tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20520132
Truyện ngắn
11.04.2013
Vũ Bằng
Một số đề chết cả nhà (1)

Tháng mười năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt, tòa án Sài Gòn xử một vụ làm cho rất nhiều người, nhất là giới Hoa kiều [1] lưu ý. Sở dĩ như thế là vì cả thủ phạm lẫn nạn nhân đều là Hoa kiều giàu có bạc vạn, bạc triệu, nghĩa là cả hai đều thuộc vào hạng cự phú.


Mặc dầu cả nạn nhân lẫn thủ phạm không có tiếng tăm lừng lẫy như Tấn Phát, Wang Tai, Chú Hỏa, Chú Hỷ – giàu đến thành đồng dao “Đi tàu Chú Hỷ, ở phố Chú Hỏa” – hay nổi danh một thời như Quách Đàm tức Thông Hiệp – mà đến bây giờ người ta còn truyền khẩu câu liễn “Thông thương sơn hải, hiệp quán càn khôn” – cả nạn nhân lẫn thủ phạm vụ này cùng có tiếng là tiền nhiều đến nỗi không để đâu cho hết.


Nạn nhân là Trương Tài, còn thủ phạm là Vi Kinh Trung.


Theo các hồ sơ mà tòa án Sài Gòn lưu trữ – nhưng bị tiêu hủy trong hồi chiến tranh Nam Bộ – mà các cố lão đã được đọc và nhớ sơ sơ thì Trương Tài và Vi Kinh Trung là bạn thân thiết mặc dầu tuổi tác khác nhau. Trương Tài, so với Vi Kinh Trung, đứng vào hàng cha chú, nhưng họ coi nhau là bạn thân vì cộng tác với nhau trong công việc làm ăn buôn bán. Thực ra, vốn liếng của họ lúc đầu không có mấy nhưng vì gặp vận hội tốt, họ kiếm bộn tiền trong việc buôn bán da trâu, vi cá chở đi xứ ngoài.


Thế rồi vận hên nọ kế tiếp, họ xây lò gạch, mở vô khối tiệm buôn rồi gặp đúng một vài chuyến chở lúa sang bán ở Tân Gia Ba [2], họ kiếm tiền như vỗ tay, trở nên cự phú lúc nào không biết. Nhưng do đường dây thân tộc nào hay vì lý do thương mãi nào khác, mà Kinh Trung và Trương Tài gặp gỡ nhau và hợp tác với nhau thì cả Sài Gòn Chợ Lớn – kể cả giới Hoa kiều lúc ấy – đều không biết.


Những nhà buôn lớn, hồi ấy, còn sống đến bấy giờ, kể chuyện rằng Kinh Trung và Trương Tài thương yêu, tín nhiệm nhau hơn cả vợ chồng, phàm công việc gì mà Trương Tài đã chịu thì chắc chắn là Kinh Trung cũng chịu luôn, còn tiền bạc, ai muốn tiêu xài bao nhiêu mặc ý, khỏi cần phải hỏi ý kiến nhau làm gì vô ích.


Chính giữa lúc các thương gia ở Chợ Lớn đang ví cái tình bạn của Kinh Trung và Trương Tài với cái tình bạn của Quản Di Ngô và Bảo Thúc Nha đời Xuân Thu Chiến Quốc thì một buổi sáng kia có tin sét đánh truyền đi rồi chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, lan ra khắp mọi nơi như một lằn thuốc súng.


Kinh Trung đã giết Trương Tài trong một căn phòng ở chính ngay trụ sở trung ương của họ tại đường Phạm Đăng Hưng [3] (Đất Hộ) ở giữa khoảng Sài Gòn – Chợ Lớn vì thời ấy có hai con đường xe lửa nối liền Sài Gòn về Chợ Lớn:


– Một đường chạy từ chợ Bến Thành chạy dọc theo đường Bonard [4], khỏi Catinat [5] quẹo sau nhà Hát Tây trở ra đường Paul Blanchy [6] chạy lên Đất Hộ.


– Một đường xe lửa nối liền chợ Đất Hộ qua Tân Định, chạy dài theo con đường Paul Bert (Trần Quang Khải) lên Trần Hưng Đạo, đến đường Đồng Khánh, Tổng Đốc Phương và trạm chót là ga Rodier.


Cả Sài Gòn và Chợ Lớn lúc ấy đều xôn xao bàn tán không ngớt về vụ án mạng này. Thủ phạm là Kinh Trung, sau khi giết Trương Tài mười bảy nhát dao, ngồi nguyên tại chỗ chờ cảnh binh đến bắt, tuyệt nhiên không chạy trốn.


Tại sao lại có thể như thế được?


Mỗi người bàn một cách. Giết nhau vì tình? Một số người tin như vậy. Giết nhau vì tiền! Lẽ này có vẻ đúng hơn. Ngoài tình và tiền ra người ta còn giết nhau làm gì, nhất là những người thuộc vào loại Trương Tài và Kinh Trung?


Sau mười một tháng điều tra, dọ hỏi các nơi và thẩm vấn mười mấy nhân chứng và khảo tra Kinh Trung, dụ dỗ y, công an và biện lý cuộc cũng không thể tìm ra được nguyên nhân gì khác. Để kết thúc vụ án, biện lý cuộc không có cách gì hơn là làm một kết luận, theo đó, Kinh Trung đã giết Trương Tài để chiếm hết cả tài sản của công ty, hơn thế, lại còn giả mạo giấy tờ để kết Tài vào tội biển thủ và lường gạt. Biện lý cuộc làm một tờ cung và chính Kinh Trung đã ký nhận vào tờ cung ấy là đúng với lời khai của mình.


Thế rồi đến một ngày cuối đông năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt, vụ Kinh Trung – Trương Tài đưa ra trước tòa.


Bom nổ vào lúc chót: ra trước vành móng ngựa, Kinh Trung phản cung:


– Thưa quan chánh án, tất cả những lời tôi đã khai và ký nhận trong tờ cung đều không đúng. Sở dĩ tôi phải ký nhận như thế là vì tôi bị tra tấn tàn ác quá, tôi nhận liều. Trương Tài là một người bạn rất thân, rất tốt của tôi. Ảnh không bao giờ phản tôi, không manh tâm sang đoạt phần tài sản của tôi bao giờ. Đến tận giờ này, dù tôi đã hạ sát anh ta, tôi vẫn thương xót và tiếc nuối người bạn đó.


Tòa và các thính giả đến dự buổi xử án đều ngã ngửa vì ngạc nhiên.


Ông chánh án hỏi:


– Anh nói gì? Tòa không tin được. Anh nói là anh thương xót Trương Tài mà anh lại giết y?


– Vâng. Tôi lại nói thêm rằng trong những tháng bị giam cầm, tôi luôn luôn cầu nguyện cho linh hồn Trương Tài được siêu sinh tịnh độ dưới suối vàng. Và có lúc tôi đã nghĩ rằng phải chi tôi được tự do ở trong nhà giam, thế nào tôi cũng làm một lá đơn xin phép nhà nước cho tôi làm một tuần chay cúng Trương Tài để cầu xin Trương Tài tha tội cho tôi.


– Ồ, thế thì anh điên rồi. Sao mà ông thầy thuốc khám anh lại không nhận thấy thế, âu cũng là một điều thiếu sót đáng phàn nàn.


– Thưa quan chánh án, có lẽ lời nói của ngài không đúng hẳn. Theo nhận xét của riêng tôi về chính bản thân tôi, lúc nào tôi cũng tỉnh. Ngay khi cầm dao giết Trương Tài, cũng như bây giờ, tôi không một lúc nào nổi cơn điên khùng hay bất thần loạn trí. Tôi hoàn toàn khỏe mạnh. Tôi hoàn toàn bình tĩnh. Tôi biết rõ từng việc của tôi làm.


– Thế thì anh phải khai rõ tại sao anh giết người. May ra vì thế mà anh được hưởng trường hợp giảm đẳng. Sao anh không nói?


– Tôi không nói là vì tôi biết trước sát nhân thì đàng nào tôi cũng chết, nói làm gì vô ích! Nhưng không biết vì có sự run rủi gì, từ đêm qua tôi chợt nghĩ khác đi và tôi thấy trước sau bề gì tôi cũng phải nói để cho khỏi thắc mắc trong lòng lúc kề cổ vào máy chém, mà cũng nhân đó rửa được cho bạn tôi là Trương Tài cái tiếng tăm không tốt là lường thầy phản bạn.


– Tòa cho anh nói. Anh cứ nói hết cả đầu đuôi câu chuyện của anh ra.


– Thưa quan chánh án...


*


Cách đây hai mươi ba, hai mươi bốn năm – lời của Kinh Trung – ở Đất Hộ có một ngôi chùa rất lạ.


Các nhà sử học cho rằng ngôi chùa này tạo lập lối năm một ngàn chín trăm linh một hay linh hai gì đó, an lạc thành năm một ngàn chín trăm linh ba. Chùa trông cổ kính vô cùng. Ấy là chùa Ngọc Hoàng, còn kêu là “Ngọc Hoàng điện”.


Theo lời các cụ kể lại thì một người Tàu tên Lưu Minh, ăn chay trường, giữ đạo Minh Sư đã lập chí quyết lật đổ nhà Mãn Thanh, xuất tiền tạo lập nên ngôi chùa này vừa để thờ phụng, vừa để làm nơi hội kín.


Chánh điện thờ đức Ngọc Đế, tiền điện thờ đức Thích Ca. Phía hữu điện, đi vào tít bên trong, có một ngôi cổ miếu nhỏ, thờ một viên đá tượng trưng “Ông Tà” của người Khờ Me ngày trước. Về sau, người Tàu thấy miếu đó linh thiêng, mang từ xứ họ sang một viên đá khác để ở gần viên đá cũ, nhang đèn thờ phụng, kêu là “Thái sơn thạch”, ra cái ý là đá lấy từ núi Thái Sơn ở bên Tàu qua đây thay thế cho “Néac Tà” bản xứ. Gần đó nữa, có bụi tre đàng ngà, dưới gốc suốt ngày suốt đêm có nhang đèn nghi ngút, còn trên cành tre thì treo la liệt nào quạt, nào đèn, nào tóc rối, nào chỉ quấn nùi, nào hài, nào nón... Trong miếu, có một gian nhỏ bày cảnh thập điện âm ty và cảnh thiên đình chạm trổ rất đẹp, bên tả có treo bức tranh “Đạt Ma tổ sư quá hải”, bên hữu có một cái thang để lên lầu thờ Quan Đế.


Theo các ông già, bà cả sinh sống lúc bấy giờ, ngôi chùa ấy rất linh, nhất là cái cổ miếu có hòn đá “Néac Tà” và hòn “Thái Sơn” thì thiêng rất mực, phàm ai mất của mà đến cầu xin ở đó thì thấy của, ai cầu con là được con, còn người nào làm ăn buôn bán đến lễ, xin âm dương rồi vay một vài đồng tiền đem về làm ăn buôn bán thì tiền ấy sinh sôi nẩy nở, một hóa mười, mười hóa trăm, trăm hóa ngàn.


Hàng ngày, cứ vào khoảng xế chiều, có một thanh niên người các chú [7] đến lễ chùa Ngọc Hoàng rất thành tâm, kính cẩn, bất kể nắng nực hay mưa gió. Y lễ chánh điện, hữu điện, tiền điện rồi ra lễ ngôi cổ miếu, xuýt xoa khẩn vái có cả tiếng đồng hồ, cầu xin chư vị thánh thần cứu vớt y, phá ngu trừ mê, chỉ bảo cho y con đường sáng để thoát cơn nghèo túng, đánh trúng đề cho có tiền để trang trải công nợ và sống một cuộc đời dễ chịu. Người thanh niên ấy tên là Lưu Sáng.


Y là một người làm công cho một nhà buôn ở gần chùa Ngọc Hoàng, ăn ở luôn nhà chủ vì không có vợ con. Từ sáng đến chiều, y làm bất kể công việc gì ở trong nhà ông chủ, hết quét dọn lại đi thu tiền, mà không đi thu tiền thì lại ngồi bẻ nan làm những cái đèn lồng treo cửa, vì nghề chính của ông chủ nhà này là làm các thứ đèn giấy và đồ chơi tháng tám.


Thấy y ngoan ngoãn, ông chủ thương y như con trong nhà, nhưng chỉ thương vậy mà thôi, chớ không tăng lương cho y bao giờ, mặc dầu y vào làm với ông đã ngót hai mươi năm trời.


Lương chỉ có mười bốn đồng một tháng. Đã thế mỗi tháng lại chỉ trả một nửa thôi, lấy cớ là giữ cho y nhưng chính ra là để sanh lợi thêm và nhất là để buộc y phải ở với mình cho tới chết, không có cách gì bỏ đi làm nơi khác được.


Sống từ tấm bé trong một gia đình buôn bán làm ăn, Lưu Sáng tuy nhiên mỗi tháng cũng kiếm thêm được dăm bảy đồng nữa. Góp gió thành bão, chẳng mấy lúc y đã có một cái vốn kha khá, nhưng ác hại, y lại mê đánh đề, mà đánh thua hoài, nên cái vốn ấy mỗi ngày mỗi sút kém dần đi. Y đem đầu đến lễ chùa Ngọc Hoàng xin thần thánh cứu vớt y chính là vì lẽ đó.


*


Một đêm – Vi Kinh Trung nói tiếp – đương mơ mơ màng màng dở thức dở ngủ, Lưu Sáng thấy hòn đá “Néac Tài” ở ngôi cổ miếu bên chùa Ngọc Hoàng bay là là đến trước giường y nằm và từ trong lòng hòn đá bò ra một đàn mèo đủ các cỡ, mèo mới đẻ có, mèo già có, mèo nhỡ nhỡ cũng có. Rồi từ lũ mèo đó, có một con mèo chúa bước ra, đi hai chân như người tiến lại trước Lưu Sáng mà nói: “Vãng sự hà túc luận, đại đạo hợp như thi” rồi cả hòn đá, cả lũ mèo biến mất.


Luôn mấy ngày liền, Lưu Sáng nghĩ ngợi băn khoăn vì giấc mộng và cố công tìm hiểu ý nghĩa của hai câu thơ mèo chúa đọc, nhưng không tài nào hiểu nổi.


Mặc dầu vậy, y cũng cho rằng Ngọc Hoàng thương y, chư vị thánh thần đã báo mộng cho y thì phúc đức cho y lắm rồi. Cũng như tất cả những người đánh cờ, đánh bạc nói chung và đánh đề nói riêng, y cho rằng cứ đánh con mèo thì “ăn”.


Thường thường những người đánh đề nằm mơ thấy heo thì đánh 07, 47, 87 (07 là heo mới đẻ, 47 là heo chừng năm chục ký, còn 87 là heo bự nặng từ năm chục ký trở lên), nằm mơ thấy chuột thì đánh 15, 55, 95, nằm mơ thấy rắn thì đánh 32, 72, nằm mơ thấy gà, đánh 28, 68, nằm mơ thấy voi đánh 13, 53, 93... còn mơ thấy mèo thì đánh 14, 54, 94 (mèo mới đẻ là 14, mèo vừa vừa là 54, mèo già là 94). Bởi vì y thấy đủ các cỡ mèo, từ mèo chúa đến mèo mới đẻ, Lưu Sáng dốc tiền ra đánh cả 14, 54, 94. Nhưng bởi vì mèo chúa đọc cho y nghe hai câu thơ “sấm”, y kết số 94, kỳ nào cũng ghi rất đều con số đó, còn 14, 54 thì đánh vừa phải thôi.


Y nhịn ăn, nhịn uống, nhịn hết cả mọi chi tiêu khác để mua thật nhiều số 94, một ít số 14, 54 và cương quyết tin rằng cứ kiên trì đánh mấy con số đó, thế nào cũng phải trúng vì thần nhân đã báo mộng cho y thấy như thế rồi. Ở đời, chúng ta vẫn thường gặp những “mẫu” người như thế: mê làm giàu, nuôi cái mộng làm giàu, nhưng tự xét mình không có tài năng bằng người và cũng không có phương tiện để làm giàu, họ chỉ biết cách trông vào may, rủi bằng cách đánh bài, đánh bạc – mà đánh đề là một lối đánh bạc tương đối phổ thông nhất, mà cũng dễ chơi nhất.


Lưu Sáng thuộc vào hạng đó. Thoạt đầu thấy người ở chung quanh đánh đề thì y cũng bắt chước chơi vậy thôi. Rủi cho y là có một hai lần y lại trúng một vài trăm nên bị cám dỗ đến thành say mê, thành ghiền. Có một vài người bạn và cả ông chủ, bà chủ y nữa khuyên y đừng có đam mê làm gì vì theo họ “cờ bạc đãi người mới”, “đề nó có thần, nó cho người ta trúng một hai lần để nhử rồi sau lấy lại hết”, nhưng Lưu Sáng không tin như vậy. Càng thua, y lại càng cay, bao nhiêu tiền ăn nhịn để dành thua nhẵn, nhưng y vẫn không nản – nhất là từ khi y nằm mộng thấy hòn đá “Néac Tà” ở chùa Ngọc Hoàng đẻ ra một đàn mèo. Tiền để dành đã hết, y vay lương trước để mua số 94, kỳ nào cũng tới bạc chục, thế mà ác hại thay, bốn năm tháng trôi qua mà vẫn không thấy ra số 94, mà cả số 14, 54 cũng không ra nốt.


Tuy vậy, Lưu Sáng rất mực tin nơi thần quyền, nhất định không nản chí. Vay trước lương không được nữa, y bán cà rá, đồng hồ đeo tay, bán luôn cả những quần áo tốt đi để “biên” đề, rồi vay chằng vay chớ các bạn bè, thân quyến, không còn sót một người nào.


Bấy giờ đề không còn phải là một thú vui để cho y giải trí hay kiếm tiền, nhưng thành ra một ám ảnh hãi hùng, rùng rợn làm cho y phải nghĩ ngợi, thắc mắc cả đêm cả ngày. Không thể nào ngưng được! Trời Phật có bao giờ phụ những người có... chí đâu! Thế nào một ngày tốt trời kia, y cũng sẽ trúng một vố rất to. Y sẽ giàu có, bạc tiền rủng rỉnh. Lúc ấy, y sẽ tậu nhà lầu, có xe hơi và sẽ làm chủ để trả thù lại những ngày cơ cực, làm ăn vất vả tối ngày, mà vay tí lương trước, chủ không những đã không chịu mà lại còn mắng mỏ, chửi bật mả con nhà người ta lên.


Một ngày tốt trời kia!... Lưu Sáng xây không biết bao nhiêu mộng đẹp, nhưng ngày nọ nối ngày kia, con số 94 vẫn không ra mà bản thân y, lúc này, đã “rách” quá mất rồi, không còn biết xoay xở vào đâu được nữa. Tất cả những chỗ có thể vay mượn đều bít ngõ vì đã ngót một năm nay, y vay không trả, và những đồ vật gì có thể cầm cố, bán thì cũng “cho đi ở nhà người ta” cả rồi.


Chính giữa lúc tâm hồn bị căng thẳng như thế, một đêm, y lại thấy con mèo chúa hiện ra, nhưng lần này, nó không đọc thơ chữ nữa nhưng lại kể cho Lưu Sáng nghe hai câu vè mà lúc tỉnh dậy y nhớ rõ ràng từng chữ:


Thông ngôn ký lục, bạc chục không màng


Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay


Không còn nghi ngờ gì nữa! Nằm mơ thấy mèo bự, đánh 94 ăn là cái chắc, mà mèo lại đọc hai câu thơ ấy, há chẳng phải là bảo cho y biết rằng thông ngôn, ký lục đều là đồ bỏ, bạc chục có nhằm gì, y sẽ có rất nhiều vàng bạc tiêu xài rả rích.


Thế là ngay hôm sau, xem còn đồ vật gì đáng giá định lấy đi đem bán nốt, nhưng bói cũng không ra thứ gì bán được tiền, y đập tay vào trán nghĩ xem còn có người nào vay mượn được nữa không thì nghĩ nhức cả đầu cũng không thấy còn ai hết. Y bèn nằm thẳng cẳng trên ghế bố như một anh chết rồi, quyết định liều một chuyến chót xem sao.


Y nhất quyết thực thi ý định. Không thế, không được vì trưa hôm sau, khóa sổ rồi. Ra tiệm uống vội ly “sây cái nại”, Lưu Sáng trở về, chắp tay từ ngoài cửa chắp tay vào, lạy ông chủ, bà chủ lúc ấy đang tính tiền nong với nhau ở ngoài sân. Y bẩm:


– Lạy ông chủ, bà chủ, lần này là lần chót. Con có một điều, xin ông chủ, bà chủ soi xét. Con làm với ông chủ bà chủ trên dưới hai mươi năm nay rồi, chưa bao giờ tỏ ra hỗn xược hay gian giảo. Ông chủ, bà chủ thương con, giữ tiền thay cho con để sau này con có cái vốn ra đời làm ăn con xin đội ơn vô cùng, nhưng hôm nay con biết chắc có cơ hội làm giàu, con xin ông chủ, bà chủ thương con...


Bà chủ nhìn Lưu Sáng, có vẻ không bằng lòng, nói với giọng gắt gỏng:


– Nị lại định vay tiền phải không?


– Dạ, vâng. Con mượn lần này là lần chót. Con xin ông chủ, bà chủ cho con mượn một tháng lương. Còn tiền của ông chủ, bà chủ giữ lại từ trước đến nay cho con, xin cứ giữ, con không dám đả động, hỏi han làm gì.


Ông chủ xen vào:


– Nị vừa nói muốn vay bao nhiêu?


– Dạ, vay trước một tháng lương.


Ông chủ cười ha hả:


– Bộ nị muốn giỡn sao? Nị cứ thử nói nị vay một đồng xem có được không đã, mà lại đòi vay một tháng lương? Nị không biết nị đã vay tôi tới bốn tháng lương rồi à? Ngộ nhất quyết rồi: nị vay thêm một cắc, ngộ cũng không có chịu đâu, chớ có nói nhiều mất công vô ích. Thôi, đi ra ngoải đi. Ngộ còn nhiều chuyện phải giải quyết. Đi khỏi ngay, còn đứng đó làm gì vậy?


*


Vi Kinh Trung nói tới đây mệt quá, xin phép ngồi xuống một cái ghế và xin một ly nước lạnh vì y khát quá. Thừa dịp đó, tòa nghỉ để đến chiều họp tiếp.


Hai giờ chiều, Kinh Trung khai tiếp như sau:


– Suốt một đêm hôm ấy, Lưu Sáng trằn trọc không ngủ được. Thế là tiêu tan hy vọng! Không còn cách gì xoay được tiền để biên đề! Y như một con chó bị nhốt ở trong cũi, y lồng lộn lên, chửi rủa bâng quơ một mình. Rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đến khi mở mắt dậy thì đã ba giờ chiều. Khóa sổ đề rồi. Thôi, đành chịu, chớ biết làm sao bây giờ?


Chán nản không để đâu cho hết, y ra ngồi ở cái quán cóc đầu đường, không làm việc mà cũng chẳng cần nói với ai. Y kêu một ly để uống cho tiêu cái sầu ghê gớm.


Vốn không biết uống rượu, y chưa hết ly đã thấy cảnh vật ở chung quanh lảo đảo, nghiêng bên này, nghiêng bên kia. Không cần. Say quá, chết cũng được đi. Chú Siu, cho ly nữa. Uống chưa hết ly này, cả người y nóng ran lên như đứng ở cạnh cái lò than. Giữa lúc đó, y nghe thấy như thực như mộng có người ở bên cạnh nói chuyện về đề. Cái gì ăn to lắm? Ra số nào vậy, hở anh em! Nói lại nghe!


Lưu Sáng tưởng chừng như có ai lấy một cái búa thật lớn đập vào giữa đỉnh đầu y một cái như trời giáng. Y muốn ngã lăn ra trên mặt đất. Y phải vịn vào một cái bàn ở gần đấy một giây lâu cho khỏi nhức đầu, chóng mặt. Các anh em nói thực đấy hay nói giỡn? Ra số 94 thật à?


Một người quắc mắt lên, nguýt Lưu Sáng:


– Bộ chú mày khùng hay sao? Tao nói xạo làm gì? Chú mày không biết tao mất ăn ba ngàn sáu đồng bạc chỉ vì đánh sai một chút. Thay vì số 94, tao lại đánh 14, thế có khốn nạn không?


Ôi thôi, thế là bao nhiêu công trình nuôi con số 94 đến giờ phút này thành ra công cốc! Nhẩm đi nhẩm lại thì từ khi dính vào đề, y đã mất bay sáu, bảy chục ngàn, mà riêng từ khi nuôi con số 94 cũng đã trên hai chục. Nhịn ăn, nhịn uống vì nó, mà chịu tủi nhục cũng vì nuôi nó! Bao nhiêu tiền dành dụm tiêu ma hết, lại mắc công mắc nợ, ấy thế mà nó không ra. Thế rồi đúng lúc mình không có tiền để biên thì nó lại ra, mà ăn to quá, ăn to quá đỗi, từ khi có đề có lẽ không có số nào mà lại ăn to đến thế!


Lưu Sáng cầm ly rượu, “vô” nốt nửa ly chưa cạn. Không quen uống rượu, mặc, y phải uống, uống chết thôi, chớ uất ức thế này để trong bụng, nó thành ung thành nhọt, không có cách gì chịu nổi. Mặt y đỏ khè. Tay y run như cái lá. Lưu Sáng muốn mắc một bịnh gì thực nguy hiểm để chết ngay khi ấy và chết liền tại chỗ. Nhưng rượu, nó cũng kỳ. Mới uống vào thì say, mệt, nhưng quá mức độ một tí thì người lại hăng lên. Hai thái dương Lưu Sáng đập thình thịch. Y cảm thấy ngực nở ra, tay chân cứng như sắt. Y muốn giết hết cả thiên hạ. Ờ, tất cả thiên hạ đều sung sướng, chỉ có mình y khổ. Không, không thể như thế được. Rượu thấm mỗi lúc một đậm hơn. Và đến lúc ấy y mới thấm thía là sở dĩ y khổ sở, điêu đứng, khốn nạn như thế, chỉ là vì chủ không cho vay tiền. Phải chi ổng cho mượn mười bốn, mười lăm đồng rồi y cộng lại với mấy đồng còn sót trong túi áo, có phải bây giờ y đã thành một tay cự phú rồi không?


Chính giữa lúc đang nhai khối căm thù như thế, Lưu Sáng thấy ở trên bàn quán cóc một con dao sáng loáng mà nhà hàng dùng để thái lỗ tai heo bán cho dân nhậu. Ờ ờ, đúng rồi! Tất cả đều do ông chủ bà chủ y rắn gan, rắn ruột không chịu cho y mượn tiền!


Mắt y bây giờ không đỏ khè nữa mà lại sáng quắc lên. Y cảm thấy mạnh quá, mạnh hết sức là mạnh, mạnh kiểu một chú sơn đông mãi võ. Lưu Sáng đứng dậy, cầm con dao lên nhìn một hồi lâu, lấy ngón tay thử xem mũi có nhọn không, lưỡi có bén không, rồi nhìn trước nhìn sau không thấy ai, bỏ vào trong vạt áo, lỉnh vào trong một cái hẻm ở gần đó, đi về nhà chủ.


Lúc ấy, cả nhà đương ăn cơm chung quanh một cái thôi lớn kê ở sau nhà, chỗ xuống sân ra vườn. Người làm công cùng ngồi ăn với chủ gồm cả thảy mười bốn người, còn mấy đứa trẻ thì mỗi đứa một cái chén và cái muỗng ngồi ăn trên mấy cái ghế đẩu ở gần chỗ bẻ nan đèn lồng.


Đẩy cái cửa sắt vào, thấy mọi người ngồi ăn vui vẻ đã tức, lại thấy họ ra vẻ coi mình “không ra gì”, không đếm xỉa đến nỗi tuyệt vọng của mình. Lưu Sáng phát điên lên, quay lại đóng cái cửa sắt lại cẩn thận rồi chửi đổng “hư hà má”. Bà chủ có vẻ bực, hỏi:


– Mày đi đâu về, a Sáng? Mà chửi ai vậy?


Lưu Sáng khoanh hai tay vào hông nhìn hết ông chủ đến bà chủ rồi trả lời rất tự nhiên:


– Tao chửi tụi bay chứ còn chửi ai ở đây nữa?


Vì bằng trái đất nổ ngay lúc ấy, cả cõi đời này chìm sâu vào hư vô của cái ngày tận thế, ông chủ bà chủ cũng như các bọn đồng nghiệp của y đương ngồi đó cũng không thể ngạc nhiên hơn. Bộ tên này bị ma quỷ hay sao mà ăn nói kỳ cục hỗn xược vậy? Lớn, bé, trẻ, già trố cả mắt ra nhìn Sáng thì mới ngạc nhiên, kinh khủng, hơn thế lại diễn ra y như thể trong một phim hát bóng. Lưu Sáng giơ một ngón tay lên chửi thề, rồi la hét như một con heo bị người ta thọc tiết:


– Trần Kỳ Sương, lại đây, mày lại đây tao bảo.


Trần Kỳ Sương là tên ông chủ. Thấy Lưu gọi xách mé như vậy, song không đứng dậy. Bỡ ngỡ lạ thường vì không thể ngờ Lưu Sáng lại có thể hỗn láo như thế, ông đặt chén cơm xuống bàn hỏi:


– A Sáng muốn cái gì? Tao không nghe mày thôi, ngồi xuống sực phàm đi!


Lưu Sáng cười gằn, đứng nói một mình:


– À giỏi! Tao kêu mày không lại. Mày sẽ đền tội xứng đáng. Nhưng tao không muốn làm điều gì khuất tất, tao phải kể hết tội lỗi của mày trước khi mày nhắm mắt. Trần Kỳ Sương, mày đã biết tất cả tội lỗi của mày chưa? Đời tao khổ như thế này là tại vì mày hết. Tao lạy mày, tao van mày, mày rắn gan rắn ruột không chịu cho tao mượn trước một tháng lương. Bây giờ mày đã thấy rồi chứ? Đề xổ đúng số 94. Thế là tao mất ngót trăm ngàn một lúc. Mất như thế, chỉ vì mày, mày báo hại tao, mày là tiền oan nghiệp chướng của tao...


Mọi người thấy tình thế gay go, thái độ của Sáng mỗi lúc một thêm hung dữ, định đứng cả lên can thiệp thì nhanh như chớp, Lưu Sáng rút phắt con dao vừa mới đánh cắp ở quán cóc, nhảy vọt tới, chém đứt phăng đầu ông chủ. Máu phun ra có vòi, xông lên một mùi tanh tưởi như bị ma quỷ ớp thịt, mà một phần hình như mất trí vì mùi máu xông ra – máu lại gọi máu – Lưu Sáng quay con dao chém luôn nhiều nhát vào đầu bà chủ – và chém như điên.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info







[1]    Ý nói người Việt gốc Hoa (BT).




[2]    Singapore.




[3]    Mai Thị Lựu.




[4]    Lê Lợi.




[5]    Đồng Khởi.




[6]    Hai Bà Trưng.




[7]    Các chú: chỉ những người Hoa (Minh Hương) sống ở nam bộ từ thời các Chúa Nguyễn. Trước năm 1975, trong dân gian vẫn gọi “các chú”. Nay gọi là “người Việt gốc Hoa”. (BT)



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Ba sao giữa Giời - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam 10.08.2017
Người vác tù và - Triệu Văn Đồi 03.08.2017
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
xem thêm »