nam Kỳ.


Bô-na đã nhiều lần treo giải lấy đầu Trương Định nhưng chưa có kết quả. Vì vậy nên khi nghe tin tên quan ba Gu-giơ- a ở Gò Công báo tin mới thu phục được đội Tấn, một thủ hạ của Trương Định là Bô-na mừng rỡ lịnh cho Gu-giơ-a mời Tấn lên đích thân gặp mình để bàn sách lược bắt Trương Định.


Bô-na nói với Tấn, giọng mơn trớn:


- Ta thay mặt nước Lang-Sa rất vui mừng khi thấy chú đã sớm biết đường ra thú. Ta nói thiệt cho chú hay, binh lực Lang-Sa rất lớn, bọn làm nghịch sớm chày sẽ bị quét sạch. Ra đầu với người Tây sớm ngày nào có lợi ngày ấy. Nói ta nghe, chú có kế sách gì trong việc bắt Quản Định trừ mối họa cho dân chúng?


Viên thông ngôn dịch lại, Tấn thưa:


- Bẩm quan Nguyên soái, vừa có tin đồn Định đã ra Huế lĩnh mệnh của Nam triều sau lại có tin Định ở Bình Thuận rồi tin Định ở gần Sài Gòn. Nhưng tôi cho đó là mưu mô của Định thường khéo léo tạo nên để người Tây không nghỉ ngơi yên ổn được mà thôi. Bởi chắc chắn Định vẫn lẩn quẩn ở vùng Gò Công nên tôi đã để tâm theo dõi…


Bô-na nóng ruột:


- Kế của chú thế nào, nói ngay đi.


Tấn làm vẻ quan trọng để Bô-na phải chú ý:


- Bẩm, tôi đã xin với quan ba cho các làng quanh vùng Gò Công mượn tiền không ăn lời nhưng buộc phải mách chỗ Định trú nếu Định có về. Tôi lại hứa với vợ con những tên làm nghịch đang bị giam, sẽ bảo lãnh cho chồng con họ được tha nếu họ chịu mách chỗ Định. Kế đó coi mòi có công hiệu. Được mật báo Định về cù lao Lý Nhơn ở rừng Sác, tôi bèn dẫn quân Lang-Sa về lùng bắt. Vùng này ở gần sông Xoài rạp và Đồng Tranh, tục kêu là Đám Lá Tối Trời, gồm bảy cụm cù lao nhỏ ở trên những cánh bùn lầy có dừa nước mọc lên như rừng rủ lá quanh năm che kín mặt trời. Địa thế hiểm yếu lại có nhiều đường thông ra biển và một con đường thông ra Bình Thuận. Định lấy đó làm căn cứ, một mặt điều quân đánh xuống các đồn Lang-Sa, một mặt cho binh lính cải trang làm thương thuyền đi theo đường biển ra miền Trung mua sắm súng đạn, lương thảo…


Bô-na ngắt lời:


- Hèn chi ta bắt được giấy tờ về việc một nhà buôn ngoài Phan Rí nhận mua khí giới từ Hồng Kông, An Độ đem về cho Định.


- Bẩm đúng vậy. Chúng tôi đã mở cuộc bao vây khu vực Lý Nhơn. Quân lính phải lội sình tới đầu gối và dùng đạn lửa mở đường mới qua được những chặng rào canh phòng của quân Định. Tuy họ chống trả kịch liệt, rốt cuộc ta cũng vào lọt căn cứ nhưng không bắt được Quản Định. Bù vào đó, chúng tôi đã bắt được một con nhỏ tên Xuyến là người chuyên đi đưa tin cho quân Định. Quan ba Gu-giơ-a đã xuống lịnh tra khảo buộc con nhỏ khai chỗ Định trốn tránh, nhưng dùng đủ mọi cực hình mà nó vẫn không chịu hé nữa lời…


- Các chú đã dùng đủ mọi kiểu tra tấn rồi chứ?


- Vâng, chúng tôi đã dùng hết cách, nào dùng kim đâm vô đầu ngón tay, nào treo ngược chân lên xà nhà mà đổ nước mắm vô hai lỗ mũi lộn chiều, nào mền xếp lót lên ngực trên lót ván dùng chày mổ giã xuống, nào trói chân rút ngược giữa treo hai bao cát kéo dang ra rồi buông cho nhập lại lấy người làm trái độn… Vậy mà vẫn đành thua gan con nữ tặc.


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








[1] Anh hùng thiên hạ ý kiến đại lược giống nhau.




[2] Chỉ Bạch Cư Dị, nhà thơ đời Đường, tác giả bài Tỳ bà hành.




[3] Nay là góc đường Hai Bà Trưng.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »