tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18994518
08.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (7)

4. BÌNH ĐỊNH TÂY THANH HÓA


Năm 1836, Minh Mệnh năm thứ 17, người thổ (người dân tộc thiểu số) tụ tập ở các sách vùng núi Ngọc Lặc, Cao Trĩ, tỉnh Thanh Hóa nổi lên ở châu Quan Hóa. Trước đó, Lê Duy Hiển là con của Lê Duy Trạch, sau khi Lê Duy Lương bị tiêu diệt, thì trốn lánh ở miền núi Ninh Bình, là vùng đất của các quan lang Mường, các quan lang Quách Tất Công, Quách Tất Tại nuôi con cháu nhà Lê là Lê Duy Hiển, suy tôn lên làm minh chủ cùng người Bắc Ninh là Hoàng Đồng Nguyệt đưa Hiển vào Sơn Âm, xưng là Đại Lê hoàng thân Hiển công. Hoàng Đồng Nguyệt làm Quốc sư, chiêu tập các đồ đảng, đúc ấn tín, đặt Quách Tất Công làm Tiền quân Thống tướng, Quách Tất Tại làm Hậu quân Thống tướng, Quách Phúc Thành làm Tả quân Thống tướng, Đinh Kim Bảng làm Binh bộ Thượng thư. Chúng sai Đặng Kim Bảng phát hịch và văn thư xúi giục bọn Phạm Công Nho, Hà Công Kim, Phạm Bá Nho, mật dụ các thổ ty, thổ mục ở Quan Hóa, Cẩm Thủy, Lương Chánh thuộc tỉnh Thanh Hóa ấn định ngày khởi binh. Nhưng khi nghe tin quan quân đi đến kinh lý, họ sợ, bèn sai đồ đảng dẫn khoảng 500 người đánh trống, bắn súng kéo thẳng tới động Hồi Xuân (châu lỵ châu Quan Hóa) giết Tri châu là Tô Danh Cận cùng 4 thuộc hạ ném xác xuống sông. Lính lệ đều là dân tại chỗ, tản đi gần hết.


Thự Tổng đốc Hoàng Văn Ẩn được tin báo, phái ủy Lãnh binh Nguyễn Văn Kỳ đem theo Quản vệ Nguyễn Cửu Ngọ, Phạm Văn Huy và hơn 400 biền binh đi gấp, đốc suất bộ biền phải đi trước là bọn Lê Văn Chấn và Đỗ Văn Tình, tùy cơ đánh dẹp. Lại sai Tri phủ Quảng Hóa là Đỗ Khắc Mẫn đi theo giúp việc quân. Nguyễn Văn Kỳ tiến quân đến động Hồi Xuân, châu Quan Hóa, chia phái biền binh lùng nã giặc thổ, bắt được 6 tên. Bọn yếu phạm thì tản ra, như Phạm Công Nho và Phạm Bá Nho trốn ở Ái Chữ, Hà Công Kim và Đinh Kim Bảng chạy về Lương Chánh, Cẩm Thủy, Quách Phúc Thành về Sơn Âm.


Sau đó, Hà Công Kim, Đinh Kim Bảng, cùng với Phạm Thúc Liêm lại tụ tập hơn 1.000 người từ châu Lương Chánh tràn xuống địa hạt hai huyện Thụy Nguyên, Lôi Dương. Đinh Kim Bảng làm tờ hịch xưng niên hiệu là Vĩnh Tại, khiến nhiều người ùa theo. Sai đồ đảng là Lê Phi Ất, Lê Phi Bài đến bắt Tri châu Lương Chánh là Hồ Tố Thiện giết đi.


Đây là cuộc khởi loạn quan trọng của Lê Duy Hiển, con cháu nhà Lê, chống lại nhà Nguyễn. Sự khởi loạn này, căn cứ vào miền núi Thanh Hóa, Ninh Bình và dựa vào dân Mường – Thái. Vì lẽ đó, có thể nói đây là cuộc mổi loạn của dân Mường – Thái chống triều đình, đem Lê Duy Hiển ra làm danh nghĩa phù Lê.


Vua Minh Mệnh bèn sai Tạ Quang Cự làm Kinh lược sứ đạo Ninh Bình, có Hà Duy Phiên làm tham tán. Việc đánh giặc khó khăn lắm.


Bố chánh Nguyễn Nhược Sơn phái Vệ úy vệ Nghĩa võ là Tô Văn Trực, Phó Lãnh binh thủy sư là Đặng Công Thập, dẫn 600 biền binh, 5 thớt voi trận, chia đi đánh dẹp. Lại mộ 1.000 hương dõng ở ba huyện Đông Sơn, Hoằng Hóa và Quảng Xương, dự bị tổ chức thành đội, giao Chánh tổng, lý trưởng cai quản để đợi cho gọi là đi. Lại phi tư cho Kinh lược, Tham tán đạo Ninh Bình, đều động ngay quân cứng mạnh, đi gấp tới quân thứ của thự Tổng đốc Hoàng Văn Ẩn để cùng tiễu phỉ.


Vua Minh Mệnh cho rằng đạo binh Ninh Bình đã lâu chưa thành công, bèn sai thị vệ đem tờ Dụ tuyên bảo cho Kinh lược Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên rằng:


“Bọn giặc trốn là Quách Tất Công chỉ lẩn lút ở trong một giải Sơn Âm, thế mà không làm gì nó được, trong khi bốn mặt đã có các tỉnh phân phái ngăn chặn, sức quân tập hợp hùng hậu, tưởng nước đổ cũng khó chảy lọt. Nếu nhân khí sắc bén, thẳng tiến, lật đổ sào huyệt, lo gì không xong việc. Thế mà bấm đốt ngón tay, đã hơn một tháng, những tin tâu báo chỉ là điều binh, vận lương mà thôi, không hề thấy nói bắt hoặc chém được một tên giặc nào. Huống chi chuyến đi này chỉ là lùng bắt kẻ phạm trốn, không thể ví với chuyện đánh dẹp, vậy mà dùng quan, tốn lương đến bấy nhiêu lâu! Lỡ gặp đám giặc to thì làm thế nào! Chẳng biết tính toán những việc gì, mà chậm trễ loanh quanh đến thế! Lũ ngươi là đại thần trong nước, được ủy cho một việc bắt kẻ phạm trốn mà không làm được sớm thành công, nếu đợi phái viên khác thay thì lũ các ngươi còn mặt mũi nào nhìn ta nữa! ”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 1055-1056


Đạo binh của Lãnh binh Thanh Hóa Nguyễn Văn Kỳ đến đóng ở Ái Chữ, bị bọn Phạm Công Nho, Phạm Bá Nho bao vây. Hai bên giao chiến, quan quân bị chết và bị thương nhiều, Văn Kỳ cho người tức tốc báo cho thự Tổng đốc Hoàng Văn Ẩn xin quân tiếp viện. Ẩn tiến quân đến Thiết Úng, gặp giặc chém được một thủ cấp, nhưng quan quân cũng bị thiệt hại, nên Ẩn lui quân về La Khán. Giặc lại chia đặt đồn trại, ngăn chặn con đường cứu viện cho Quan Hóa. Vậy là thế giặc mạnh lắm.


Vua lệnh cho thự Đề đốc Hà Nam – Ninh Bình là Tôn Thất Bật đem một vệ lính Nam, đến hội quân với Hoàng Văn Ẩn đánh dẹp. Lại điều lính thú thuộc Trung vệ, dinh Long võ Nghệ An đến Thanh Hóa chờ điều động, hai vệ Quảng Bình, Quảng Trị chia đi đóng giữ Nghệ An Hà Tĩnh.


Kinh lược sứ Ninh Bình là Tạ Quang Cự và Tham tán Hà Duy Phiên tâu nói:


“Anh em tên phạm trốn là Quách Tất Công, Quách Tất Tại đời đời làm ác, bấy lâu chỉ chuyên dùng con cháu nhà Lê làm mồi xúi dục dỗ dành dân Mán, mà trong bè đảng chúng cha con Đinh Thế Đội, Đinh Thế Đức là kiệt hiệt nhất, thứ đến là bọn Quách Phúc Thành, Quách Công Thản. Theo tin thám tử báo thì nhiều lần Quách Tất Công cùng với em họ nó là Quách Tất Tế, Quách Tất Nham lẻn trốn ở sơn phận các xã Sơn Âm, Hưng Thi, nhưng dời đổi ẩn nấp bất thường, rừng núi mênh mông phải có đến vài ngàn quân mới rải khắp được. Chúng thần vừa tiếp được tin phi báo rằng Lãnh binh đạo Quan Hóa là Nguyễn Văn Kỳ bị giặc ngăn trở và thụ đề đốc Hoàng Văn Ẩn không tiến quân, mà đóng tại La Khán. Bọn thần đã cử Quản vệ Nguyễn Tiến Tá đem 1.000 biền binh đi cứu viện, còn tự đem quân và voi đóng tại Quỳnh Côi, nơi giáp Hoành Giang, để làm thanh thế tiếp ứng cho đạo quân Thanh Hóa vừa tùy cơ đánh bắt kẻ phạm...”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 1060-1061


Vua Minh Mệnh bèn lệnh cho Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức tức tốc phái một vệ binh Nam đắc lực cho theo làm việc quân. Lại phi tư cho tỉnh Hưng Hóa khẩn cấp đốc thúc quan quân đang phòng chặn ở hai châu Mai Châu, Mộc Châu lên đường thẳng tới quân thứ Nguyễn Văn Kỳ để cứu viện.


Như vậy là cuộc khởi loạn của Lê Duy Hiển ở tây Thanh Hóa đã phát triển rất mạnh, triều đình đã phải điều động quân dân 8 tỉnh Thanh Hóa, Hưng Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và điều động những danh tướng Tạ Quang Cự, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức, Hà Duy Phiên mà tình hình ngày càng rối thêm.


Ngày 22 tháng chạp năm 1836, vua Minh Mệnh phải xuất tướng ruột, điều động Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Binh bộ thượng thư sung Cơ mật viện Trương Đăng Quế làm Thanh Hóa Kinh lược sứ, Hữu thị lang bộ Hình Doãn Uẩn và Bố chánh Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai làm Kinh lược phó sứ.


Việc này, Trương Quảng Khê thi tập có bài:


ĐI KINH LƯỢC XỨ THANH


Trong Nam vừa về đến


Lệnh đi ngay xứ Thanh.


Sá gì chuyện sắp Tết,


Trời yên như thuận tình


Liên đêm thay ngựa trạm


Hoa bên đường tiếp nghinh


Thánh triều uy đức khắp


Không lâu sẽ yên bình.


Và bài


TRÊN ĐƯỜNG NGÀY TẾT.


Việc quân, đi ngày Tết


Hấp tấp như dịch phu


Mừng xuân cùng tỉnh Nghệ


Nắng sớm, thiên lý cù


Đầu năm, ngàn thứ mới


Xứ lạ, khác giọng sao!


Châu Ái, chiều nay đến


Suốt đường gió lao xao.


Trước đây, vua Minh Mệnh ngự ở điện văn minh, vời Trương Đăng Quế đến nói:


“Nay ta muốn phái một viên đại thần đi kinh lý sự việc thổ dân ở Thanh Hóa. Nghĩ đến khanh vừa mới Kinh lược Nam Kỳ về, không nỡ cho đi khó học lần nữa”.


Khi Quế lui về, vua lại sai trung sứ đến bảo rằng năm gần hết rồi, đợi sau Tết hãy đi cũng được. Quế khảng khái nói:


“Binh cơ cần phải khẩn cấp, phải đi ngay mới được”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 1073


Lại cho rằng Nguyễn Đăng Giai vì năm trước đã nhậm chức ở Thanh Hóa, nên cho đi cùng với Doãn Uẩn làm phó sứ. Rồi cho Nguyễn Đăng Giai về Thanh Hóa trước, còn Trương Đăng Quế và Doãn Uẩn nhằm giờ tốt, đem phù tiết và cầm cờ bài “vương mệnh” dẫn đầu quan quân, lên ngựa tiến phát. Ngày 24, tháng chạp bọn Quế vào từ biệt trước bệ để ra đi. Vua ban cho ấn quan phòng Kinh lược sứ và Dụ rằng:


“Thổ ty Thanh Hóa bấy nay vốn vô sự, nên dân thổ sở tại cũng yên ổn, chăm lo làm ruộng sinh sống. Mới đây, xảy ra lũ xuẩn động gây nên sự biến làm phiền quan quân phải đi đánh dẹp. Nhưng nghĩ cho cùng, suốt trong bờ cõi ai ai cũng là con đỏ của trẫm cả, há có mất hết lương tâm cả đâu! Chỉ bởi có vài kẻ mờ tối ngang ngạnh, ngày thường quen dùng thế lực hiếp đáp tiểu dân, gây chuyện náo loạn nhất thời. Nưng dân không biết gì, phần nhiều bị chúng xua lùa bức bách phải theo đó thôi. Sau khi dẹp xong phải trù tính đến công việc bền vững lâu dài... Lại nữa người Thổ bấy lâu, dưới chính sách ràng buộc lỏng lẻo, quen thói hủ lậu, nhân dịp này nên chấn chỉnh làm cho thói man di thành tính người Kinh. Vậy việc liệu chia thôn xã, chọn đặt đồn bảo và hết thảy những việc nên làm đều cho tùy nghi. Bọn ngươi khi đến tỉnh, từ thự tổng đốc Hoàng Văn Ẩn đến thự đề đốc Tôn Thất Bật trở xuống, đều cho đặt dưới sự điều khiển để công việc và quyền hành được chuyên nhất”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 1073, 1074


Kinh lược sứ Thanh Hóa là Trương Đăng Quế, phó sứ là Doãn Uẩn, Nguyễn Đăng Giai khi mới đến tỉnh liền cho thị vệ đến các đạo quân Tôn Thất Bật, Nguyễn Văn Kỳ hỏi dò tình hình, bảo phải nhân thế mạnh mà tiến công nhanh. Lại cho rằng số quân ở tỉnh không có mấy, làm sớ tâu xin tạm lưu một vài ngày, đợi quân vệ Kiều Võ ở Kinh phái đều đến nơi đủ cả thì mới đêm đến quân thứ, chờ cơ điều khiển. Và xin cho điều vệ Kỳ Võ trước đã phái đến Nghệ An, không làm gì nay tăng cho sức quân thêm mạnh.


Kinh lược sứ Thanh Hóa là Trương Đăng Quế, phó sứ là Doãn Uẩn tâu về:


“Lãnh binh Nguyễn Văn Kỳ đạo Cẩm Thủy cùng quản vệ Nguyễn Tiến Vạn từ Kim Lô dẫn quân đến La Khán đánh phá trại giặc, chém được bảy tên. Vừa nghe tin Kinh lược đại thần đạo Ninh Bình tư báo rằng đã theo hẹn tiến đến Cổ Lũng để hợp sức đánh giặc, tin báo đến, đã lập tức tính ủy phó sứ Nguyễn Đăng Giai đem hai trăm quân vệ Kỳ Võ đến ngay La Khánh sách ứng. Lại nhân tiện chiêu phủ thổ mục, thổ dân để đợi xếp đặt. Lại nghe tin thự Đề đốc đạo Lương Chánh là Tôn Thất Bật, vì đàng trước bọn giặc giữ chỗ hiểm cùng bắn ra, quân chưa tiến lên được, cũng đã sức ngay cho đạo quân Phó Lãnh binh Đặng Công Thập ở sách Nông Vụ (thuộc huyện Lôi Dương, tiếp giáp Lương Sơn), đạo quân Quản vệ Ngô Tài Đắc ở đông Lâm Tự (thuộc châu Lương Chánh) đều tiếp địa giới ngăn chặn rất nghiêm. Lại định ngày đến quân thứ Lương Chánh cùng đánh thẳng sào huyệt giặc, tùy nghi kinh lý.”


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 13


Trong khi, Lãnh binh đạo Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa là Nguyễn Văn Kỳ tiến quân đến Cổ Lũng đánh tan được năm đồn giặc, đã đánh thẳng Trình Hoàng, đốt phá sào huyệt giặc Hà Công Kim, nhân quân tỉnh Ninh Bình chưa đến, bèn kéo quân về đóng ở sách Vũ Lao. Trương Đăng Quế được tin báo, một mặt tư cho Kinh lược Ninh Bình biết để khẩn đốc biền binh đến cùng với Nguyễn Văn Kỳ hợp sức đánh dẹp cho xong ngả ấy, một mặt tư cho Phó sứ Nguyễn Đăng Giai nhân tiện trích lấy đạo quân của Lãnh binh Vũ Văn Thuyên ở La Khán (Tôn Thất Bật nghe tin Ninh Bình hội đánh Cổ Lũng, liền phái Vũ Vân Thuyên đem tám trăm quân từ La Khán tiến đi) chia đường đánh phá các trại Thiết Úng, Nhân Kỷ, đánh thẳng vào phía châu Lương Chánh, để cho đạo quân của Tôn Thất Bật dễ làm việc. Trương Đăng Quế lại được tin đường vận lương ở châu Lương Chánh, thuyền ở xa bến xã An Lạc (cách quân thứ một ngày đường), rừng cây rậm rạp mà quan đi bộ giải có ít, liền tính ủy Phó sứ Doãn Uẩn đi trước, còn mình đi sau đêm quân tiếp đến, bỗng gặp Tôn Thất Bật cho báo rằng mặt trước quân thứ, phàm các đường trọng yếu có thể đi đến Lương Chánh, giặc đều đặt đồn kháng cự, chưa dễ đánh tan được ngay. Dò xét được một đường từ Thúy Sơn chuyển đến sách Cự Lạc có thể đánh đàng sau lưng giặc, xin cho thêm quân ngay. Trương Đăng Quế bèn lưu đóng quân ở An Lạc để làm thanh thế cứu viện, sai Quản vệ Nguyễn Văn Tiến đem ba trăm quân theo Doãn Uẩn đến hội cùng với Tôn Thất Bật tiến đánh giặc.


Kinh lược Phó sứ đạo quân Thanh Hóa Nguyễn Đăng Giai đóng quân ở La Khán thấy đạo quân Lãnh binh Ninh Bình Trần Hữu Lễ một ngàn năm trăm người từ Cổ Lũng đến, sai trở lại tìm bắt dư đảng giặc. Nguyễn Đăng Giai bèn chia theo hai bờ sông tiến đánh Thiết Úng, giặc dựa vào rừng bắn ra, quân ta vẫn hăng hái tranh nhau đi trước, liền lấy được đồ giặc, bắn chết vài tên, giặc liền chạy trốn. Duy đạo quân tiếp ứng của Lãnh binh Vũ Văn Thuyên ở mặt sau vẫn chưa đến, Giai bèn tạm đóng quân ở đấy. Vừa gặp Kinh lược Ninh Bình tự rút đạo quân Trần Hữu Lễ ở Phủ Liễn về. Trương Đăng Quế nghe tin ấy, nhận định:


 “Nay bọn giặc ở Lương Chánh, giữ chỗ hiểm chống lại, là sợ sức mạnh của đạo quân Đề đốc Tôn Thất Bật, cho nên hết sức cố giữ, tuy có tìm được đường khác, cũng chưa tiện tiến ngay, phải từ Thiết Úng, Nhân Kỳ đánh xuống cho chúng chia ra, sức sẽ yếu, mới dễ tiến lấy. Quân ta nếu đánh Nhân Kỳ thì Cổ Lũng lại ở đường sau, trại giặc ấy tuy đã bị phá tan, nhưng chưa bắt hết lũ giặc, còn nếu vội rút đạo quân Hữu Lễ, không khỏi bọn giặc lại tụ tập quấy rối. Nên để Trần Hữu Lễ ở lại Cổ Lũng làm thanh thế hậu lộ cho Nguyễn Đăng Giai, để được chuyên việc giáp đánh Lương Chánh, hầu được vẹn toàn”.


Đại Nam thực lục, tập V, tr. 17


Đạo quân của Nguyễn Đăng Giai liền từ Thiết Úng thẳng tiến Nhan Kỳ, thì giặc chạy trốn trước rồi, đạo quân Tôn Thất Bật bèn cùng Phó sứ Doãn Uẩn từ Ngọc Khuê xuyên núi đánh vào trường lũy của giặc (giặc theo núi đóng trại dài hơn một dặm, chỗ mà năm xưa Hà Công Thái đánh nhau với quân Tây Sơn, người ta gọi là Lũy Kêu), lấy súng du sơn bắn, giặc chết nhiều phải tan vỡ. Quan quân bèn tiến vào động Khương Chánh đốt phá sào huyện của tướng giặc Lê Phi Thái.


Trương Đăng Quế ở quân thứ Lương Chánh, hỏi dò biết lũ giặc sau khi bị thua, bọn giặc ở Tam Lô (thượng du của châu Lương Chánh tiếp giáp các huyện hạt Man Duy, Trình Cố), bọn giặc ở Tứ Động (thượng du châu Quan Hóa tiếp giáp Hưng Hóa) đều chạy về sào huyệt, bọn giặc ở Lương Chánh thì chạy trốn ở Lâm Lũng. Quế tính ủy thác cho Phó sứ Nguyễn Đăng Giai đến Tứ Động, Thự Đề đốc Tôn Thất Bật đến Tam Lô đuổi theo. Kinh lược sứ Trương Đăng Quế cùng Phó sứ Doãn Uẩn ra yết thị chiêu an, và phân phái đi tìm bắt bọn giặc còn lẩn trốn. Quế tâu lên:


“Động Khương Chánh là chỗ đường sá bốn bề thông suốt, rất là xung yếu, nên đặt một đồn lớn để trấn áp và làm lỵ sở của châu này ngày sau, huy động ba trăm dân huyện Lôi Dương tại chỗ cùng quan quân sửa đáp, gọi là đồn Ninh Lương, phái quân đóng giữ”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 23


Trương Đăng Quế còn nhận định rằng:


“Quan quân tuy đã phá tan sào huyệt của giặc, nhưng các sách ở thượng du chưa phá hết, đầu sỏ giặc cũng chưa bị kết án trị tội. Việc chạy khắp rừng bắt loài thú, thế cũng thực khó, ngày đêm tính nghĩ thực rất sốt ruột. Cứ theo Nguyễn Đăng Giai, Tôn Thất Bật cho biết rằng hiện nay đuổi bắt bọn giặc, tất phải đụng vào dân thổ, dùng người man trị người man mới mong có kiến hiệu. Vả lại, năm ngoái thổ phỉ Thanh Hóa nổi loạn, hai châu Quan Hóa, Lương Chánh đều theo giặc, duy sách Kim Lô huyện Cẩm Thủy, các thân thuộc với Hà Công Đức như Hà Công Hồ tình nguyện theo quân đi đánh giặc để chuộc tội của bọn chúng, mỗi khi đi đánh dẹp đều xin đi đầu, có người bắn giết được bọn giặc, cũng có người bị chết tại trận tiền. Vừa rồi trận đánh ở Thiết Úng, cháu Hà Công Đức là Hà Công Kỳ, mình bị trọng thương mà cũng cố gắng theo quân đi đánh giặc, trước sau vì triều đình ra sức, không có chí khác chút nào, nên cho bọn Hà Công Đức đi theo quân thứ, để cho đám thân thuộc cũng cố sức tìm bắt bọn giặc, nếu có sơ suất hỏng việc, thì tự chịu lấy lỗi”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 23-24


Về việc này, Trương Quảng Khê tiên sinh tập của Trương Đăng Quế có nhiều bài thơ:


LẦN ĐẦU ĐẾN CHÂU LƯƠNG CHÁNH


Cứ ngỡ Bồng Lai đảo


Mà đây động sách dân


Chót vót núi dựng đứng


Đường đi thiếu vết chân.


Cây to dư chỗ nghỉ


Ruộng phì đủ dưỡng thân


Tương lai mạnh tích tập


Vùng biên sẽ theo dần.


Thơ Trương Đăng Quế, tr.387


 


Ở LẠI ĂN TẾT Ở ĐỘNG KHƯƠNG CHÁNH, GỞI THƯ CHO PHÓ SỨ TOẢN PHU NGUYỄN ĐĂNG GIAI


Chiến địa sang năm mới


Bụi vàng nhuộm hết râu


Cùng nhau lên xứ Thượng


Trưởng, phó gặp được đâu.


Đầy trời núi lền núi


Khắp đất vầu lại vầu


Vỗ về dân là chính


Kế sách soạn đã lâu.


Thơ Trương Đăng Quế, tr.381


ĐI QUÂN THỨ ĐỘNG KHƯƠNG CHÁNH


Suốt đường, rừng heo hút


Bát ngát bầu không gian


Ba bề vây suối nước


Chập chùng núi giăng ngang


Cây tiếp trời xanh biếc


Mây điểm như thạch bàn


Đồn Ninh Lương mới lập


Là bia ghi khải hoàn.


Thơ Trương Đăng Quế, tr.383


Quan đi bắt giặc ở Nông Cống tỉnh Thanh Hóa là Ngô Tài Đắc đóng quân ở Lâm Lự, có tên Lê Công Vụ làm gián điệp cho giặc, giả báo là có ba chục tên giặc họp ở thôn Hung, mưu toan đánh úp. Đắc bị mắc lừa, ủy suất đội Nguyễn Văn Cáo đem tám chục binh dõng đi bắt, cho Vụ làm hướng đạo. Khi đến nơi, Vụ trốn đi, bọn giặc hai trăm tên xông lại vây, quan quân vỡ thua. Bấy giờ Đắc mới cấp báo, Trương Đăng Quế liền phái Quản vệ Nguyễn Tiến Vạn đem quân đến cứu. Vạn bèn dẫn quân thẳng đến Bát Văn, hai lần đụng trận, bị giặc phục quân bắn súng, biền binh có người bị thương và chết, lại dẫn quân về thôn Hung. Quế bèn ủy Doãn Uẩn đem một vệ quân Kỳ võ đi ngay đến đốc thúc tiến đánh.


Đạo quân của Kinh lược phó sứ Thanh Hóa Nguyễn Đăng Giai tiến đến châu Quan Hóa, rồi thẳng đến Phù Lệ, đi đến đâu, giặc đều trốn xa, cùng Quản vệ đạo Hưng Hóa là Nguyễn Văn Quỳnh hội quân, rồi chia nhau đi chiêu dụ, tùy tiện kinh lý. Đạo quân của thự Đề đốc Tôn Thất Bật tiến đến Tam Lô, giặc đã bỏ sào huyệt trốn đi, Bật sai đốt hết cả, rồi kéo về đông đến quân thứ Lương Chánh. Phó sứ đạo Nông Cống là Doãn Uẩn thân đốc quan quân từ Bát Vân đến đánh sào huyệt giặc ở Thọ Thắng là chỗ ở của đầu mục giặc Lê Duy Hiển. Giặc giữ chỗ hiểm chống cự, quân ta hăng hái cố đánh, liền phá được trại của giặc, giặc bị súng bắn bị thương nhiều, tan vỡ chạy trốn.


Trương Đăng Quế mật tâu:


“Hiện nay việc bắt giặc thật là khó, vì chúng tự biết phản nghịch là tội bị giết không tha, một khi nghe tin tìm bắt thì hang sâu hốc tối chỗ nào cũng có mà trốn để bảo toàn tính mạng, mà các phận núi Lương Chánh, Quan Hóa rừng cây rậm rạp, dù gần ngay một trăm bước, mà không đến tận nơi cũng khó biết là có người ẩn nấp hay không. Lại như việc bắt nộp súng điểu thương, đã có một vài đứa ra đầu thú, hiểu dụ hai ba lần, nhưng chúng đều nói dối là bị giặc bắt hiếp đi theo, gánh lương cho giặc, đến chết cũng không chịu nhận việc cầm súng chống cự quan quân. Chúng thần bàn nhau là trước hết phải bảo vệ uy đức của triều đình, cho chúng đem nhau ra đầu thú, phàm động sách nào ra thú hết thì đổi ra làm xã, sách nhỏ thì vẫn làm một xã, sách lớn thì chia làm 2,3 xã thôn, chọn bầu lý trưởng, phó lý, sai làm sổ đinh điền, đợi ra thú đã hết, làm sổ đã xong, rồi mới biểu rõ họa phúc, bắt nộp súng điểu thương, thì đã có người có tên, thế tất không dám trốn nữa, cũng không nói thoái thác được. Lại bắt chúng dẫn bắt lũ yếu phạm, chả ở động sách này, tất ở động sách khác, như thế thì đâu có thể nhảy thoát ra ngoài các phận rừng thượng du được. Đến lúc ấy nếu có đứa ẩn giấu chống cự, lập tức trị ngay. Một khi đã thành xã thôn, bầu ra lý trưởng theo làm việc quan, dần dần theo phong tục người Kinh, nếu có thổ mục thổ tù thì chẳng qua cũng là một người dân, không được tập thành thói quen thói lừa dối như trước, nếu học cách như người Kinh thì không sợ bị thổ mục tổ tù ức hiếp nữa. Tôi nay ở Lương Chánh, hiểu dụ dân ấy, dân đã quay đầu về, chính đang sức cho làm sổ để nộp”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 32


Vua phê bảo là mọi việc tâu lên đều hợp ý trẫm, cố gắng làm tốt.


Trương Đăng Quế còn tâu:


 “Kinh lý châu Lương Chánh là việc bắt đầu, xin sức cho bộ chọn ngay tri châu, cho đến cung chức, để ngày sau dễ làm việc. Châu sở đã làm đồn lớn, nên phái một Quản vệ đắc lực ở tỉnh sung lĩnh quản phủ Thọ Xuân, dời đến đóng ở đấy để đàn áp.”


Đại Nam thực lục, Tập 5, tr. 33


Đạo quân của Kinh lược Phó sứ Thanh Hóa Nguyễn Đăng Giai đóng ở Quan Hóa, thổ dân mười hai động lục tục đến quân thứ đầu thú, sai làm sổ đinh sổ điền đã gần xong, bèn chuyển về quân thứ Lương Chánh, cùng Kinh lược sứ Thanh Hóa Trương Đăng Quế hội bàn. Đạo quân của Phó sứ Doãn Uẩn từ Thọ Thắng tiến đến sách Quân Thiên, động Lâm Tự, bọn giặc đều đã tan vỡ chạy trốn cả. Thự Lãnh binh Nghệ An là Nguyễn Cửu Đức đưa bọn giặc ra thú và tìm bắt hơn chín chục người. Doãn Uẩn cho là bọn ấy bị giặc bắt hiếp đi theo, đếu tha cả, bèn đóng quân ở đấy, treo bảng yết thị “chiêu an”, tùy tiện kinh lý, tư cho Nguyễn Cửu Đức rút quân về Nghệ An, liệu để lại biền binh ở phủ Quỳ Châu để ngăn chặn. Trương Đăng Quế lại tâu lên:


“Thượng lưu Quan Hóa có ba con sông cùng chảy rót vào động Hồi Xuân. Sông Mã từ động Vân Luông chảy đến, sông Lũng từ động Sơn Trà chảy đến, sông Lô từ động Tam Lô chảy đến. Chỗ ấy địa thế cao ráo, xin làm một đồn để làm châu lỵ, gọi là đồn Tòng Hóa. Lại nay Thanh Hóa có việc vận tải, đã sai thự Phó lãnh binh thủy sư là Đặng Công Thập, Thành thủ úy là Đặng Công Thành, đem lính thủy đi đánh trận cùng biền binh hai đội Túc võ, Quảng võ rút về hàng ngũ ở tỉnh, Đạo quân Hưng Hóa cũng xin Chỉ để lại một quản vệ, hai trăm biền binh để đóng bắt giặc trốn”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 41


Vua đều y cho. Lại thấy việc bắt giặc đã hơi rảnh, trong khi ở Bắc Ninh gạo đắt, dân thiếu gạo, điều động Nguyễn Đăng Giai về Bắc Ninh cung chức. Trương Đăng Quế tâu nói:


“Bọn thổ phỉ nay tuy đã tan, nhưng chính yếu phạm như bọn Phạm Công Nho, Hà Công Kim, Phạm Thúc Liêm vẫn chưa bắt được một tên nào, sau này chưa hẳn đã vô sự. Cần phải đuổi bắt cho hết mầm ác. Bề tôi cũng như Doãn Uẩn đều là người mới, duy Nguyễn Đăng Giai đã từng làm quan tỉnh ấy, địa thế chỗ hiểm chỗ bằng, thổ tục dân tình vốn đã quen thuộc, gần đây việc đánh bắt đi đến đâu đều có hiệu quả nhờ công của Giai. Lại lũ thổ ty, thổ mục đến thú, trong đó cũng có người nhận quan chức của giặc, hết thảy giao cho mang đi theo quân là vì được chúng tin theo, giữ được không để xảy ra việc bất ngờ gì. Nay nếu giao cho người khác cai quản thay không khỏi sinh ra ngờ, thì việc đánh bắt chưa xong, mà mầm sợ trốn lại phát. Sự thế hiện nay, không có Giai không được. Xin để Giai ở lại làm việc, để nhờ tay quen. Còn việc bán thóc ở Bắc Ninh, xin phái Doãn Uẩn đi thay đủ làm nổi việc. Bề tôi kính được chọn phái, ngày đêm nghĩ hết lòng làm việc, thực không dám sợ khó mà đùn đẩy”.


Đại Nam thực lục, Tập 5, tr. 44


Vua Minh Mệnh rất lấy làm phải, và khen Quế có phong độ đại thần, cho Nguyễn Đăng Giai, Doãn Uẩn vẫn ở lại Thanh Hóa đánh bắt giặc cho rốt ráo. Vua điều động Bố chánh Sơn Tây là Ngụy Khắc Tuần đi Bắc Ninh.


Kinh lược sứ Thanh Hóa Trương Đăng Quế ở quân thứ Lương Chánh, mật phái người có sức làm việc là Hà Công Đức, bắt được đầu mục giặc là ngụy Trung đồn Trương Công Mật, ngụy Quản đạo Phạm Công Quân, cùng bè lũ bảy tên. Lại phái Quản vệ Nguyễn Lương Nhàn, Phạm Bạch Như bắt được đầu mục giặc là lũ Tả đồn Lang Văn Thái, ngụy Tham tán Tạ Văn Ninh, cùng bè lũ tám tên ở động Lương Sơn. Trương Đăng Quế lại cho dò biết được tin đầu đảng giặc là Phạm Công Nho, Hà Công Kim vẫn ngầm hợp trốn tránh ở các phần rừng thượng du Tam Lô, tức thì phái Phó sứ Nguyễn Đăng Giai đi vây bắt ngay, còn mình đích thân dẫn quân đến Ái Chữ, qua châu Quan Hóa, qua Cẩm Thủy về An Lạc đóng quân. Phó sứ đạo Nông Cống là Doãn Uẩn phái Lại mục phủ Thọ Xuân là Lê Danh Chấn cùng cách viên là Ngô Tài Đắc bắt được gián điệp của giặc là Lê Công Vụ, đầu mục giặc là ngụy Hậu đồn Lê Yên. Doãn Uẩn lại chuyển quân đến Lương Sơn đốc thúc bọn Nguyễn Lương Nhàn tìm bắt giặc còn sót.


Nguyễn Đăng Giai, Tôn Thất Bật đóng quân ở Ái Chữ. Trước đây, Giai có đem theo trọng quân thứ Lê Phúc An (trước là Bố chánh Thanh Hóa), gia quyến của người phạm tội bị giam là Nguyễn Văn Thắng (trước là Tham hiệp Thanh Hóa) cố sức lập công để chuộc tội cho người nhà mình. Giai sai họ cùng thám tử Vi Văn Ái dò bắt giặc trốn, hỏi biết Phạm Công Nho ẩn nấp ở núi sách Bất Căng, liền dẫn quân sấn đến ập bắt. Nho vừa chống vừa chạy, bị chém trúng vài nhát mới thúc thủ chịu bị bắt. Phạm Công Nho bị đóng cũi giải về kinh giết đi.


Trương Đăng Quế tâu lên:


“Nay giặc trốn còn nhiều, nên nghiêm đốc biền binh đi tìm bắt, cũng khó một mẻ lưới mà hết được. Trời thì nóng, lam chướng, không tiện ở lâu. Các người theo giặc đều có danh mục, nay biết ra thú, xin tha tội cho chúng, bắt phải cùng nhau dẫn đi bắt, ngõ hầu dễ được việc, và kẻ phạm phải giam là Nguyễn Văn Thắng cùng Nguyễn Huy Chiểu (trước là Án sát Thanh Hóa), nếu được tha tội, sai đem gia nhân thủ hạ đi bắt giặc để chuộc tội, tưởng cũng được việc”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 52


Vua Minh Mệnh đồng ý bản tâu tha tội cho những người lầm lỡ theo giặc nay ra thú, cho thả Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Huy Chiểu phái theo quân thứ lập công chuộc tội.


Trương Đăng Quế lại tâu lên:


“Các động sách Trịnh Vạn, Mậu Lộc, Quân Thiên, Lâm Lự (tả ngạn sông Lương) thuộc châu Lương Chánh, dân ở dựa núi, rải rác hai ba nhà một, không thành thôn xóm, mà chỗ nào cũng rừng rậm, núi khe, đi lại rất là gian hiểm, lại cách xa châu lỵ, thế khó trông coi. Vả lại, xứ ấy hai mặt tây bắc giáp giới với phủ Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, và huyện Sầm Tộ, phủ Trấn Biên, cũng là nơi quan yếu. Nếu khống chế ở chỗ ấy thì Lâm Lự, Quán Thiên không còn hiểm trở. Tách chia sách Trịnh Vạn làm hai xã, hợp với hai xã Thọ Thắng, Mậu Lộc thành lập một tổng gọi là tổng Trịnh Vạn. Tách chia sách Quán Thiên, Lâm Lự làm tám xã thôn thành lập một tổng gọi là tổng Quán Nhân. Lại trích tổng Như Lăng, Lôi Dương, Luận Khê thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa gần đấy, lập châu Thường Xuân gồm bốn tổng, làm đồn Trịnh Vạn làm châu lỵ. Lại Cẩm Thủy chia đặt huyện lỵ, mà hạt ấy dân cư đông đúc, không có núi khe hiểm xa, xin đặt huyện lỵ ở đất xã Thạch Lẫm (tả ngạn sông Mã) ”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 63-64


Vua Minh Mệnh đều duyệt y cho thực hiện.


Tháng ba năm 1837, Minh Mệnh năm thứ 18, quân thứ Thanh Hóa đem binh dõng các đạo rút về, phái ủy thổ ty châu Quan Hóa là Hà Văn Vân tiếp tục tìm bắt giặc còn lẩn trốn. Tháng tư năm ấy, Hà Văn Vân bắn chết chính yếu phạm là Phạm Bá Nho ở rừng Lạc Canh đem đầu về dâng. Nguyễn Đăng Giai lại dẫn quân đến thượng du rừng khe các hạt Quan Hóa, Cẩm Thủy, Lương Chánh, đích thân đốc thúc làm việc với cùng thổ mục, thổ dân chia đường đi tìm bắt giặc trốn. Ngụy Thượng thư là Đinh Kim Bảng ẩn ở xã Thịnh Điện (thuộc châu Quan Hóa), bị bọn làm việc chuộc tội là Hà Công Đức, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Huy Chiểu đem thủ hạ đến bắt được. Thổ mục Thượng Lô là Phạm Phúc Thượng lại bắn giết được ngụy Chánh Thống lĩnh Phạm Phúc Hiển cùng bè lũ bốn tên khác ở rừng Man Duy.


Trương Đăng Quế đem việc kinh lý bày tâu:


“Sáu huyện châu Thạch Thành, Quảng Địa, Cẩm Thủy, Lương Chánh, Quan Hóa, Thường Xuân vốn là ràng buộc, cai trị một cách sơ sài, nên vừa rồi xảy ra việc loạn, đều do thổ tù chuyên chế áp bức thổ dân mà ra. Nay xin đổi sách động làm xã thôn, lập sổ sách đinh điền, lại chọn người thông hiểu làm lý trưởng cai quản dân ấy. Những người trước làm phòng ngự, thiêm sự, đồng tri, đều nên thu lấy bằng sắc, bỏ ngạch cũ đi, trong bọn ấy có người có thể sai khiến được thì do tỉnh tâu xin đổi bổ chức hàm bá hộ, theo tỉnh sai phái, để trừ mối tệ thổ tù kế tiếp nối theo.


Dân cư ở động sách, địa thế rộng rãi, nay đã đổi thành xã thôn, đặt ra tên tổng, xin chọn người đầu mục thật thà cho làm cai tổng, phó tổng, mỗi chức một người, theo viên tri châu, tri huyện xướng xuất các việc quan.


Những động sách đất hẹp dân ít, vẫn theo như cũ, chỉ đổi tên làm xã thôn, động sách nào số đinh điền gấp đôi, thì liệu chia làm ba, bốn xã hoặc bảy, tám, chín xã thôn cho dễ cai quản. Những số đinh có người ra thú thì chọn người khỏe mạnh biên vào sổ, còn thì đều không hỏi đến. Số ruộng có chỗ bỏ hoang sót sổ cũng đều cứ thực biên vào sổ, mà tha cho cả các tội bỏ hoang ẩn lậu từ trước.


Trước kia thổ phỉ làm loạn, bị ép đi theo giặc có đến hàng ngàn, thì phàm thổ mục, thổ dân đến cửa quan đầu hàng thì sức cho đem súng điểu thương đến nộp, cho về yên nghiệp, biên vào sổ đinh, sai các viên huyện châu vỗ về dạy bảo, khiến cho chúng đổi làm điều lành, không cần truy xét tội trước.


Sổ sách đinh điền ba bản đều đóng ấn Kinh lược quan phòng, bản giáp nộp bộ, bản ất để ở tỉnh, bản bính giao về xã thôn chấp chiểu, hằng năm do quan lại địa phương sức làm sổ điền, sổ đinh cùng giống như người Kinh.


Dân thổ từ trước đến nay chỉ làm đầy tớ cho thổ tù, phàm con em thổ tù mới được đón thầy học tập, còn đều bị ngăn cấm, nên thổ dân phần nhiều ngu dốt mê lầm. Nay xin cho các viên huyện châu chọn con em thổ dân, những cháu hơi sáng suốt, dạy cho học chữ để làm biến đổi phong tục người Man.


Hai huyện Thạch Thành, Quảng Địa đã bị tàn phá, dân ở đây lại theo quan quân đi đánh giặc, đài tải lương thực, cùng các huyện châu Cẩm Thủy, Quan Hóa, Lương Chánh, Thường Xuân tình hình hao hụt thật là đáng thương, về thuế lệ phải nộp năm nay cùng số để thiếu năm trước, xin tha giảm để cho dân ở đây bớt đói túng.


Sổ điền các huyện châu cũng nên đại số qua loa, còn giới hạn các thôn xã, kinh lý buổi đầu, chưa tiện đo đạc. Xin đợi sau ba năm, do quan địa phương sức làm địa bạ để định địa giới.


Sổ cũ của huyện châu cùng số đinh mới thêm ra nhiều, nên chọn phần làm lính, nhưng sau khi binh hỏa, nhân dân chưa về đủ cả, cũng xin đợi sau ba năm chiếu số tuyển lính, đều theo lệ năm đinh lấy một.


Về súng điểu thương của thổ dân đem nộp và đương trường bắt được, tất cả hơn năm trăm năm chục cây súng do tỉnh làm danh sách phụng giữ.


Lại tùy theo địa thế xa gần, đinh điền nhiều ít, chia đặt tổng làng, làm ra sổ sách.


Về phủ Quảng Hóa:


Huyện Cẩm Thủy trước bảy tổng, năm mươi hai sách, trang, trại, nay đặt làm chín tổng, bảy mươi mốt xã.


Huyện Quảng Địa trước năm tổng hai mươi sáu sách, trang, trại nay đặt làm hai mươi bảy xã.


Huyện Thạch Thành trước sáu tổng, sáu mươi mốt sách, trang, trại, nay dồn thành năm mươi bốn xã.


Về phủ Thọ Xuân:


Châu Quan Hóa trước mười ba động, thôn, nay đặt làm sáu tổng, hai mươi tám xã.


Châu Lương Chánh trước mười lăm động, nay đặt làm tám tổng, bốn mươi ba xã.


Châu Thường Xuân mới đặt, trước hai tổng, mười bảy động, sách, nay đặt làm bốn tổng, hai mươi sáu xã, thôn.


Huyện Lôi Dương trước hai tổng Bái Đô, Mục Sơn ở thượng du, trước mười bốn trang, sách, nay dồn làm mười hai xã.


 Về phủ Tĩnh Gia:


Huyện Nông Cống trước hai tổng Lai Triều, Lăng Lăng ở thượng du trước có bảy sách, nay giữ nguyên.


Huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa trước có ba tổng Quảng Thi, An Tràng, Ngọc Lặc ở trung du, trước có mười tám sách, nay đổi làm xã. Số đinh sổ cũ 1.690 người, mới thêm 1.393 người, cộng 3.083, điền thổ sổ cũ hơn 4.920 mẫu, mới thêm hơn 8.302 mẫu, cộng 13.223 mẫu.


Lại xin phái bốn suất đội, hai trăm biền binh thuộc tỉnh đến đóng giữ ở chỗ quan yếu đồn Ninh Lương, Quản phủ Thọ Xuân cũng lưu ở đấy để ngăn ngừa”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 77


Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng Giai ở đạo quân Thanh Hóa nghiêm đốc thúc bọn thú đinh và người cố sức làm việc chuộc tội, lần lượt bắt được đầu mục giặc là Hà Công Tư (người sách Cổ Lũng, ngụy xưng Khang Vũ quân điều bát), Lê Phi Hiếu (người động Khương Chánh, là con giặc chết chém Lê Phi Ba, ngụy xưng Phó tướng), yếu phạm của giặc là Lê Phi Ất, Lê Phi Bài, và bọn thân của tối yếu phạm Hà Công Kim, Phạm Thúc Liêm vài mươi người. Duy hai giặc Hà Công Kim, Phạm Thúc Liêm vẫn chưa bị bắt, họ dâng sớ xin gia hạn.


Vua Minh Mệnh cho triệu Trương Đăng Quế về kinh. Dụ rằng:


“Ngươi là đại thần nhất phẩm, chức giữ cơ mật trọng yếu, há nên ở ngoài lâu. Nay việc kinh lý đã làm xong, chỉ còn một hai đứa giặc trốn, giao cho Nguyễn Đăng Giai nghiêm đốc bọn thú đinh và bọn làm việc chuộc tội tìm bắt, cốt bắt được hai yếu phạm là Hà Công Kim và Phạm Thúc Liêm để kết án trị tội. Khi ngươi tiếp đươc dụ này, lập tức đi thong thả về Kinh cung chức”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 92


Đang khi đó, Nguyễn Đăng Giai phái ủy Suất đội Vũ Đình Lượng cùng bọn hiệu lực Hà Công Đức bắt được Hà Công Kim, đóng cũi giải về Kinh. Vua lại Dụ cho Trương Đăng Quế vẫn theo Dụ trước về Kinh, cả Nguyễn Đăng Giai cũng về Kinh, rút tất cả biền binh đi trận ấy về nghỉ ngơi. Còn mỗi tên giặc Phạm Thúc Liêm thì giao cho tỉnh, hạn ngặt cho bọn hiệu lực, thú đinh tìm bắt.


Trương Đăng Quế lại tâu lên:


“Thổ ty, thổ mục người đã theo đi đánh giặc dự có công trạng, thì xin bổ riêng chức hàm Cai đội, Đội trưởng theo tỉnh sai phái. Còn bọn nguyên Phòng ngự, Thiêm sự, Phòng ngự đồng tri lúc thổ phỉ bắt đầu nổi loạn thì im lặng hông phân biệt phải trái, mặc cho chúng hoành hành, xin cách chức cả. Nếu trong đó người còn sai khiến được thì do tỉnh tâu xin đổi bổ chức hàm bá hộ, còn thì bắt về quê chịu sai dịch”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 92


Vua nghe theo.


Kinh lược sứ Trương Đăng Quế, Phó sứ Nguyễn Đăng Giai ở đạo quân Thanh Hóa về đến Kinh. Vua ra Dụ khen ngợi, cho Quế nghỉ ngơi mười ngày, vẫn giữ chức Hiệp biện đại học sĩ lãnh Thượng thư bộ Binh, Giai lại về làm Bố chánh Bắc Ninh.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »