tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21075307
Tiểu thuyết
22.04.2013
Henry Fielding
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1

CHƯƠNG VII


Lần này đích thân tác giả ra mắt trên sân khấu.


Ông Oluơtdi không phải là người hay vội vàng nhìn sự vật ở những khía cạnh xấu, và không hề biết gì về nững lời ong tiếng ve là những điều rất ít khi lọt đến tai người anh hoặc người chồng - mặc dù nó đã ầm ầm bên tai những người láng giềng hàng xóm. Nhưng cảm tình của bà Blifin đối với Tôm, và thái độ bà cưng nó hơn chính con trai bà đã vô cùng bất lợi cho cu cậu. Lòng thương người ở ông Oluơtdi là một thứ tình cảm không gì ngoài chất thép của sự công bằng mới chế ngự được. Nếu như không có một tật xấu nào khác làm cho thăng bằng lại thì riêng một sự bất hạnh về một mặt nào đó cũng đủ làm cán cân lệch về lòng thương của con người tốt bụng ấy, và tranh thủ được tình bạn và thiện tâm của ông.


Do đó, khi ông đã thấy rõ ràng cậu Blifin bị chính mẹ ghét bỏ không nhìn nhận đến (mà quả thực thế) thì ông bắt đầu chỉ vì lý do đó thôi, nhìn cậu bé với con mắt thương cảm; mà tình thương cảm của những tâm hồn đẹp bác ái đem lại những kết quả gì, tôi chẳng cần trình bày ở đây với phần lớn độc giả nữa.


Kể từ đó, ông nhìn mọi hành động có vẻ như đạo đức của cậu bé với mục đích phóng đại, và xét mọi lỗi lầm của cậu bé bằng một chiếc kính đảo lại, thành ra hầu như ông không nhận thấy những lầm lỗi ấy nữa. Có lẽ tình thương người đáng quý này còn có thể là đáng khen, nhưng đến bước sau thì chỉ có thể biện hộ bằng sự yếu đuối của bản tính con người: vì vừa nhận ra thấy Tôm được bà Blifin cưng, thế là cảm tình của ông đối với người thanh niên đáng thương (mặc dầu vô tội) bắt đầu giảm sút trong lúc cảm tình của bà em đối với cậu gia tăng. Thực ra, riêng điều này không có đủ khả năng xóa hẳn Tôm Jôn ra khỏi trái tim ông. Nhưng nó cũng khá tai hại cho Jôn và chuẩn bị đem lại cho ông Oluơtdi những ấn tượng sau này gây ra những sự kiện quan trọng sẽ được kể lại trong truyện; cũng phải thú nhận rằng người thanh niên bất hạnh này, do thói lông bông, tính phóng dật và thiếu thận trọng của mình, cũng đã góp phần khá lớn trong việc gây ra những sự kiện ấy.


Khi ghi lại một số thí dụ này, nếu như không bị hiểu lầm, chúng tôi cũng hy vọng sẽ cung cấp được một bài học rất bổ ích cho những người thanh niên có thiện chí và sẽ là những độc giả của tôi. Họ sẽ thấy rằng một tâm hồn tốt đẹp, một tính tình cởi mở, tuy có đem lại sự thư thái và làm nảy sinh một niềm tự hào chân chính trong tâm hồn thật, song, than ôi! Nó lại không có lợi gì cho con người mang nó trong cuộc đời. Ngay cả những con người tốt đẹp nhất vẫn cần thiết phải khôn ngoan thận trọng. Quả vậy, hai đức tính ấy là những tên lính hộ vệ của đạo đức, thiếu chúng, đạo đức không bao giờ được an toàn. Những ý đồ và những hành động của bạn, nếu chỉ tự bản thân nó tốt vẫn chưa đủ, bạn phải lo sao cho chúng còn được thể hiện ra ngoài là tốt. Nếu cái bên trong của bạn không được đẹp đẽ huy hoàng thì bạn cũng cứ phải giữ cho có một cái bề ngoài ưa nhìn. Cần phải thường xuyên quan tâm đến điều này, nếu không những kẻ xấu bụng và ghen ghét sẽ ráng sức bôi nhọ bề ngoài của bạn, thì cho dù có sáng suốt và tốt bụng như ông Oluơtdi cũng không thể nhìn thấu qua mà phân biệt được những cái đẹp ẩn bên trong. Hỡi các bạn đọc trẻ tuổi, các bạn hãy coi đấy là câu châm ngôn cửa miệng của các bạn. Không có ai tài giỏi được đến mức có thể coi thường những quy tắc của sự không ngoan thận trọng. Ngay chính đạo đức cũng không thể tự coi là đẹp đẽ, nếu như bề ngoài không được trang sức trang nhã, lịch thiệp. Hỡi các môn đệ đáng quý của tôi, nguyên lý này nếu các bạn đọc cẩn thận, tôi hy vọng các bạn sẽ thấy nó được chứng minh, củng cố thêm bởi những thí dụ trong những trang sách tiếp theo.


Xin thứ lỗi cho sự xuất hiện ngắn ngủi này trên sân khấu. Thật ra việc này có lợi cho tôi vì, trong khi phát hiện ra những tảng đá thường làm cho sự vô tội và lòng tốt bị vò nát, tôi không thể bị hiểu lầm là đã khuyên bạn đọc đáng quý làm theo những biện pháp mà chúng tôi muốn chứng minh với các bạn rằng nếu đem dùng, các bạn sẽ thất bại. Chính vì không thể khiến được nhân vật nào trong truyện nói hộ, nên buộc lòng tôi phải đích thân nói lấy vậy.


 


 


CHƯƠNG VIII


 


Một câu chuyện trẻ con ấy thế mà qua đó ta thấy tính tình Tôm Jôn rất tốt.


 


Bạn đọc chắc còn nhớ ông Oluơtdi có cho Tôm Jôn một con ngựa nhỏ, coi như món quà đền bù cu cậu vì sự bị phạt oan uổng, theo ý ông.


Tôm giữ con ngựa đó khoảng hơn nửa năm, rồi cưỡi nó đến một chợ phiên gần đó và bán đi.


Lúc trở về, Thoăckơm hỏi Tôm đã dùng món tiền bán ngựa vào việc gì, nó trả lời thẳng không muốn nói cho lão biết.


Thoăckơm nói:


- Ái chà, mày không muốn nói à! Vậy để tao quất vào đít cho mày kỳ phải nói ra. Mỗi lần nghi ngờ điều gì lão thường vẫn nhè chỗ đó mà đánh.


Lão bắt một anh gia nhân cõng Tôm trên lưng và sửa soạn mọi thứ cho cuộc trừng phạt; giữa lúc ấy, ông Oluơtdi bước vào, xin cho hoàn thi hành trừng phạt Tôm, rồi bảo Tôm theo ông sang một phòng khác. Lúc chỉ còn mình ông với Tôm, ông hỏi lại câu Thoăckơm đã hỏi lúc nãy.


Tôi đáp rằng bổn phận của nó là không được từ chối ông điều gì, nhưng đối với tên khốn kiếp tàn bạo kia, nó chỉ muốn trả lời bằng một cái gậy mà nó hy vọng sớm sẽ có dịp dùng tới để trả đũa lại mọi thứ dã man của lão.


Ông Oluơtdi mắng Tôm rất nghiêm khắc về những lời lẽ vô lễ và khiếm nhã đối với thầy giáo, đặc biệt là về ý định trả thù của nó. Ông dọa nếu ông còn nghe thấy nó nói ra một lần nữa những lời lẽ như vậy thì nó sẽ hoàn toàn mất hết lòng thương của ông; vì không bao giờ ông lại bênh vực hoặc giúp đỡ một kẻ vô lại. Sau những lời tuyên bố tương tự, Tôm buộc lòng phải tỏ vẻ hối hận, trong sự hối hận này, nó đã không thành thực lắm: vì quả thực nó còn đang nghĩ cách trả miếng những ân huệ điếng người nó đã nhận được từ tay nhà sư phạm nọ. Tuy nhiên, ông Oluơtdi cũng bắt được nó cho ông biết vì cớ gì mà nó đã thù ông Thoăckơm đến thế, và sau mấy lời khuyên răn chân tình, ông cho phép nó nói tiếp như sau:


- Thưa cha thân yêu, quả thực con quý mến và kính trọng cha hơn hết thảy mọi thứ trên đời. Con biết con chịu ơn cha rất nặng, và con sẽ tự thấy hết sức đáng khinh nếu con nghĩ con có thể tỏ ra vô ơn đối với cha. Nếu con ngựa cha cho con biết nói, chắc chắn nó có thể nói để cha rõ rằng con yêu quý món quà cha cho con đến mức nào, vì con thấy vui thú trong việc chăm nom nó nhiều hơn là khi cưỡi nó. Quả thật, thưa cha, phải chia tay với nó, con đau lòng lắm. Con cũng không muốn bán nó vì bất cứ một lý do nào khác. Thưa cha, con tin chắc vào trường hợp con, chính cha cũng sẽ hành động như vậy, vì còn ai dễ xúc động trước những tai họa của người khác bằng cha. Thưa cha, nếu cha nghĩ rằng chính mình đã gây ra những tai họa ấy thì cha cảm thấy thế nào? Quả tình, con chưa bao giờ thấy cảnh khốn cùng nào như cảnh họ đã phải chịu đựng.


Ông Oluơtdi nói:


- Ai bị khốn cùng? Con định nói gì vậy?


Tôm đáp:


- Ôi, thưa cha, bác coi rừng đáng thương của cha và cả gia đình đông đúc của bác ta, kể từ khi bị cha sa thải, đã lâm vào cảnh bần cùng đói rét thảm hại. Con không sao đành tâm nhìn những người khốn khổ ấy ở trần và sắp chết đói, đồng thời lại biết chính vì con mà họ phải gánh lấy những nỗi khốn khổ ấy... Con không sao chịu đựng nổi... thưa cha, con xin thề, con không sao chịu đựng nổi (nói đến đây nó giàn giụa nước mắt rồi nói tiếp). Con không giữ lại món quà yêu quý cha cho con chính là để cứu họ khỏi cảnh bị hủy diệt hoàn toàn, con đành chia tay với món quà yêu quý cha cho con, mặc dầu đối với con, món quà ấy vô cùng quý giá. Con bán ngựa vì họ, và được bao nhiêu tiền con đã đưa cho họ hết.


Ông Oluơtdi đứng lặng hồi lâu; ông chưa nói, nước mắt đã rưng rưng. Cuối cùng, ông cho Tôm lui ra sau khi đã ngọt ngào mắng nó mấy câu và khuyên nó từ giờ trở đi, nếu gặp trường hợp khó khăn thì phải hỏi ông, chứ không được tự mình xoay xỏa cứu giúp họ bằng những biện pháp kỳ dị như vậy.


Về sau, việc này đã là một đề tài tranh luận giữa Thoăckơm và Xque. Thoăckơm chủ trương rằng như vậy khác gì đập vào mặt ông Oluơtdi, vì ông đã chủ tâm trừng phạt bác coi rừng về tội không vâng lệnh. Lão bảo trong một số trường hợp, theo lão, cái mà người đời gọi là lòng từ thiện lại chống lại ý muốn của đấng Vạn năng, vì Người đã quyết định một số kẻ nào đó phải chịu sự hủy diệt; và như vậy cũng là một cách hành động chống lại ông Oluơtdi; và lão kết luận như thường lệ, nhiệt liệt tán thành nên cho Tôm ăn đòn. Xque hăng hái lập luận có lẽ ngược lại với Thoăckơm, hoặc đồng tình với ông Oluơtdi, lão có vẻ rất tán thưởng việc Jôn đã làm. Còn như lão đưa ra lý lẽ gì nhân dịp này, thấy không cần kể lại, vì chắc chắn đa số bạn đọc đều là những thầy cãi nhiều khả năng hơn, sẵn sàng bênh vực cho thằng Jôn tội nghiệp. Quả thật, một sự việc mà đã không thể có cách nào suy ra được từ Quy tắc của điều Trái thì ghép vào Quy tắc của điều Phải cũng không khó gì.


 


 


CHƯƠNG IX


 


Gồm một câu chuyện đồi bại hơn, cùng những lời bình luận của Thoăckơm và Xque.


 


Đã có một người nào đó nổi tiếng khôn ngoan hơn tôi nhiều nhận thấy rằng tai họa ít khi xảy đến lẻ loi. Theo tôi, một thí dụ về điều này, có thể thấy ở trường hợp vị nào bất hạnh bị người ta khám phá ra một việc làm bậy nào đó, vì ở đây sự khám phá ít khi dừng cho đến khi tất cả mọi tội khác đều bị phui ra. Thằng Tôm đáng thương cũng ở trong trường hợp tương tự. Nó vừa được tha tội bán ngựa thì lại bị khám phá ra rằng trước đó ít lâu, nó đã bán một tập kinh thánh rất đẹp ông Oluơtdi cho nó; số tiền bán được, nó cũng đã dùng vào việc như nói ở trên. Cậu Blifin đã mua cuốn sách này, mặc dầu cậu cũng có một cuốn khác như thế; cậu mua cuốn sách này phần vì cậu kính trọng cuốn kinh thánh, phần vì tình bạn đối với Tôm, và cũng không muốn để cho cuốn sách bị bán ra ngoài gia đình với nửa giá tiền. Do đó, tự cậu trả cái giá nửa tiền ấy, vì cậu là một thiếu niên khôn ngoan, thận trọng về chuyện tiền nong nên hầu như ông Oluơtdi cho cậu đồng nào, cậu đều để dành hết.


Ta để ý thấy nhiều người cứ phải là sách của riêng mình mới đọc. Trái lại, từ khi Blifin mua được cuốn kinh thánh kia không bao giờ cậu dùng quyền nào khác. Mà người ta lại thấy cậu chăm đọc hơn khi cậu dùng quyền của mình. Vì cậu hay đem những đoạn khó hiểu ra hỏi Thoăckơm, không may lão nhìn thấy tên Jôn ghi ở nhiều chỗ trong cuốn sách. Lão bèn tra hỏi khiến cậu Blifin bắt buộc phải khai ra đầu đuôi câu chuyện.


Thoăckơm quyết định rằng một trọng tội loại này, mà lão gọi là tội báng bổ, không thể không bị trừng phạt. Lập tức, lão tiến hành đánh đòn. Chưa lấy thế làm hài lòng, lão còn mách ngay ông Oluơtdi, vì theo ý lão, đó là một tội tày trời; lão mạt sát Tôm bằng những lời lẽ cực kỳ gay gắt, lại ví Tôm với bọn con buôn bị Chúa đuổi ra khỏi Đền thánh.


Xque nhìn vấn đề này với con mắt khác hẳn. Lão bảo là không hiểu cớ sao bán một cuốn sách này lại phạm tội nặng hơn bán một cuốn sách khác, rằng việc bán những cuốn sách kinh thánh là hoàn toàn hợp với pháp luật của Chúa cũng như pháp luật của con người, và do đó, không hề có gì đáng trách. Lão bảo Thoăckơm rằng việc lão quan tâm nhiều quá đến việc này, làm lão nhớ lại chuyện một bà rất ngoan đạo, bà ta chỉ vì mộ đạo mà đã đánh cắp của một bà bạn một quyển Thuyết giáo của Tilơtxơn.


Câu chuyện làm cho máu dồn lên đỏ tía cả mặt lão mục sư, gương mặt xưa nay vốn đã không phải là tái lắm. Lão đang định trả miếng bằng những lời lẽ cáu kỉnh, bực tức thì may thay bà Blifin, cũng có mặt trong cuộc tranh luận, nói xen vào. Bà tuyên bố hoàn toàn đồng ý với Xque. Bà lập luận một cách thật là uyên bác để ủng hộ ý kiến của lão, và kết luận rằng nếu quả thật Tôm có lỗi thì phải thú nhận rằng chính con trai bà xem ra cũng có tội ngang như vậy; bà không thấy giữa kẻ bán và người mua có sự phân biệt nào hết; cả hai đều đáng đuổi ra khỏi Đền thờ Chúa như nhau.


Bà Blifin tuyên bố ý kiến của mình xong, thế là cuộc tranh cãi chấm dứt. Nếu như Xque có cần nhiều lời thì sự thắng lợi cũng đủ khiến cho lão im rồi. Còn Thoăckơm thì hầu như nghẹn ngào vì tức giận, ấy là không kể, bởi những lý do đã dẫn trên, lão cũng không dám táo gan làm phật ý bà Blifin. Về phần ông Oluơtdi, ông nói vì Tôm đã bị trừng phạt rồi, ông không muốn bày tỏ ý kiến về việc này nữa; còn như ông có giận dữ thằng bé hay không, tôi xin để độc giả tự đoán lấy.


Sau đó không lâu, nhà điền chủ Wêtxtơn (tức là vị thượng lưu chủ nhân của trang thự, nơi con gà gô bị bắn) lại kiện bác coi rừng về những vụ phá phách thuộc loại tương tự. Thật là một câu chuyện tai hại cho bác ta, vì không những bản thân việc ấy đe dọa làm cho bác tai hại, mà thực tế là cắt đứt mối hy vọng được ông Oluơtdi hồi tâm thương hại: quả vậy, một buổi tối, ông Oluơtdi, cậu Blifin và Tôm Jôn cùng dạo chơi, Tôm đã khôn khéo hướng ông đến chỗ của Blăch Giooc thì thấy con người khốn khổ này cùng gia đình, tức là vợ và các con, sống trong cảnh đói rét, thiếu thốn cùng cực, vì số tiền Jôn cho họ đã bị những món nợ cũ nuốt gần hết.


Một cảnh tượng như vậy không thể không khiến cho tâm hồn ông Oluơtdi xúc động. Ông lập tức cho vợ bác ta hai đồng ghinê bảo đem tiền ấy đi may quần áo cho lũ trẻ. Trước tấm lòng tốt, người đàn bà khốn khổ òa lên khóc; bác vừa cám ơn ông, vừa bày tỏ lòng biết ơn đối với Tôm, vì đã từ lâu, nhờ Tôm giúp đỡ mà bác và cả gia đình không đến nỗi chết đói. Bác nói:


- Nếu không nhờ lòng tốt của cậu Tôm thì chúng cháu chẳng có lấy một miếng mà ăn, và lũ cháu nhỏ tội nghiệp này cũng không có lấy một mảnh giẻ rách khoác lên người.


Quả thật, ngoài cuốn kinh thánh và con ngựa, Tôm cũng đã hy sinh một tấm áo ngủ và nhiều đồ vật khác để giúp gia đình cùng quẫn này.


Trên đường về nhà, Tôm dùng hết tài hùng biện để phơi bày sự khốn cùng của gia đình này và thái độ ăn năn của chính bác Giooc. Tôm nói khéo đến nỗi ông Oluơtdi đáp rằng, theo ông thì bác coi rừng chịu khổ sở về chuyện đã qua như vậy là đủ rồi, ông cũng muốn tha thứ cho bác và sẽ kiếm cách trợ cấp cho bác và gia đình sinh sống.


Nghe tin ấy, Tôm sướng đến nỗi mặc dù lúc về đến nhà thì trời đã tối, nó cũng lộn trở lại đi một dặm đường dưới trời mưa tầm tã để bảo cho người đàn bà tội nghiệp cái tin vui kia. Song, cũng như những người hay quá vội tiết lộ tin tức, Tôm chỉ chuốc lấy cho mình nỗi hận là đã nói sai, vì cái số phận không ra gì của bác Giooc đã lợi dụng ngay lúc người bạn của bác vắng nhà mà làm đảo lộn tất cả mọi sự.


 


 


CHƯƠNG X


 


Cậu Blifin và Tôm Jôn hiện


ra với những nét khác nhau


 


So với bạn, cậu Blifin kém xa về đức tính khoan dung đáng quý, nhưng cậu lại vượt xa cậu về một đức tính khác thuộc loại cao hơn, tức là sự công bằng. Về mặt này thì cậu đã noi theo lời giáo huấn cũng như gương sống của cả Thoăckơm và Xque. Vì mặc dầu cả hai vị luôn mồm nói đến danh từ khoan dung, nhưng trong thực tế Xque coi đức tính này không thích hợp với quy tắc của điều phải, còn Thoăckơm thì chủ trương thực hiện công lý, và dành sự khoan dung cho Thượng đế. Thực vậy, hai vị có ý kiến khác nhau phần nào về đối tượng của đức tính cao cả này, mà cứ theo đó, có lẽ Thoăckơm sẽ tiêu diệt một nửa nhân loại, còn nửa kia để Xque tiêu diệt nốt.


Tuy khi có mặt Jôn, cậu Blifin thường lặng yên, nhưng khi đã suy nghĩ kỹ càng hơn về vấn đề này thì cậu không thể nào kham nổi ý nghĩ để ông bác ban ơn cho kẻ không xứng đáng. Do đó, cậu lập tức quyết định báo cho bác biết sự việc mà ở trên chúng tôi đã có nói qua với bạn đọc. Sự thực câu chuyện là thế này:


Khoảng một năm sau khi bị ông Oluơtdi bắt thôi việc, và trước khi Tôm bán con ngựa, vì bác coi rừng không có bánh mì để nuôi miệng cũng như để nuôi sống gia đình, nên một hôm nhân đi qua một cánh đồng của ông Wêtxtơn, bác nhìn thấy một con thỏ rừng nằm trong hang, bác đã đập vào đầu con thỏ một cách dã man, ngược với tục lệ của vùng này, cũng như trái với luật lệ của nghề săn.


Mấy tháng sau, tên lái buôn đã mua lại con thỏ này của bác và không may, bị bắt cùng với một tang vật trên người là một số khá nhiều mồi săn. Để nhà quý tộc tha tội, hắn bắt buộc phải tố cáo ra một người làm nghề săn trộm nào đó, hắn đã chọn ngay bác Giooc, vì bác là người đã có chuyện rắc rối với ông Wêtxtơn, và cũng là tay có thành tích bất hảo trong vùng. Không những thế, bác lại là vật hy sinh có lợi nhất của tên lái buôn, vì từ hồi ấy bác không có hàng bán cho hắn nữa; tố cáo bác, hắn có dịp che đậy cho những khách hàng cánh hẩu, vì nhà điền chủ thấy có thể trừng trị được bác Giooc đã khoái quá không cần điều tra gì thêm nữa; riêng bác Giooc thì chỉ một vụ phạm pháp cũng đủ làm cho mất nghiệp.


Giả sử việc này được đưa đến tận ông Oluơtdi thì có lẽ cũng chẳng tai họa mấy tí cho bác coi rừng. Nhưng không có sự nhiệt tình nào mù quáng hơn là nó được thúc đẩy bởi lòng yêu công lý chống lại kẻ phạm tội. Cậu Blifin quên rằng việc xảy ra đã lâu; cậu cũng thay đổi luôn cả nội dung sự việc xảy ra, và bằng cách vội vã thêm vào chỉ một chữ S( ) cậu đã biến đổi câu chuyện đi khá nhiều: vì cậu nói rằng bác Giooc đã đánh bẫy nhiều thỏ rừng. Những sự thêm thắt này đều rất có thể được đính chính nếu như trước khi tiết lộ chuyện này với ông Oluơtdi, cậu Blifin đã không khăng khăng đòi ông hứa sẽ giữ thật bí mật; thế là bác coi rừng bị kết tội mà không có cơ hội nào tự biện hộ; bởi lẽ việc giết con thỏ rừng và vụ kiện đã quá rõ ràng, ông Oluơtdi không hoài nghi gì nữa về phần còn lại.


Thế là nỗi vui mừng đến với gia đình bác coi rừng chẳng được bao lâu. Sáng hôm sau, ông Oluơtdi tuyên bố ông có những lý do mới để giận, nhưng ông không nói ra, và ông dứt khoát ra lệnh cho Tôm không bao giờ được nhắc tới bác Giooc nữa. Ông cũng nói sẽ cố gắng giữ cho gia đình bác ta khỏi chết đói, nhưng riêng bản thân bác ta thì ông mặc bác với pháp luật, vì không có cách gì giữ cho bác khỏi vi phạm pháp luật.


Tôm không tài nào đoán được tại sao ông Oluơtdi lại giận dữ như vậy, vì Tôm không hề nghi ngờ tí gì về cậu Blifin. Tuy thế, những chán ngán thất vọng không hề làm cho tình bạn của Tôm giảm sút, nó bèn quyết định dùng một biện pháp khác để cứu bác coi rừng.


Gần đây, Tôm trở nên rất thân mật với ông Wêtxtơn. Tôm được nhà quý tộc này có nhiều cảm tình, vì nó đã phi ngựa qua được những chướng ngại vật có tới năm gióng chắn ngang và đạt nhiều thành tích thể thao khác. Nhà điền chủ đã nói chỉ cần được khuyến khích đầy đủ, nhất định Tôm sẽ trở thành một nhân vật vĩ đại. Ông ta vẫn thường tỏ ý ao ước có một người con trai tài năng như vậy. Một hôm, trong một buổi rượu say, ông ta hết sức trịnh trọng khẳng định rằng Tôm có thể dẫn một bày chó săn đua tài săn thú với bất cứ một nhà đi săn nào trong nước để giành giải thưởng một nghìn đồng bảng do chính ông đặt.


Nhờ những tài năng thuộc loại này, Tôm đã tranh thủ được cảm tình của nhà điền chủ đến mức trở thành một thực khách được tiếp đón nồng hậu nhất tại bàn ăn của ông ta, đồng thời là một người bạn săn được ông ưa thích nhất. Tất cả những gì được nhà điền chủ coi là thân thiết nhất như súng, chó săn, ngựa, bây giờ Jôn được tự do dùng như của chính mình. Vì vậy, Tôm quyết định sử dụng ân huệ đó để giúp người bạn Blăch Giooc; Tôm hy vọng đưa bác ta vào giúp việc trong gia đình ông Wêtxtơn, với cương vị như khi trước làm cho ông Oluơtdi.


Nếu bạn đọc nghĩ lại rằng bác coi rừng này đã có chuyện rắc rối với ông Wêtxtơn, và hơn thế nữa bác còn làm cho ông ta bực mình vì một câu chuyện quan trọng hơn, có lẽ bạn sẽ cho dự định trên của Tôm là điên rồ, ngu xuẩn; song, nếu bạn không hoàn toàn lên án Tôm về điểm này, ắt bạn sẽ rất khen ngợi cậu bé, vì đã cố gắng làm hết sức để củng cố lợi ích của mình trong một hoàn cảnh gay go đến như vậy.


Nhằm mục đích trên, Tôm nói lót với cô con gái ông Wêtxtơn, một thiếu nữ khoảng mười bảy tuổi và được ông bố cưng hơn hết thảy mọi thứ trên đời, sau những thứ cần thiết để đi săn bắn đã nói ở trên. Nếu như đối với nhà điền chủ cô thiếu nữ có đôi chút ảnh hưởng, thì Tôm cũng có một chút ảnh hưởng đối với cô. Song, chúng tôi chủ tậ coi cô là nữ nhân vật chính của cuốn truyện này, một thiếu nữ không những chính chúng ta rất yêu quý, mà có lẽ nhiều bạn đọc của tôi cũng sẽ có cảm tình với cô trước khi chúng ta chia tay nhau, do đó, để cho cô xuất hiện ở cuối một chương sách thì không thỏa đáng một chút nào...


 


QUYỂN BỐN: GỒM THỜI GIAN MỘT NĂM


CHƯƠNG I


Gồm năm trang giấy


 


Chân lý chính là đặc điểm phân biệt tác phẩm của chúng tôi với những tiểu thuyết nhảm nhí đầy dẫy những quái vật, tức là sản phẩm của những bộ óc hoảng loạn chứ không phải là của tự nhiên; một nhà phê bình nổi tiếng đã nói rằng những thứ tiểu thuyết ấy chỉ đáng cho bác thợ làm bánh ngọt sử dụng; vì thế mặt khác, chúng tôi cũng tránh không muốn giống một loại truyện khác mà hình như một nhà thơ nổi tiếng đã cho rằng đấy là thứ truyện rất có ích cho bác thợ nấu bia, bởi vì đọc loại truyện ấy thường thường phải chiêu thêm một vại bia ngon thật đầy.


Trong khi... tiểu thuyết bạn cùng rượu


Vuốt cho trôi hàng loạt chuyện tẻ ngắt của mình.


Vì đó là thứ rượu mạnh của các nhà tiểu thuyết tân thời - mà có thể là nàng thơ của họ nữa, nếu như ta tin được ý kiến của Bơtlơ người chủ trương rằng rượu làm nên cảm hứng, cho nên cũng phải coi đó là thứ đồ "nhậu nhẹt" để độc giả của họ dùng, bởi lẽ bất cứ cuốn sách nào cũng cần phải đọc với tinh thần và phương pháp như khi nó được viết ra. Vì thế tác giả trứ danh của cuốn Hurlothrumbo đã nói với một vị giám mục học rộng rằng sở dĩ đức cha không thưởng thức được cái hay của vở kịch ông ta viết là vì khi đọc ngài không cầm trong tay một cây vĩ cầm, vì khi viết vở kịch này, bao giờ tác giả cũng có thứ nhạc cụ ấy trong tay.


Để cho tác phẩm của chúng tôi tránh khỏi nguy cơ bị coi là tương tự với sản phẩm của những nhà tiểu thuyết kia, chúng tôi đã tìm mọi cơ hội xen vào đây đó trong toàn bộ cuốn sách nhiều hình tượng so sánh, nhiều đoạn văn miêu tả, cùng những thứ trang trí đầy thi vị khác.


Quả tình, những thứ này nhằm thay thế cho cái khoản rượu đã nói ở trên và để cho tinh thần tỉnh táo chống lại những cơn buồn ngủ vẫn thường tấn công độc giả cũng như người viết trong một tác phẩm dài. Thiếu những loại gián đoạn này thì một áng văn tự sự hay nhất kể về những chuyện thực tế rõ ràng cũng sẽ làm cho độc giả không chịu nổi. Vì chỉ có sức chú ý liên tục vĩnh viễn mà Hôme cho là thần Jôvơ( ) mới có, thì mới đương đầu nổi với những thứ báo chí nhiều tập.


Chúng tôi xin để độc giả xác định xem vì lẽ gì chúng tôi đã nhân nhiều cơ hội xen lẫn vào tác phẩm những phần có tính chất trang trí ấy. Chắc chắn các bạn sẽ đồng ý rằng không có lúc nào thích hợp hơn chính lúc này, tức là lúc chúng tôi sắp sửa giới thiệu một nhân vật quan trọng, thực vậy, không ai khác nữ nhân vật chính của bản sử thi viết bằng văn xuôi này. Do đó, ở đây chúng tôi nghĩ rằng nên chuẩn bị tinh thần để độc giả tiếp đón nàng bằng cách trình bày với các bạn mọi hỉnh ảnh thú vị mà chúng tôi có thể vẽ lại theo bộ mặt của tự nhiên. Để biện hộ cho phương pháp này, chúng tôi dẫn ra nhiều tiền lệ; trước tiên, đó là một nghệ thuật rất quen thuộc với các nhà thơ viết bi kịch của chúng ta, và được họ rất ưa dùng; ít khi họ quên không chuẩn bị cho khán giả tiếp đón những nhân vật chính của họ.


Thường thường, nhân vật anh hùng được giới thiệu với một hồi kèn trống inh ỏi, nhằm đánh thức tinh thần thượng võ của khán giả, và để cho tai họ làm quen với cái giọng huênh hoang, ồn ào mà anh chàng mù của Lôckơ tiên sinh cũng không lầm lẫn quá đáng khi ví nó với tiếng thét của một cây kèn đồng. Lại khi nào một cặp tình nhân sắp bước ra sân khấu, thường thường có một bản nhạc nhẹ đưa họ lên, hoặc là để vuốt ve khán giả với tất cả cái êm ái của một mối tình say đắm, dịu dàng, hoặc là để ru họ và chuẩn bị cho họ vào một giấc mơ hầu như chắc chắn sẽ đến với họ trong màn tiếp theo.


Chẳng những các nhà thơ mà các ông chủ của các nhà thơ ấy, tức là các ngài quản lý rạp hát, hình như cũng nắm được bí mật này, vì ngoài những tiếng trống cà rùng báo hiệu nhân vật anh hùng sắp ra trò như đã nói ở trên, nhân vật này còn được một nửa tá bọn chạy hiệu đưa ra sân khấu; cái bọn này được coi là cần thiết đến mức nào cho sự xuất hiện của nhân vật kia, bạn hãy đọc câu chuyện về sân khấu sau đây sẽ rõ.


Vua Pyrơx( ) đang dùng bữa trưa tại một quán rượu kề sát rạp hát, thì có lệnh gọi ông ra sân khấu. Vị anh hùng, không muốn từ biệt tảng vai cừu, mà cũng không muốn làm cho ông Winx (ông bầu của ngài) giận dữ vì nỗi khán giả phải đợi lâu; ngài bèn đút lót mấy bác phải ra trò trước, để họ hoãn lại. Thành thử, khi ông Winx hét ầm lên: "Mấy anh thợ mộc phải ra trò trước vua Pyrơx đâu rồi?" thì vị hoàng đế vẫn thản nhiên nhai món thịt cừu, và khán giả, mặc dầu đều sốt ruột, cũng đành thưởng thức âm nhạc trong lúc ngài còn vắng mặt.


Thẳng thắn mà nói, tôi vẫn tự hỏi không biết nhà chính trị thường có cái mũi rất thính, có đánh hơi thấy sự ích lợi của thủ đoạn này không. Tôi tin chắc vị quan tòa ghê gớm tức là quan Đốc lý của tôi đã nhiễm nặng cái không khí tôn sùng bao bọc ngài quanh năm với một đám gia nhân mấy đứa bao giờ cũng đi trước, làm tăng thêm vẻ huy hoàng của ngài. Xin thú thực rằng, ngay như tôi đây là kẻ vốn không hay bị cuốn hút lắm vì sự phô trương, mà cũng bị cảnh tượng tiền hô hậu ủng ấy gây ấn tượng không ít. Khi nào tôi thấy một người bệ vệ bước đi trong một đám rước, sau những người khác mà công việc chỉ là đi trước người này, thì tôi vẫn cứ nghĩ rằng ông ta đáng tôn kính hơn là khi nhìn thấy ông ta trong một trường hợp bình thường khác.


Song, lại có một thí dụ hoàn toàn thích hợp với chủ ý của tôi. Tức là cái tục lệ cử một người đàn bà mang lẵng hoa, đi trước đám rước trọng thể trong một cuộc lễ đăng quang, với nhiệm vụ rắc hoa lên sân khấu trước khi các nhân vật tai to mặt lớn bắt đầu cuộc diễu hành. Cổ nhân hẳn đã cầu nữ thần Flôra( ) đảm nhiệm việc này; những tăng lữ hoặc những nhà chính trị của họ khiến được dân chúng tin vào vị thần này cũng không khó gì, mặc dầu vị thần đã do một người trần tục thay mặt làm hộ nhiệm vụ. Song, chúng tôi không cố ý cưỡng ép bạn đọc, và do đó những ai phản đối khoa thần học ngoại đạo có thể tùy thích đánh đổi vị nữ thần của chúng tôi lấy người đàn bà mang lẵng hoa. Nói tóm lại, chủ ý của chúng tôi là giới thiệu nữ nhân vật chính một cách hết sức long trọng trong phạm vi khả năng cho phép, với giọng văn hào hứng cùng mọi chi tiết khác nhằm tăng thêm sự kính nể của bạn đọc. Quả thực, vì một số lý do, chúng tôi muốn khuyên những độc giả nam giới nào có tâm hồn đa cảm chớ nên đọc tiếp, nếu như chúng tôi không chắc chắn được rằng, dù bức chân dung nữ nhân vật chính của chúng tôi đáng yêu mến đến mức nào đi nữa, vì nó được thực sự họa theo thực tế, thì vẫn còn khá nhiều đồng bào xinh đẹp của tôi xứng đáng thỏa mãn bất cứ sự say mê nào, và đáp ứng được bất cứ một ý niệm nào về sự hoàn thiện của nữ giới, mà ngọn bút chì của tôi có thể gợi lên được.


Bây giờ, chả dám rào đón thêm nữa, chúng tôi xin chuyển sang chương sau.


 


 


CHƯƠNG II


 


Một lời gợi ý ngắn ngủi về điều chúng ta có thể làm được về sự cao cả, và một bức chân dung của cô Xôfia Wêtxtơn.


 


Hãy lặng đi những làn gió mạnh, cầu xin vị thần ngoại đạo điều khiển gió hãy giam giữ trong xiềng xích những cánh tay hung hãn của chú Bôrêa( ) ồn ào và cái mũi nhọn hoắt của chú Orơx( ) cắt buốt da thịt. Hỡi chàng Zêphyrơx( ) dịu dàng hãy từ nệm giường thơm tho vươn lên trời tây, dẫn theo những làn gió tuyệt diệu, có sức quyến rũ nàng Flôra( ) kiều diễm từ trong phòng khuê bước ra ngoài, được hương thơm của những giọt sương mai long lanh như ngọc, những giọt sương vào ngày mồng một tháng sáu, tức là ngày sinh nhật của nàng, khi người thiếu nữ tươi tắn, áo rộng lòa xòa nhẹ bước trên cánh đồng cỏ xanh rờn, và mọi loài hoa đều ngửa mặt đón chào cho tới khi khắp cánh đồng nhuộm trăm màu sặc sỡ, mà sắc hương ganh đua nhau sao cho nàng được hài lòng mãn ý.


Bây giờ, nàng đã có thể xuất hiện rồi, và vô cùng kiều diễm, các người, diễn viên hợp xướng mang lông vũ của tạo hóa có những tiếng hót êm ái mà ngay Hanđen cũng chẳng sánh tày, các người hãy so giọng du dương để ca tụng sự xuất hiện của nàng. Âm nhạc của các người xuất phát từ tình yêu, và nó trở về với tình yêu. Hãy làm thức tỉnh cái tình yêu đương êm đềm trong trái tim mỗi chàng trai yêu đường vì, nhìn kìa! Mang trên người mọi vẻ duyên dáng của tạo hóa trang điểm cho, nào là sắc đẹp, tuổi trẻ, vẻ nhí nhảnh, ngây thơ, e lệ và dịu dàng, cặp môi hồng thở ra sự êm ái ngọt ngào và đôi mắt long lanh ánh ra những tia ngời sáng, cô Xôfia kiều diễm đang bước tới.


Thưa bạn đọc, có lẽ bạn đã được nhìn thấy bức tượng thần Vệ nữ Mêđixix( ), cũng có lẽ bạn đã được xem phòng triển lãm tranh mỹ nhận tại Hamtơn. Bạn có thể nhớ lại từng bức họa lộng lẫy của Sơcsin tại điện Galaxy và tất cả những người đàn bà đã từng được nâng cốc chúc tụng sức khỏe tại câu lạc bộ Kitcat( ). Hoặc giả nếu bạn ra đời sau triều đại của họ, thì ít nhất bạn cũng đã được nhìn thấy những cô con gái họ, những hoa khôi chẳng kém rực rỡ của thời đại này, mà, muốn liệt kê tất cả tên họ ra đây, tôi e rằng sẽ kín toàn bộ tác phẩm.


Nếu bạn đã được nhìn thấy tất cả những con người ấy thì bạn cũng đừng sợ câu nói sỗ sàng một lần bá tước Rôxtơ đã dùng để trả lời một người đã từng nhìn thấy nhiều thứ trên đời. Không, nếu bạn đã nhìn thấy tất cả những con người ấy mà vẫn không hiểu thế nào là sắc đẹp thì đấy là bạn không có mắt, và nếu đã được nhìn mà bạn không cảm thấy sức mạnh của sắc đẹp thì đấy là bạn không có trái tim.


Song, anh bạn ạ, cũng có thể anh bạn đã nhìn thấy tất cả những con người ấy mà vẫn không sao có được một ý niệm chính xác về cô Xôfia, vì cô không giống hẳn người nào trong bọn họ. Cô giống bức chân dung Công nương Ranơlagơ hơn; và tôi lại nghe nói cô còn giống bà công tước Mazarin nổi tiếng kia hơn nữa; nhưng cô giống nhất một người mà hình ảnh mãi mãi không thể rời khỏi trái tim tôi, và nếu bạn nhớ lại được con người ấy, tức là bạn đã có một ý niệm khá đúng về cô Xôfia vậy.


Song, e rằng bạn không có cái may mắn ấy chăng, nên chúng tôi sẽ gắng đem hết tài năng ra miêu tả lại viên ngọc vô giá đó, mặc dầu chúng tôi hiểu rằng với tài năng cao nhất của chúng tôi, chúng tôi vẫn không đủ sức để làm công việc này.


Vậy thì Xôfia, người con gái độc nhất của ông Wêtxtơn, là một thiếu nữ vóc người tầm thước, có phần hơi dong dỏng cao, khổ người không những cân đối mà lại cực kỳ thanh tú. Tỷ lệ vừa phải của đôi cánh tay cho ta đoán được một sự đăng đối hoàn hảo của đôi chân. Bộ tóc đen, rất dày, rủ xuống tận ngang lưng, bây giờ theo thời trang, cô đã cắt ngắn nó đi, uốn cong nó lên ngang vai sau gáy, nom đẹp đến nỗi ít người dám nghĩ đó là tóc của chính cô. Nếu như thói ghen ghét tìm nổi một điểm nào đó trên mặt cô không đáng ca tụng bằng những điểm khác, thì nó có thể cho rằng giá như vầng trán cô cao hơn một chút thì cũng không hại gì. Cặp lông mày cô đậm nét, đều đặn, uốn cong một cách tài tình, nghệ thuật không tài nào bắt chước được. Đôi mắt cô đen láy, long lanh sáng, mặc dù cặp mắt nhìn hết sức dịu dàng. Mũi cô có đường nét thật là đều đặn, còn cái miệng, với hai hàm răng ngà, hoàn toàn đúng như lời tôn ông Jôn Xơckling miêu tả trong mấy câu thơ sau:


            Cặp môi đỏ, vành trên mỏng


            So với vành bên dưới gần cằm


            Đôi môi một con ong nào vừa đốt.


Cặp má cô bầu bĩnh, má bên phải điểm một lúm đồng tiền, chỉ hơi chúm chím cười đã lộ rõ. Cái cằm nhất định là có dự phần làm cho khuôn mặt cô thêm đẹp; song khó lòng nói rõ được cằm cô to hay nhỏ, có lẽ nó thuộc loại trên. Nước da cô gần màu hoa ngọc lan hơn là màu hoa hồng, nhưng khi cô vận động, hoặc lúc e lệ, sắc da màu tự nhiên ấy ửng đỏ lên, thì không một màu đỏ thắm nào sánh kịp. Quả thật, người ta có thể cùng kêu lên với Đônơ tiên sinh nổi danh rằng:


            ... dòng máu nàng tinh khiết và giàu hùng biện


            Đang nói trên cặp má nàng, nói rành rọt:


            Hầu như cơ thể nàng cũng biết nghĩ suy.


Cổ cao mà dáng thanh thanh; và ở đây, nếu không sợ xúc phạm đến tính tế nhị của cô, tôi có thể nói rất đúng rằng những nét đẹp đẽ nhất của bức tượng thần Vệ nữ Mêđixix cũng còn thua. Nước da nơi cổ trắng hơn cả màu hoa ngọc lan, trắng hơn ngà, hơn cả đá cẩm thạch. Kẻ hay ghen ghét đoán ngực cô phủ một lượt lụa nõn, nhưng ngực cô còn trắng hơn màu lụa nõn nhiều... Thật đúng là:


            Nitor splendens pario mamore purius


            "Một vẻ óng ánh vượt xa vẻ sáng


            trong trẻo nhất của đá cẩm thạch đảo Parôx".


Đó là hình dung bên ngoài của Xôfia; cái nội dung chứa đựng bên trong cũng rất xứng đáng với cái khuôn người đẹp đẽ ấy; tâm hồn côn tương đương về mọi mặt với con người cô; mà chính hình thể lại vay mượn được ít nhiều vẻ khá ái từ tâm hồn; mỗi khi cô cười, tính tình dịu dàng làm tỏa ra khắp vẻ mặt cô một vẻ đẹp rỡ ràng mà không một sự cân đối nào về đường nét tạo nên được. Nhưng trong sự tiếp xúc hết sức thân mật với cô thiếu nữ khả ái này mà chúng tôi chủ tâm giới thiệu với bạn đọc, không một sự hoàn thiện nào của tâm hồn cô sẽ không tự bộc lộ ra, cho nên không cần thiết phải nói tất cả ra đây; vả chăng, đó mặc nhiên là một thái độ xúc phạm tới khiếu nhận thức của độc giả, nó lại còn có thể khiến các bạn mất cả cái vui thú mà các bạn sẽ được hưởng khi tự mình xét đoán về tính tình cô thiếu nữ.


Tuy nhiên, cũng có thể nói rằng, dù cô có những năng khiếu bẩm sinh về tinh thần như thế nào, thì những năng khiếu ấy cũng ít nhiều được trau dồi bởi nghệ thuật, vì Xôfia đã được một bà cô chăm sóc giáo dục, một bà mệnh phụ tính tình rất mực khôn ngoan, từng trải việc đời, hồi còn trẻ bà đã từng ra vào nơi cung đình, ít năm nay mới lui về sống ở thôn quê. Nhờ trò chuyện với bà, và được bà chỉ bảo, Xôfia thành con người hoàn toàn lịch thiệp, tuy rằng có lẽ cô còn hơi thiếu cái thanh thản, khoan thai trong cử chỉ của bà; điều này chỉ có được do thói quen và do được tiếp xúc nhiều với cái gọi là giới thượng lưu. Song, thật ra, cái này nhiều khi cũng bắt phải mua với một giá quá đắt; nó có cái vẻ khả ái khó tả thật đấy, tức là cái mà người Pháp có lẽ khi họ muốn nói đến đức tính ấy bên cạnh nhiều đức tính khác, họ thường bảo họ không biết đó là cái gì; tuy nhiên, thiếu đức tính ấy đã có sự ngây thơ bù đắp lại được rất nhiều; mà một người có lương tri và bẩm sinh tính hòa nhã cũng chẳng phải bao giờ cũng cần đến cái ấy.


 


 


CHƯƠNG III


 


Câu chuyện lùi lại để nhớ tới một sự kiện không đáng kể xảy ra đã vài năm; tuy không đáng kể thật, song cũng dẫn tới một số hậu quả sau này.


 


Lúc cô Xôfia đáng yêu được đưa vào cuốn truyện này thì cô đã mười tám tuổi. Như đã nói ở trên, cha cô yêu quý cô nhất trần đời. Do đó, Tôm Jôn bèn nhờ cô lưu ý che chở cho bạn nó là bác coi rừng.


Song, trước khi chúng ta nói đến chuyện ấy, có lẽ cũng cần phải ôn lại một số việc đã xảy ra từ trước.


Tính tình ông Oluơtdi và ông Wêtxtơn tuy khác nhau, do đó sự giao du giữa hai ông không được thân thiết lắm, nhưng hai bên vẫn đi lại với nhau một cách gọi là lịch sự, thành thử con trẻ hai gia đình cũng quen nhau từ nhỏ; và vì cũng xấp xỉ một lứa tuổi, nên chúng thường khi cũng là bạn chơi của nhau.


Xôfia hợp với Tôm, con người vui tính, hơn là với cậu Blifin, tính tình nghiêm trang, dè dặt. Nhiều khi ý ưa thích này biểu lộ một cách quá rõ ràng, đến nỗi, nếu Blifin là một thanh niên sôi nổi hơn, ắt phải tỏ ra ít nhiều khó chịu.


Tuy nhiên, vì cậu không hề để lộ thái độ bực tức ra ngoài, cho nên chúng cũng không làm một việc xấu chơi đi sâu vào những ngóc ngách sâu kín nhất của tâm hồn cậu, như một số kẻ hay gièm pha người khác vẫn hay đi sâu vào những việc bí mật riêng của bè bạn, thường ngó vào những hòm xiểng, ngăn kéo của họ, chỉ cốt đem phô bày sự nghèo nàn, ti tiện của họ ra cho thiên hạ biết.


Thế mà, những kẻ ngờ rằng mình đã xúc phạm người khác lại sẵn sàng kết luận rằng chính mình bị xúc phạm cho nên khi Xôfia gán cho một hành động của cậu Blifin là do cậu tức giận, thì Thoăckơm và Xque sáng suốt hơn, lại cho là do những nguyên tắc khác tốt đẹp hơn nhiều.


Hồi còn bé, Tôm Jôn có tặng Xôfia một con chim con; con chim này nó đã bắt từ trong tổ đem về chăm sóc và dạy hót.


Xôfia lúc ấy khoảng mười ba tuổi, cô quý con chim lắm, suốt ngày chỉ lo mỗi một việc là chăm sóc con chim, cho nó ăn và cũng chỉ thích chơi với nó. Cứ thế, chú Tommy - con chim được đặt tên như vậy - thành ra dạn người, nó thường mổ ăn ngay trong lòng bàn tay cô chủ, và đậu trên ngón tay cô hoặc nằm thoải mái trong lòng cô; lúc ấy hầu như nó cũng cảm thấy hạnh phúc; tuy vậy, cô é vẫn luôn luôn buộc một sợi dây nhỏ vào chân nó, cô không dám để cho nó được tự do bay đi.


Một hôm, nhận lời mời, cả gia đình ông Oluơtdi sang ăn bên nhà ong Wêtxtơn, cậu Blifin đang đứng chơi ngoài vườn với cô bé Xôfia thấy cô bé tỏ vẻ hết sức nâng nịu con chim nhỏ, cậu bèn nói với Xôfia đưa nó cho mình cầm chơi một lúc, Xôfia ưng ngay, và sau khi đã thận trọng buộc kỹ chân con chim, cô đưa nó cho bạn. Vừa cầm lấy, Blifin giật đứt ngay sợi dây buộc chân con chim và tung nó lên trời.


Con vật ngu xuẩn vừa thấy được tự do đã quên phắt mọi ân huệ vẫn được Xôfia ban cho, nó bay thẳng đến đậu vắt vẻo trên một cành cây cách đấy một quãng.


Thấy chim bay mất, Xôfia khóc ầm lên, Tôm Jôn đang đứng gần đấy, lập tức chạy lại.


Nghe biết câu chuyện, Tôm mắng ngay Blifin là thằng khốn kiếp xấu bụng, đáng khinh và lập tức cởi ngay áo ngoài, trèo lên cây con chim đang đậu.


Tôm sắp sửa tóm được con chim cùng mang tên nó thì cành cây nó bám để bứng bị gãy; bên dưới là một cái lạch, thế là thằng bé đáng thương lộn cổ xuống nước.


Bây giờ, Xôfia chuyển ngay lo lắng sang cho Tôm. Cô bé sợ Tôm chết đuối, nên kêu to hơn trước gấp bội, và cả cậu Blifin lúc này cũng ra sức gào lên giúp.


Mọi người đang ngồi trong gian phòng giáp khu vườn nghe tiếng kêu chạy xổ cả ra, nhưng mọi người vừa chạy tới cái lạch thì Tôm cũng vừa ngoi được lên bờ (may sao, chỗ ấy nước cũng cạn).


Thoăckơm hùng hổ sán đến định đánh Tômm lúc này đang ướt lướt thướt, đứng run rẩy trước mặt lão. Ông Oluơtdi bèn ngăn lại bảo lão hãy bình tĩnh, khoan đã, và quay sang cậu Blifin, ông nói:


- Cháu hãy cho biết có chuyện gì mà ồn ào vậy?


Cậu Blifin đáp:


- Thưa bác, quả thật cháu rất hối hận về việc không may cháu đã làm, chính cháu đã gây ra tất cả chuyện này. Cháu cầm con chim của Xôfia trong tay, cháu nghĩ rằng con vật đáng thương này hẳn đau khổ vì mất tự do, nên thú thật, cháu không thể không thỏa mãn điều nó ước ao, cháu thường nghĩ, giam giữ bất cứ vật gì cũng là độc ác. Đối với cháu, hình như thế là trái với luật lệ của tạo hóa, vì theo luật lệ ấy, mọi vật đều có quyền được tự do. Mà như vậy còn trái với đạo Cơ Đốc, vì không nên làm điều gì mà chính ta không muốn. Nhưng, nếu cháu biết trước cô Xôfia quý nó đến thế, nhất định chẳng bao giờ cháu làm như vậy, nhất là cháu lại biết trước điều gì sẽ xảy đến cho chính con chim, vì lúc anh Tôm leo lên cây bắt nó, bị ngã xuống nước, thì con chim bay chuyền đi chặng nữa, thì bị ngay một con diều hâu độc ác chộp lấy quắp đi.


Lúc nãy vì mải quan tâm đến Jôn nên cô Xôfia đáng thương không để ý đến con chim, bây giờ nghe nói đến số phận đau đớn của chú bé Tommy của cô, cô bèn khóc òa lên. Ông Oluơtdi cố dỗ dành, hứa sẽ cho cô một con chim đẹp hơn; nhưng cô bé nói cô sẽ không bao giờ còn nuôi một con chim khác. Cha cô mắng cô vì một con chim dớ dẩn như thế mà cũng khóc, nhưng ông cũng bảo cậu Blifin rằng nếu cậu là con trai ông thì đã không tránh khỏi bị ông cho một trận đòn.


Xôfia về phòng riêng, Tôm và Blifin được đưa về nhà, còn mấy người lớn quay về với chai rượu; câu chuyện tiếp tục xoay quanh con chim, cũng khá kỳ lạ, chúng tôi nghĩ rằng cũng đáng dành cho nó riêng một chương sau.


(còn tiếp)


Nguồn: TOM JONES Đứa trẻ vô thừa nhận. Tiểu thuyết của HENRY FIELDING, 2 tập, 1000 trang. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING của HENRY FIELDING. Nhà xuất bản MAC DONALD, Luân Đôn, 1935. Tái bản theo bản in năm 1983 của NXB Văn học.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »